Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Ảnh hưởng của thời thế trong thơ Vũ Hoàng Chương

03/12/201907:04:00(Xem: 1210)

Ảnh hưởng của thời thế trong thơ Vũ Hoàng Chương

T
rần Từ Mai

 
 Thi sĩ Vũ Hoàng Chương mở đầu tập thơ Rừng Phong (Sàigòn : nxb Phạm Văn Tươi, 1954) bằng bài “Nguyện cầu.” Trong bài ấy, ông đã viết:
        Ta van cát bụi trên đường
        Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này
        Để ta tròn một kiếp say
        Cao xanh liều một cánh tay níu trời.

blankPhoto by Lê Văn Tư 
  
Tới đây, trong bản in đầu tiên của Rừng Phong, ông viết:
        Nói chi thua được với đời
        Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu …
Sáu năm sau, khi lại in bài ấy vào thi tập Cảm Thông (Sàigòn, 1960), ông đổi lại hai câu:
        Để ta tròn một kiếp say
        Cao xanh liều một cánh tay níu trời
        Thơ ta chẳng viết cho đời
        Không vang nhịp khóc dây cười nào đâu.
        Tâm hương đốt nén linh sầu
        Nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi…
Thi sĩ như muốn nói, thơ của ông không phải là những tiếng cười nhịp khóc viết cho thế gian (không phải loại thơ “thương vay khóc mướn”), mà chỉ là nén tâm hương của một người “nhớ Quê” đốt lên để cầu nguyện.
Trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Sàigòn : Nam Chi Tùng Thư, 1970), họa sĩ Tạ Tỵ, một người bạn văn nghệ chí thân của thi sĩ Vũ Hoàng Chương từ năm 1943, một người tự thú là mê thơ VHC đến độ “thuộc hết tập Mây lúc nào không hay,” gọi thơ Vũ Hoàng Chương là “tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc.”
Khởi từ mối tình đầu tan vỡ:
        Yêu sai lỡ để mang sầu trọn kiếp
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đau buồn trong nhiều năm, rồi nhìn ra một xã hội với nhiều điểm yếu kém trong một đất nước đang bị đô hộ, ông có thái độ bi quan:
        Ôi lòng ta sao buồn không nguôi
        Niềm u uất dâng cao hề tháng ngày trôi xuôi
        Há vì cơm áo chẳng no lành
        Há vì đời không ai mắt xanh
        Nhớ thuở xưa chưa có ta hề đường đi thênh thênh
        Kịp tới khi có ta hề chông gai mông mênh…
                        (“Túy hậu cuồng ngâm”—Mây)
       
Ông băn khoăn về ý nghĩa của cuộc đời:
        Trải mấy hoang mang tìm kiếm
        Lòng sao khát mãi chưa vừa
        Đôi lẽ Có Không màu nhiệm
        Đêm đêm ta hỏi người xưa.
        Đuốc kim cổ, đây lòng ta thành kính
        Hội trầm luân cùng ý thức Huyền Vi
        Mà sáu nẻo hôn mê còn chửa định
        Ta về đâu? Kìa Ngươi đến làm chi?
        Phải chăng muôn kiếp nặng nề
        Từ Hư Không tới, lại về Không Hư
        Lẽ nào mộng cả thôi ư?
        Người ơi! giọt bể chứa dư tang điền.
                        (“Bài ca siêu thoát”—Rừng Phong)
Ông từng mơ một lối sống thoát tục:
        Nhổ neo rồi thuyền ơi xin mặc sóng
        Xô về Đông hay giạt tới phương Đoài
        Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng
        Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi
        Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh
Bể vô tận xá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền, theo gió hãy lênh đênh.
        Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền, xin ghé bến hoang sơ …
                        (“Phương xa”—Thơ Say)
Trong “Đào hoa nguyên ký” (bài ghi chép về chuyện “Nguồn hoa đào”), nhà văn Đào Tiềm (365-427) đời Đông Tấn kể lại rằng: Trong niên hiệu Thái Nguyên của vua Hiếu Vũ đế (376-396), có một người đánh cá ở Vũ Lăng (nay là tên một quận của tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa) đi ngược theo dòng khe khá xa, bỗng gặp một rừng hoa đào rất đẹp mọc sát bờ. Người ấy cho thuyền tiến thêm thì thấy hết rừng đào là một ngọn núi. Núi có hang nhỏ, mờ mờ như có ánh sáng. Người ấy bèn rời thuyền, theo cửa hang tiến vào. Lúc đầu hang rất hẹp, nhưng sau mở rộng ra, sáng sủa. Vào sâu bên trong thấy có nhà cửa tề chỉnh, dân cư sống vui vẻ. Hỏi ra mới biết tổ tiên của những người ấy trốn loạn đời Tần, đưa vợ con, thân quyến tìm tới nơi hiểm trở xa xăm này, rồi không muốn trở ra nữa. Họ “không biết là có đời Hán, nói chi đến đời Ngụy, đời Tấn.”Người đánh cá được cư dân trong động mời về nhà chơi, vui vẻ thết đãi suốt mấy ngày. Khi từ biệt ra về, có người căn dặn, “Đừng kể cho người ngoài hay làm gì.” Sau khi về, người ấy đến quận trình với quan Thái thú. Quan cho lệnh trở lại để tìm nhưng dấu vết đã mờ, không nhận ra đường cũ nữa.
Trong bài “Đào nguyên lạc lối” (Mây, từ trang 75), thi sĩ Vũ Hoàng Chương tóm lược lại câu chuyện ấy:
        Ven giải Đào nguyên buộc thuyền cửa động
        Dấn bước xem trời mở cuối hang sâu
        Ôi thời gian sông núi vẫn tươi màu
        Thuở Tần loạn xưa kia tìm trốn tránh
        Dắt díu nhau lạc vào nơi tuyệt cảnh
        Mươi lăm nhà riêng chiếm một Thiên thai
        Nỗi hưng vong chi xá việc bên ngoài.
Ông ao ước tới được chốn đó:
        Ôi lòng ta khao khát tới Đào nguyên.
Nhưng trên thực tế, Vũ Hoàng Chương đã không trốn được cuộc đời và việc đời. Thơ của ông vẫn bị thời thế chi phối một cách rõ nét. Vốn giàu tình cảm, thi sĩ Vũ Hoàng Chương luôn luôn tha thiết với người và với đời.
TỪ KHI CÒN TRẺ TỚI NĂM 1945 (khi Vũ Hoàng Chương được 30 tuổi)
Vũ Hoàng Chương cho biết ông sáng tác bài “Trả ta sông núi” (năm 1944, khi ông 29 tuổi) là do lời yêu cầu của Thế Lữ, người đang điều khiển ban kịch Anh Vũ và cần một bài khai từ cho vở kịch “Nguyễn Thái Học” sắp được trình diễn. Tuy nhiên, sự việc ông – ngay sau khi được yêu cầu -- phấn khởi thức suốt đêm, “sáng lúc nào không hay,” để hoàn tất một bài trường thi dài 120 câu với nhiều đoạn thật hứng khởi, đầy cảm động về những gương tranh đấu trong lịch sử dân tộc, cho ta thấy ông vẫn quan tâm đến đất nước, sẵn sàng góp tiếng nói trong việc tranh đấu cho nước nhà thoát cảnh bị đô hộ:
        Cửa HàmTử vắng teo vết Cáo,
Bến ChươngDương cướp giáo quân thù.
Trận Đà Mạc dẫu rằng thua,
Làm Nam quỷ, chẳng làm vua Bắc đình.
Chém kiêu tướng đồn binh TâyKết,
Triều Phú Lương gầm thét giang tân
"Phá cường địch báo hoàng ân"
Trẻ thơ giòng máu họ Trần cũng sôi.
Kìa trận đánh bèo trôi sóng dập,
Sông BạchĐằng thây lấp xương khô
Những ai qua lại bây giờ,
Nghe hơi gió thoảng còn ngờ quân reo.
hay:
       
Chống ngoại địch gươm mài quyết chiến,
Voi QuangTrung thẳng tiến kinh kỳ;
Phá Thanh binh trận Thanh Trì,
Sông Hồng khoảnh khắc lâm ly máu hồng.
Núi rậy sấm cho Sông lòe chớp,
Cờ TâySơn bay rợp BắcHà
Xác thù xây ngất Đống Đa
 Bụi trường chinh hãy còn pha chiến bào.
Tinh thần độc lập nêu cao,
Sài lang kia, Núi Sông nào của ngươi?
Ông kết thúc bản trường thi bằng một lời kêu gọi:
Ôi! Việt sử là tranh đấu sử
Trước đến sau cầm cự nào ngơi
Tinh thần cách mạng sáng ngời
Bao người ngã, lại bao người đứng lên.
Ngày nay muốn Sông bền Núi vững
Phải làm sao cho xứng người xưa
Yêu nòi giống hiểu thời cơ
Bốn phương một ý phụng thờ Giang sơn
Đùng lo yếu, hãy chung hờn
Cần câu đánh giặc từng hơn giáo dài.
Chúng ta có thể nói: thi sĩ Vũ Hoàng Chương vẫn luôn luôn quan tâm đến đất nước.
 
GIAI ĐOẠN 1945-1949
Các tài liệu về Vũ Hoàng Chương đều cho biết là trong giai đoạn này ông có tập Thơ Lửa, cùng làm với Đoàn Văn Cừ, gồm những bài thơ đề cao cuộc kháng chiến chống Pháp, do Cơ quan Kháng chiến Liên khu III xuất bản, được in ở Thái Nguyên năm 1948.
Tập thơ này hiện vẫn chưa tìm ra. Chúng tôi mới sưu tầm được hai bài...
 
Xin mời xem tiếp:  http://tranhuybich.blogspot.com/
  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Năm ta chưa tàn, năm tây đã đến, 2020, năm nay Việt Nam thực sự đã bước vào chương trình Hán Hóa. Kể từ nay, Việt Nam xưa thân yêu, quen thuộc của chúng ta sẽ chỉ còn là những hình ảnh hoài niệm …
Do sự xuất hiện của Việt Minh, đúng hơn, Đảng Cộng Sản Việt Nam, do đảng này cướp chính quyền ngày 19/8/1945, do sự phức tạp của thời thế và sự nóng nảy muốn giành độc lập nhất thời của một số người Việt, lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đã không những không biến chuyển như mọi người mong muốn mà còn đầy rẫy những ngộ nhận, từ đó những oan khuất cần phải được giải toả và làm sáng tỏ.
Theo Reuters, vào hôm thứ Năm, ngày 9-1-2020, cuộc họp báo tại Washington, tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết vào ngày 3-1-2020, ông ra lệnh máy bay không người lái không kích vào chiếc xe chở tướng Qassem Soleimani tại sân bay quốc tế Baghdad ở Iraq đã tiêu diệt tướng Soleimani là người chỉ huy đội đặc nhiệm Quds của Iran. Vì lẽ “họ muốn hủy diệt Đại sứ quán của chúng ta”.
2019 - 1975: 44 năm, chưa tới nửa thế kỷ, khoảng thời gian tuy không dài lắm nhưng vẫn đủ để Hà Nội bắt kịp Sài Gòn. Thêm năm mươi năm nữa, đến cuối thế kỷ này, không ai có thể đoán được rồi cả nước sẽ “rót” về đâu – kể cả đồng chí TBT. Riêng tôi, đêm nay, chắc phải “rót” thêm rất nhiều chén nữa.
Nhiều nước trên thế giới, cả mươi nước có, lớn nhỏ đủ hết. Nhỏ chỉ có năm ba chục ngàn dân, lớn, giàu có với hơn ba trăm triệu dân như Huê kỳ, đều lần lược tổ chức bầu cử trong năm nay nên năm 2020 có thể nói là đồng nghĩa với "Năm của bầu cử".
Bộ Công an Cộng sản Việt Nam đã hiện nguyên hình bản chất dã man, tàn bạo và điêu ngoa của chế độ trong cuộc tấn công vào làng Hoành khoảng 4 giờ sáng ngày 9/01/2020,để thảm sát Cụ Lê Đình Kình, 84 tuổi, lãnh đạo chống bạo lực và cướp đất của dân ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Hành động giết người cướp của diễn ra vào dịp Đảng sinh nhật 90 tuổi (02/3/1930 - 02/03/2020) là vết nhơ sẽ bám theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cho đến cuối đời ông.
Sau biến động Mường Nhé – xẩy ra hồi năm 2011, ở Điện Biên – hàng trăm người H’mông bị sát hại, hàng ngàn người khác bị bắt giữ, số còn lại thì không ít kẻ đã hốt hoảng rời bỏ bản làng đi tìm đường lánh nạn. Bốn năm sau, năm 2015, tôi tình cờ gặp được vài chục người di tản (buồn) này gần khu chợ Saphan Mai – thuộc Bang Khen – ngoại ô Bangkok.
Câu hỏi và vấn đề này (“Trung cộng ăn cắp kỹ thuật?”) đọc và xem thấy hàng ngày trên truyền thông các nước có khả năng sản xuất hàng hóa tên tuổi trên toàn cầu; và cũng được bàn cãi rất nhiều.
“Tôi cứ tưởng ông già Ba Tri là chỉ những vị nổi tiếng của quê tôi như Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Phan văn Trị nhưng ông nội tôi bảo sự tích này có từ thời Minh Mạng: Ông Trần văn Hạc, Hương cả của làng An Hòa Tây cho đắp con đập ngăn vàm rạch làm tắc nghẽn đường ghe chở hàng hóa vào chợ Ba Tri.
Tuy nhiên cũng khó so sánh vụ Iran với Việt Nam vì quyền lợi của Mỹ ở hai khu vực rất khác biệt: Đông Nam Á là cơ bắp trong dây chuyền thương mại toàn cầu nhưng Trung Đông vẫn là mạch máu dầu hỏa cho kinh tế thế giới.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
XEM NHIỀU
(Xem: 6011)
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
(Xem: 5082)
Lời tòa soạn: Gần đây, nhiều ý kiến, tranh cãi gay gắt về vai trò và công trạng sáng lập chữ quốc ngữ, đặc biệt xung quanh nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha Alexandre de Rhodes. Việt Báo xin trích đăng lại bài viết của tác giả Mai Kim Ngọc trong mục VVNM năm 2013, bài viết là một tham khảo kỹ lưỡng về chữ quốc ngữ và vai trò của Alexandre de Rhodes, và tác giả đề cập đến sự “vô phép” trong Phép Giảng Ngày khi người tu sĩ Đắc Lộ này nói về Tam Giáo của nước chủ nhà.
(Xem: 4848)
WASHINGTON (VB) -- Sở Hàng Không Liên Bang (FAA) nói rằng ngành hàng không rất là may mắn vì suýt nữa là có thể rớt thêm 15 chuyến bay trên phi cơ Boeing 737 MAX.
(Xem: 4384)
Mỹ đánh thuế lên thép nhập cảng từ Việt Nam lên tới 456% đối với các sản phẩm thép mà VN sử dụng nguyên vật liệu được nhập cảng từ Nam Hàn và Đài Loan, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho biết hôm 17 tháng 12. Bản tin VOA cho biết thêm thông tin như sau.
(Xem: 3589)
Một viên chức tại một thành phố vùng Vịnh San Francisco Bay Area đưa ra độc chiêu để xóa sổ nạn vô gia cư: một tàu du thuyền khổng lồ có thể chứa tới 1,000 người vô gia cư, trong thời kỳ này giữa lúc chi phí đời sống tăng vọt đắt đỏ và nhà cửa không có đủ.