Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Năm Chuột Nói Chuyện Cá

22/01/202011:02:00(Xem: 1397)

blank


Thuyền nhân, cái danh từ có một âm tượng mà mỗi khi chính quyền Hà Nội nghe đến nó thì họ nghĩ ngay đến từ đồng ‘đô la’. Thế nhưng cho đến bao giờ người ta mới biết hết được những bất hạnh xẩy ra cho danh từ đó.

Michelle Tauriac (Viet Nam Le Dossier Noir Du Communism)


Trước hết, để tránh mọi ngộ nhận, xin nói ngay rằng đây là chuyện của cá hồi, và chỉ riêng có cá hồi mà thôi. Nói theo tiếng Mỹ là cá hồi
only. Chớ còn cá chim, cá chuồn, cá chép, cá chốt, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá mập, cá mú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá lìm kìm, cá lia thia, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống – bất kể là bống kèo, bống dừa, hay bống đá – hoặc bất cứ một loại cá thổ tả nào khác đều hoàn toàn (và tuyệt đối) không có dính dáng gì tới vụ này.

Cá hồi sinh ở sông nhưng sống phần lớn thời gian sống ở biển. Đặc điểm của loài cá này là dù có rong chơi phiêu du ở chân trời góc biển nào chăng nữa, thế nào cũng tìm về nơi chôn nhau cắt rốn để sinh nở. Cá hồi Thái Bình Dương (Pacific salmon), sau khi từ giã nếp sống hải hồ, sẽ không bao giờ trở lại biển cả nữa. Lý do giản dị chỉ vì chúng sẽ chết sau khi đẻ và cho thụ tinh lứa trứng đầu tiên.

Cá hồi Đại Tây Dương (Atlantic salmon) thì khác. Chúng có thể đi đi về về từ sông ra biển và ngược lại nhiều lần mà không hề do dự hay nao núng, dù khoảng cách phải vượt qua có thể dài đến hàng ngàn dặm, với vô số khó khăn và chướng ngại.

Bản năng về nguồn của cá hồi, tất nhiên, đã được loài người ghi nhận và khai thác từ lâu. Riêng người Nhật, dân tộc đứng thứ nhì về kỹ nghệ cá hồi, vẫn đều đặn sản xuất ra thị trường mỗi năm cỡ một trăm ba mươi ngàn tấn.

Xét về số lượng, mức sản xuất của người Nhật không hơn người Nga bao nhiêu và thua xa người Mỹ. Tuy nhiên, cách thức mà dân Nhật bắt cá hồi mới là điều cần cần phải được lưu tâm và học hỏi.

Họ thiết lập nhà máy đóng hộp cá hồi ngay ở ven sông. Cũng chính nơi đây cá được nuôi nấng, đẻ trứng, thụ tinh để mỗi cặp sẽ cho từ hai đến mười ngàn chú cá hồi con ra đời. Sau đó, chúng sẽ được cho phiêu lưu vào đại dương, để bắt đầu cuộc đời… tha phương cầu thực.

Tùy theo từng loại, cá hồi sẽ sống ở biển từ sáu tháng đến năm năm. Nhờ vào khả năng “cảm” được từ trường của lòng đất và sự chuyển động của hải lưu, nó sẽ tìm được về chốn cũ. Khi vào gần đến bờ, giác quan đặc biệt của loài cá này giúp chúng nhớ được đúng hương vị quê nhà – tức sông xưa bến cũ –  và cứ theo đó mà lần về nguồn cội, đến tận nơi sinh nở.

Người ta đặt sẵn nhiều dụng cụ từ cửa sông để giúp cho cá hồi dễ dàng và mau chóng vào đến nhà máy. Tại đây, họ sẽ tạo ra một loại chướng ngại vật giả khiến chúng phải phóng lên cao và khi rơi xuống thì rớt ngay vào một mạng lưới. Mạng lưới này chuyển động không ngừng, qua nhiều khâu chế biến, để đưa cá từ sông vào… hộp!

Nói tóm lại là người Nhật thả cá hồi con ra biển, theo kiểu đem con bỏ chợ, để biển cả nuôi nấng. Rồi khi chúng theo bản năng trở về, họ dụ cho cá vào nhà máy để đóng hộp và mang bán.

Cách họ kiếm tiền ngó bộ dễ và (chắc) là nhiều. Bởi vậy, có kẻ bắt chiếc. Nhà Nước CHXHCNVN cũng học theo cách làm ăn không vốn gần như vậy. Chỉ khác có chút xíu xiu là họ dùng người để kinh doanh, thay cá.

blank


Từ năm 1978 cho đế năm 1990, bằng hình thức này hay hình thức khác, Việt Cộng đã “thả” ít nhất là hai triệu người dân ra biển. Người ta ước tính rằng trên bước đường lưu lạc cứ ba con cá hồi rời bến sông ra đi thì ít nhất cũng có một con bỏ mạng. Nó trở thành mồi săn cho loài người, cho loài chim, hoặc những loài cá khác. Tương tự, trong số hai triệu người Việt phiêu lưu vào biển cả – tối thiểu – cũng phải một phần ba đã vong mạng.

Họ chết vì bão tố, vì hải tặc, hay vì bị xô đuổi một cách lạnh lùng tàn nhẫn tại bến bờ của những quốc gia lân cận. Nơi đây thuyền bè của họ thường bị lôi kéo trở ngược ra khơi. Họ sẽ lênh đênh giữa trời nước bao la cho đến chết vì không còn tìm được nơi để đến, và cũng không còn đủ lương thực (cũng như nhiên liệu) để tiếp tục đi.

Những kẻ may mắn thoát nạn đều sẽ biến thành cá hồi (theo tinh thần của Nghị quyết 36) của nhà đương cuộc Hà Nội. Đám dân trôi sông lạc chợ này sẽ bị tận tình khai thác, và khai thác dài dài, cho đến khi tắt thở, bằng nhiều cách.

Nếu cá hồi Thái Bình Dương chỉ hồi hương một lần rồi chết thì những thuyền nhân rời khỏi Việt Nam sau ngày 19 tháng 6 năm 1988 – đã có thời gian dài sống tạm trú ở những quốc gia Đông Nam Á – cũng mang số phận y như  vậy. Họ bị cưỡng bách hồi hương và không bao giờ còn có dịp ra đi nữa. Riêng với những thuyền nhân ở Hồng Kông (khi phần đất này còn thuộc Anh) Anh Quốc đã thoả thuận trả sáu trăm hai chục Mỹ kim mỗi đầu nguời để Hà Nội chịu nhận họ trở về, cùng với lời hứa hẹn là họ sẽ không bị hành hạ hay ngược đãi!

Số người Việt may mắn hơn, hiện đang phiêu bạt tứ tán khắp bốn phương trời, có thể được coi như là cá hồi Đại Tây Dương – giống cá có khả năng đi đi về về nhiều lần từ sông ra biển và ngược lại. Những kẻ này vẫn tiếp tục kiếp sống tha phương cầu thực, chăm chỉ cặm cụi kiếm và để dành tiền, rồi hàng năm làm đơn “xin phép” được hồi hương. Mỗi Việt kiều về thăm quê nhà chắc chắn đều chi trải một số tiền không phải chỉ là sáu trăm Mỹ kim mà có thể là đến sáu ngàn đô la, hay nhiều hơn nữa.

VOV vừa hớn hở loan tin: “Kiều hối về Việt Nam năm 2019 ước đạt 16,7 tỉ USD, tăng 800 triệu USD so với năm 2018.” 

Hà Nội có lý do để hãnh diện về thành quả này – thành quả kinh tế duy nhất (thực sự)  vượt chỉ tiêu – về kỹ nghệ xuất và nhập cảng người, sau hơn nửa thế kỷ mà họ đã nắm được quyền bính ở Việt Nam. Họ đẩy ra khỏi nước những con nguời cùng quẫn và sôi sục bất mãn, rồi “thu về” những Việt kiều yêu nuớc và giàu sang. Thiệt khoẻ!

 

Ý kiến bạn đọc
25/01/202003:52:25
Khách
Cảm ơn anh Tiến đã giúp tôi hiểu được là có 2 loại cá hồi. Xưa giờ tôi nghĩ chỉ có cá hồi là loại cá quá ư đặc biệt. Sinh ra, lớn lên phiêu bạt giang hồ. Rồi gần đến ngày chung cuộc thì bằng mọi cách sẽ lần tìm về quê cha đất tổ để gửi nắm xương tàn. Tôi vẫn ví họ như những người Do Thái, phiêu bạt từ gầm trời này đến cuối trời kia, lòng hoài cố hương không bao giờ nguôi dứt. Có phải họ ước mơ được trở về nguồn cội dẫu rằng họ chưa bao giờ được sinh ra, lớn lên, biết xứ sở, đất đai của ông cha họ? Từng đoàn người Do Thái vẫn âm thầm, lặng lẽ cùng nhau trở về đất thánh, nơi đang có bom nổ đạn bay. Nghe có vẽ nghịch lý nhưng đối với họ, đó là nơi hòa bình, đó là nơi bình an, đó là nơi họ cảm nhận được sự che chở trong bàn tay của Thượng Đế. Tôi hết sức khâm phục tinh thần yêu nước của dân tộc Do Thái, anh ạ!
Rồi nghĩ đến đồng bào Việt Nam của chúng ta, những người tỵ nạn chính trị từ năm 1975, bây giờ lại lần mò về quê mẹ, với rất nhiều lý do, anh đã biết rồi. Tôi suy nghĩ rất nhiều về các ca, nghệ sĩ, và những người có tiếng nói, có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng người Việt. Tôi cũng có đọc những bài viết về đời sống nghệ sĩ ở hải ngoại và khi trở về nhà thì họ kiếm sống ra sao. Cuối cùng thì cũng vì miếng cơm manh áo! Cuối cùng thì sức mạnh của những đồng đô! Người đủ ăn, mặc đủ mà còn vậy thì nói gì những người thiếu trước hụt sau tại quê nhà, kỳ vọng chỉ 1 triệu người Việt tổng đình công, cùng nhau đứng lên chỉ trong một tuần, tụi Tàu cộng sẽ không dám ngang nhiên làm mưa làm gió tại Việt nam, chính quyền Việt cộng phải quay trở lại với dân để cứu thân.
Ngày đó sẽ đến, phải không anh? Tôi vẫn cầu nguyện...
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Theo phần mở đầu Bản Nội Quy, Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Victoria đã được hình thành vào những năm cuối của thập niên 1970, nhưng Bản Nội Quy không cho biết ngày thành lập.
Từ khi dịch bệnh Corona bùng phát đến nay có nhiều nhà bình luận về tình hình chính trị của ĐCSTQ có thể sụp đổ và chế độ CS không còn đứng vững ở Trung Quốc.
Người Nhật Bản nói: “Một lời tử tế có thể làm ấm lòng suốt cả mùa Đông – One kind word can warm three winter months.” Nghe xong, tôi (trộm) nghĩ thêm rằng: “Một hành động tử tế còn có thể làm ấm lòng người suốt cả cuộc đời!”
Sau 41 năm thắng Trung Cộng xâm lược, Việt Nam đã học được gì với hậu qủa của 10 năm đẫm máu và tàn bạo (1979-1989) của cuộc chiến này? Không nhiều. Việt Nam Cộng sản vẫn chịu nhục để tồn tại bên cạnh những người phương Bắc mà họ gọi là “vừa là đồng chí vừa là anh em”.
Để miêu tả sự phụ thuộc của Việt Nam vào nền kinh tế Trung Quốc, các nhà quan sát về tình trạng kinh tế của 2 quốc gia này, họ thường ví von: “Bắc Kinh đổ mưa-Hà Nội giăng ô”.
Đây là một đề tài vô cùng nhạy cảm, tế nhị thuộc vào loại cấm kỵ hàng đầu trong các vấn đề cấm kỵ tabou. Đó là vấn đề vợ bạo hành chồng hay “gà mái đá gà cồ”.
Trước khi tiếp tục bàn về chính sách kinh tế tưởng cũng nên tìm hiểu giữa cái nghèo ở Việt Nam và ở Mỹ khác nhau như thế nào?
Diễn văn của Tổng thống (TT) Đức Frank-Walter Steinmeier ngày 13. 2. 2020 tại Dresden Kỉ niệm 75 năm ngày ném bom Dresden vào ngày 13 tháng 2 năm 1945 - Bài phát biểu tại Cung Văn hóa
Xoay quanh Hiệp định thương mại tự do EU - Việt Nam EVFTA, tôi thấy rất nhiều nhà trí thức cấp tiến, luật sư, tiến sĩ, nhà đấu tranh dân chủ tỏ ra vui mừng và “tràn đầy hy vọng” khi Hiệp định này được EU bỏ phiếu thông qua hôm 12/2 vừa rồi.
Đối với những kẻ “xảo trá với lịch sử, vô ơn với chiến sĩ” thì không có tư cách gì để đại diện cho dân tộc Việt Nam. Họ không được mời tham dự Lễ Kỷ Niệm Một Trăm Năm Kết Thúc Thế Chiến Thứ Nhất, theo tôi, là chuyện chả có gì đáng để phàn nàn cả.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
XEM NHIỀU
(Xem: 50368)
Rất nhiều khách trở lại tiệm làm móng tay, than phiền vì móng bị tróc, hở , thường gọi là lift.
(Xem: 44138)
Đây là kinh nghiệm đi thi của một thí sinh thi đậu về kể lại. Xin chia xẻ với quí bạn.
(Xem: 38469)
Hội đồng Thẩm mỹ (HĐTM) sẽ gởi thơ báo trong thời gian hai tháng rưỡi
(Xem: 34415)
Chào quí anh chị trang Thẩm mỹ, Cho em hỏi là vợ em có bằng thẩm mỹ ở tiểu bang Florida, chuyển qua Michigan. Ở trên nầy họ bắt phải thi lại