Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Bài Học Từ Người Thi Sĩ Cô Đơn Nguyễn Chí Thiện

05/10/201920:46:00(Xem: 2464)
Bài Học Từ Người Thi Sĩ Cô Đơn Nguyễn Chí Thiện
 
Nguyễn Văn Sâm

 

(Bài đọc trong buổi lễ truy điệu nhà thơ Nguyễn Chí Thiện ngày Thứ Bảy 10 tháng 11 năm 2012 tại chùa Bát Nhã, Orange County, CA. )

 

blank
Sau khi một người nào đó từ giã cõi trần thì thân nhân đến chùa tổ chức lễ cầu siêu cho hương linh người quá vãng được lên cõi Tịnh Độ. Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện ở vào trường hợp đặc biệt: Ông không có thân nhân ở cạnh và nhứt là ông là một thi sĩ có tâm hồn cương dũng, đã đóng góp tích cực cho tiếng nói chống lại bạo quyền nên chùa Bát Nhã có buổi lễ cầu siêu nầy.

 

Đây là việc làm hơi mới một chút nhưng là điều mới rất đáng quí, thể hiện lòng từ bi của người theo Phật đạo và thể hiện sự kính trọng một thi sĩ có công với thơ văn và với tư tưởng tranh đấu kiên cường chống lại cường quyền áp bức người dân trong nước.

 

Tôi không được hân hạnh quen thân với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và tôi vẫn lấy làm tiếc về điều đó. Chỉ là biết gặp nhau trong vài ba lần ở những buổi sinh hoạt có tính cách văn hóa mà thôi, chẳng hạn như lễ mừng sinh nhật 100 năm của Giáo Sư Nguyễn Khắc Kham ở San Jose năm 2007 hay lễ Ra Mắt Sách tác phẩm Nhân Văn Giai Phẩm của Thuỵ Khuê ở Quận Cam gần đây, hay qua một buổi mời ăn của một người bạn quen biết cả hai đàng.

Tôi thích sự nhỏ nhẹ của thi sĩ, sự nhỏ nhẹ gần như là rụt rè. Cặp mắt và cử chỉ như muốn nói với ta điều gì đó, rồi lại thôi, như là ông cân đo sự thân tình của hai đàng đạt chưa đến mức độ có thể thố lộ điều sâu ẩn trong đáy lòng. Tuy nhiên trong những lần nói chuyện ngoài những câu sơ giao mưa nắng trời trăng tôi được biết thêm đôi điều về ông.

 

Trước đây tôi chỉ biết qua tác phẩm rằng ông là một người có dũng khí, dám công khai bày tỏ lòng yêu nước bất chấp tù đày và cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. Tôi muốn nhắc đến nội dung tập thơ Tiếng Vọng Từ Đáy Vực nổi tiếng của ông.Tuy rằng chuyện ông là tác giả của tập thơ nầy còn nhiều khúc mắc khi có nhiều người phủ nhận nhưng phải công tâm mà nói chưa ai đưa ra được lý chứng đủ thuyết phục. Chỉ là những giả thuyết và rất nhiều suy luận gián tiếp không dựa trên khoa học. Trong văn học Việt Nam những giả thuyết không công nhận tác giả đã có quá nhiều: Bài thơ Khóc Thị Bằng đầy nước mắt đập cỗ kính ra tìm thấy bóng, xếp tàn y lại để dành hơi của vua Tự Đức hay của Thượng Tân Thị? Bản dịch Chinh Phụ Ngâm thiên cổ kỳ bút Trống Trường Thành long lay ánh nguyệt, khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây là của Đoàn Thị Điểm hay của một người nào khác như sự cho biết của Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn? Bài Văn Tế Trận Vong Tướng Sĩ buổi chinh chiến hoặc là oan hay chẳng, cũng chớ nề kẻ trước người sau làm rơi lệ biết bao thế hệ con người sau cuộc chiến tương tàn Nguyễn Ánh - Tây Sơn có phải là của Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành hay của một nho sĩ dưới trướng chấp bút giùm chủ tướng như ta thấy từ kim cổ, qua Đông Tây. Gần đây hơn những bài thơ tục của Hồ Xuân Hương phải chăng chỉ có một phần nhỏ là của người con gái đầy tình cảm tác giả tập thơ ướt át tình yêu là Lưu Hương Ký?

 

Không thể nào tìm ra manh mối được. Thôi dành bỏ qua vấn đề nghi vấn, công nhận theo truyền thống, áp dụng nguyên lý của luật pháp: Khi còn nghi ngờ chưa có bằng cớ cụ thể thì phải coi như nghi can vô tội. Tôi chấp nhận tập thơ giá trị tư tưởng nhưng mang nghi vấn về tác giả là của ông, của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và tôi quí cái hào hùng mà tác giả đã phả vào tập thơ.

 

Tôi trọng tấm chân tình của ông dành cho quê hương, cái lập trường kiên định của ông trong cuộc chiến chống cái xấu, chống cái ác của chế độ đàn áp con người, chế độ không chấp nhận tiếng nói ôn hòa của đối lập, của phê phán, góp ý.

 

Ra đến hải ngoại, trước áp lực của cuộc sống thực tế khi tuổi đời quá cao ông không còn bương chải bán buôn làm ăn gì được, sức khỏe sút kém do hậu quả của tù đày trong quá khứ, với những lời ra tiếng vào của những nghi kỵ ông rút mình trong cô đơn và bóng tối. Tôi thường thấy ông thẩn thờ với những đối đáp ngắt khoảng như thả tâm trí mình chìm trong suy tư bất tận. Có lần ông than thở với tôi: “Đời sống chán quá. Chỉ muốn chết đi cho xong.”

 

Tôi nhìn con người trước mặt: cao lêu khêu, mặt xương xẩu, cương nghị, cái nón nỉ luôn luôn trên đầu mà nhớ đến những hào hùng xưa của ông.

 

Có một buổi chiều, sắp tối, gió thổi se se da, chúng tôi đứng sau lan can trên lầu Viện Việt Học, bỗng nhiên thi sĩ nói:

 

“Trời lành lạnh khiến nhớ không khí quê tôi quá đi mất. Nhớ không nguôi. Nhớ quay quắt. Ông biết không, ở vùng Orange nầy mà nhìn mưa lất phất, tuy không ra đường nhưng cũng cảm thấy những hạt mưa như muôn vàn ngọn roi nhỏ quất vào da thịt mình. Nhớ da diết thời trẻ ở quê nhà.”

 

Tôi hỏi:

 

“Anh có buồn vì những bất hạnh ngày xưa?”

 

Lâu lắm, chừng 5, 7 phút thi sĩ mới hỏi lại tôi:

 

“Ông Giáo Sư có đọc thơ của Tô Thùy Yên?”

 

Tôi bối rối. Đọc thì có đọc, nhưng biết người đối diện thích đoạn nào, câu nào trong vô số câu ý hay ho của tác giả Ta Về. Và tôi ngó ông, hỏi bằng ánh mắt.

 

Cũng lại lâu lắm, 5, 7 phút nữa, thi sĩ đọc nho nhỏ:

 

Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp,

Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu,

Mười năm mặt sạm soi khe nước,

Ta hóa thân thành vượn cổ sơ

(Ta Về- Tô Thùy Yên)

 

Tôi hiểu ý ông. Vĩnh biệt. Những chuyện đã qua nên quên, nên bỏ dầu thời gian đó ông bị người ta cho sống không ra con người. Quên, chưa chắc là chịu thua, cũng không có nghĩa là tha thứ cho bạo quyền, quên để nhẹ tâm một con người về già thấy mình cần trút bỏ những sân si hờn giận, những tình cảm không còn đáng cho mình phải đeo đẳng, bận bịu. Có lẽ trong tư tưởng nầy, vào những ngày cuối đời, ông đã ngỏ ý với Hòa Thượng rằng mình muốn qui y và xin được ban pháp danh…

 

Người nào làm trọn vai trò đời với tổ quốc mình khi sống thì lúc qui tiên cũng là lúc đi vào một chỗ nào đó trong bản giá trị của người đồng chủng. Nhà văn nhà thơ thiệt sự thì đi vào văn học sử. Ta chẳng có gì mà buồn cho họ, ta chỉ nên từ cuộc đời họ rút ra những bài học cho chính mình. Bài học của tôi từ nhà thơ Nguyễn Chí Thiện là kiên dũng với bạo quyền, coi nhẹ để tha thứ những chỉ trích tấn công của người cùng phía, chấp nhận sự thất bại của cuộc đời và quên đi những bất công mình từng gánh chịu để nhẹ tâm.

 

Có lẽ chính sự lựa chọn triết lý sống phức tạp nầy nên đến cuối đời, ông vẫn thấy mình vừa cô đơn vừa thanh thản. Nay, ở bên kia cõi u minh khói sương mờ mịt, tôi mong rằng ông thanh thản hơn lúc còn ở chốn ta bà dung thân tạm bợ này.

 

Hôm nay chúng ta làm lễ cầu siêu cho ông, để tỏ lòng thành quí mến đối với một thi sĩ đã làm trọn vai trò mình.

 

Trong tương lai tôi chắc rằng sẽ có nhiều cuộc cầu siêu như thế nầy cho những nhân vật đáng kính nễ khác của Việt Nam thuộc về những phương diện khác như chánh trị, văn chương, nghệ thuật, nhân quyền, dấn thân…. Công việc mà các hội đoàn gần đây thường làm. Sự kiện nầy tôi cho là tốt: Con đường đi của giới tu hành hải ngoại không thu hẹp lại trong các chùa chiền, tu viện mà nở bung ra với cộng đồng, thể hiện sự song đôi của Đạo-Đời.

 

Vĩnh biệt Nguyễn Chí Thiện, con người sanh ra lầm nơi, lầm thế kỷ…Vĩnh biệt anh người bạn sơ giao nhưng tôi kính mến, vĩnh biệt nhà thơ viết bằng máu của con tim can trường.

 

Nam Mô A Di Đà Phật.

Nguyễn Văn Sâm




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tôi yêu những nông dân thôn Hoành, tôi yêu những nông dân Dương Nội. Yêu cái hồn của đất – nơi con người đang phải đối mặt với phong ba bão táp; nơi con người bước trên nghịch cảnh bằng sự cao quý và khí phách của riêng mình. Tôi có một niềm tin vững chắc rằng lòng tử tế và sự dũng cảm của họ sẽ lan toả và lan rộng.
Từ Văn phòng Viện Tăng Thống, tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trong phận sự bảo trì ấn tín của Viện Tăng Thống, kế thừa tâm nguyện của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống qua phú chúc di ngôn của Ngài trước ngày thị tịch; chúng tôi trên nương tựa uy đức Tăng già và đạo lực gia trì của Chư tôn Trưởng lão, kính gởi đến Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng tọa, Đại đức Tăng-già nhị bộ, cùng tất cả bốn chúng đệ tử, tâm nguyện Bồ-đề được thể hiện qua các kỳ họp đã nêu, ước mong tất cả bằng Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, bằng đức lực, trí lực, và tài lực, với hằng tâm và hằng sản, đồng tâm nhất trí góp phần công đức vào sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh mà Chư Thánh Đệ tử, Lịch đại Tổ sư, bằng hùng lực và trí tuệ, bằng từ bi và nhẫn nhục, khoan dung, trải qua vô vàn gian nan chướng duyên trở ngại, đã mang ngọn đèn chánh pháp đến những nơi tăm tối, cho những ai có mắt để thấy, dựng dậy những gì đã sụp đổ, dựng đứng những gì đang nghiêng ngả.
Ngày Phật đản sanh là ngày vui, ngày thiêng liêng và trọng đại của nhân loại. Dù là với truyền thống nào, tông môn pháp phái nào, dù ở quốc độ nào… Người con Phật cũng đều hoan hỷ và thanh tịnh thân tâm để tưởng niệm đức Phật.
Thì tôi cũng nói cho hết lẽ như thế. Chớ bao nhiêu lương dân ở Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Lộc Hưng… đang sống yên lành mà Đảng & Nhà Nước còn có thể nhẫn tâm biến họ thành những đám dân oan (vật vã khắp nơi) thì cái chính phủ hiện hành có xá chi đến những khúc ruột thừa ở Cambodia.
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.