Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tâm sự Người Tù Cải Tạo qua một tập thơ chữ Hán

20/09/201909:46:00(Xem: 2068)

Tù cải tạo có nhiều tâm sự, chuyện trong tù kể thì vô vàng, cách thế kể về những ngày đói nhục cũng khác nhau. Nguyễn Văn Thu kể lại bằng thơ mà là thơ chữ Hán. Đặc biệt ở chỗ đó. Người làm thơ chữ Hán ngày nay không nhiều. Ta chỉ biết Trần Văn Lương với những bài thơ rất xúc động, thỉnh thoảng ông phóng ra một bài thì ai cũng nao nao lòng khi thưởng thức vì ông nói về thời thế và tâm tư trước nghịch cảnh của con dân đất Việt. Một người làm thơ chữ Hán khác là nữ sĩ Hạt Cát, thơ rất hay, dầu ít khi phổ biến, ý tưởng thường nghiêng về đường tu dưỡng… Có thể còn có nhiều người khác nữa, nhưng vì hoàn cảnh chúng ta chưa có dịp thưởng thức thơ chữ Hán của họ. 

C:\Users\Admin\Desktop\NVT_Bach Hoa _bia.jpg


Những người chỉ
dịch thơ Đường, thì có quá nhiều, nhưng tôi cho rằng đó chỉ là sự kiện đính kim cương lên áo hoàng tử, ai thích thì cứ dịch, ta không cần thiết bàn ở đây. Bài thơ là để nói ý tác giả, thể hiện ngôn chí qua từng bài mà người dịch chỉ làm việc giới thiệu bằng ngôn ngữ của đất nước mình. Phải sáng tác dầu là dở hay. Tôi mang ý nghĩ đó khi đọc bản thảo tập thơ Bạch Hoa của Nguyễn Văn Thu nên chỉ đọc kỷ phần sáng tác, phần thơ dịch xin nhường cho người khác.

Nguyễn Văn Thu phóng ra làng văn nguyên một tập thơ chữ Hán. Ông tự dịch ra quốc ngữ tất cả. Điều đặc biệt là bài chữ Hán đứng riêng cũng có ý nghĩa mà bài chữ quốc ngữ đứng đơn độc ta lại có cảm giác là tác giả làm thơ Việt như bình thường, nghĩa là làm thơ bằng tiếng Việt như những thi sĩ khác. 

Tôi nghĩ ai đọc tập thơ nầy cũng đều muốn đi tìm tâm sự của tác giả, muốn thấy những cảnh tượng trong nhà tù, muốn thấy những nhọc nhằn của người trong vòng lao lý hay những bất nhân của kẻ thắng trận. Chuyện từ ngữ hay ho, những điêu luyện sử dụng từ ngữ  chắc là không quan trọng bao nhiêu.

Nhìn chung, luôn luôn những người sống trong tù mang nỗi buồn ngày nầy  qua ngày nọ, đó là chuyện đương nhiên đến bình thường. Ngày Tết đến nhìn hoa rụng trong sân trại tù càng nản chí hơn. Hoa rụng rơi nhiều quá, đó là những người tù đã đi vào cảnh miên viễn do những đối đãi bất nhân như đánh đập, xử oan ức, bỏ đói, tai nạn, bịnh hoạn không cho thuốc… Bài thơ thiệt là ý tại ngôn ngoại, Đình trung lạc bạch hoa, hoa trắng rụng đầy sân, tức là những người tù  bỏ thân nơi chốn rừng thiêng nước độc này vô vàn. Bài thơ mang tính cách không đã ngưu, chẳng nói gì đến sự tàn ác, thế mà ta thấy sự tàn ác lãng vãng qua cảnh mặt trời chiều, bóng tối chút nữa sẽ đè nặng, hoa đương rụng rơi lã chã, người tù tuyệt vọng trông chờ ngày về…

Có nhiều cách để bớt buồn, Nguyễn Văn Thu chọn cách vỗ đàn phóng cuồng ca. Xin trích toàn bài vì đây là bài quan trọng nhứt trong tập

Nhất xuân thiên hướng tịch, 一春天向夕

Đình trung lạc bạch hoa          庭中洛白花 

Qui đồ chân nan mịch, 歸圖真難覓

Phách cầm ngã cuồng ca         拍琴我狂歌

=  Ngày xuân bóng ngả nghiêng chiều, Sân tù hoa trắng tiêu điều rụng rơi.

    Về quê đường quá xa xôi, Vỗ đàn mà hát những lời ngang ngang.

Đời xưa Lý Bạch phóng cuồng ca không bị nạn sát thân vì vua yêu dân chuộng, đời nay trong  tù Nguyễn Văn Thu chắc là hát lên những lời ngang ngang nho nhỏ thôi để bảo toàn mạng sống và để thấm thía với nỗi hận lòng khi nhìn cảnh hoa rụng đầy sân tù mà đau nỗi đau mất đi chiến hữu đồng cảnh, mà liên tưởng sự rụng rơi của họ nhiều như những hạt mưa. Ông nhắc đi nhắc lại chuyện hoa lạc như nỗi ám ảnh không nguôi: 

Bạch hoa hựu lạc mãn đình trung… 白花又落滿庭中

Trong cảnh cô liêu lại buồn nhơn khi nhớ về người xưa:

Thâm sơn hoang dã mịch cô đơn, 深山荒野寞孤單

Diện bích hoàng hôn ức cố nhân面璧黃昏憶故人

= Rừng sâu hoang vắng lắng cô đơn, Tựa vách hoàng hôn nhớ cố nhân. (Ức Cố Nhân) 

Vậy mà ông muốn người xưa quên tình cũ, nghĩa là bỏ hình bóng của tác giả ra khỏi tâm trí. Ôi tình cảm nhân bản làm sao!

Hà nhân hữu viễn giác, 何人有遠覺

Vong tình Xuân hựu lai. 忘情春又來

= Hỡi ai dõi mắt dặm trường. Hãy quên tình cũ xuân sang nữa kìa. (Vong Tình)

Và nghĩ tới chữ hiếu mình không tròn:

Thiên lý viễn phụ mẫu, 千里遠父母

Hồi gia bất cập thì 回家不及時

= Mẹ cha khuất nẻo dặm ngàn, Ngày về xa quá trễ tràng dưỡng chăm (Hiếu Tự).

Dĩ nhiên ai cũng thấy rằng trong cảnh tù, càng nhớ người xưa, càng nhớ  rằng mình chẳng tròn đạo với mẹ cha thì nỗi buồn chắc chắn sẽ nhân lên thập bội. Nhưng biết sao, con người càng sống bằng nội tâm càng khó không nghĩ về  những điều đó!

Và có lúc Nguyễn Văn Thu thấy con én bay trong mưa mà nghĩ nó bay về để đậu cành Nam như cụ Phan Bội châu ngày xưa. Sự liên tưởng đó là do người tù Nguyễn Văn Thu nằm cong queo hay ngồi bó gối ở đất Bắc mà ước ao mình có cánh để bay thoát về Nam:

Vũ trung hàn phi yến, 雨中寒飛燕

Điểu ức cựu sào Nam 鳥億舊巢南

= Trong mưa con én lạnh căm, Vẫn bay vì nhớ trời Nam quê nhà. (Vũ Trung)

Bởi vì như con chim én kia, ông đêm ngày nhớ quê mình da diết, nhớ những con sông với sóng  bạc đầu của thời tuổi trẻ. Bài nầy phải đọc phần Hán văn mới thấm thía nỗi da diết như sóng trào từng lớp rồi từng lớp bất tận  đêm ngày. Ta nhớ đến mấy chữ bất xả trú dạ của Lý Bạch:

Tiền giang hòa Hậu giang   前江和後江

cuồng tư như tình nhân       狂思如情人

Tảo ngọ dạ bất tận               早午夜不盡

Hoài bạch lãng đông phong 懷白浪東風

Phải! Ai cũng vậy, sông nước quê nhà khi ta ở gần nó thì nó rất bình thường, thậm chí ta không chú ý rằng nó hiện hữu, rằng nó đổi thay từng chút, từng chút mỗi ngày. Nhưng  khi đi xa, có lúc ngồi lại thư thả thì hình ảnh nầy hiện ra và ta càng tái hiện chi tiết từng ghi nhận trong ký ức ngày xưa thì nỗi nhớ, nỗi buồn càng lớn mạnh, càng là tiếng gọi bên trong ta ngày đêm níu gọi. Tôi gọi tình trạng đó là hồi ức. Hồi ức để tư hương…

Trong sự buồn mênh mang đó không gì chỏi bằng thấy hoa (sen) nở đẹp. Dĩ nhiên sen nở vì nó phải nở thôi nhưng người tù nhìn lại thân phận mình rồi nhìn hoa sẽ thấy như bị chế ngạo, chọc quê. Cái buồn là ở chỗ có sự đối chọi: người tù mất tự do, nhớ nhà, bệ rạc; hoa trái lại nhởn nhơn trước gió, tươi vui, như đắc ý với sự mơn mởn của mình (Vấn hoa): 

Lao trung viễn xứ sử hoài gia         牢中遠處使懷家

Xuân phong đắc ý liên tương tiếu 春風得意蓮相笑

= Tù xa nhung nhớ mái nhà, Gió Xuân đắc ý sen cười gió xuân.

Vậy thì muốn cho khỏi buồn chỉ có cách hay nhứt là thiền cố gắng cho tâm không động trước nghịch cảnh, nghĩa là giữ cho cái tâm mình trở thành không, chẳng chú ý gì đến ngoại cảnh, đến sự có – không trong tâm trí:

Đắc thất tâm không ngoại, 得失心無 外

Tâm không bất tích duyên, 心空不積縁

= Được mất có không, không vướng bận, Lòng không không chứa cả không duyên. (Thiền)

Tôi nghĩ là mình không nên viết ra đây hết những điều tác giả nói trong tập thơ. Để lại sự khám phá cho từng người đọc. Đây là tập thơ có giá trị chứng minh tình trạng thốn tâm của người tù cải tạo. Thơ vốn dĩ có tính chất nói ít mà gợi ý nhiều, Thơ chữ Hán còn nặng về điều nầy hơn nữa. Do đó tập thơ nầy có một có một bản sắc riêng biệt, khác với những hồi ký cải tạo, vốn viết bằng văn xuôi nên nhiều mô tả mà ít gợi ý.

Chọn sáng tác bằng Hán tự, Nguyễn Văn Thu ngoài sự áp dụng sự thủ đắc sở học Hán Văn chắc ông còn muốn cho ‘người nước lạ’ biết được người tù nước Việt nghĩ gì về hậu quả do sự giúp đỡ của họ trong cuộc chiến vô lý của nước Việt vừa qua mà họ đã nhúng tay! 

Một số bài khá về ý về từ như Oa Minh (Ếch Rống) nói được điểm yếu kém đáng buồn cười của con ếch, (tác giả có ngụ ý so sánh chăng với với bọn cai tù ba hoa đắc ý vì là kẻ đương quyền, muốn nói gì thì nói, ai cũng làm thinh?), như Liên Tử (hoa sen) nói được sự thanh khiết của sen dầu sanh trong bùn, (Có ngụ ý ví mình chăng khi nói sen không ngại nóng lạnh gió mưa?), bài Quá Doanh (Qua Bãi Tha Ma) làm xao xuyến lòng độc giả khi than thở thân phận người nằm đó chỉ vì do liên hệ với cựu trào.

Xếp tập thơ lại tôi như thấy hình ảnh những nấm mồ xanh cỏ của lớp lớp tù nhân vì lỡ sống với, sống về phía bên thua cuộc:

Di sản cựu trào cô độc phận,                  遺産舊朝孤獨分

Tù nhân cảm kích nhất phương doanh囚人感激一方營

= Liên lụy cựu trào xui phận hẩm, Tù nhân cảm kích khoảnh xanh xanh.

Nghĩa là một tập thơ buồn, buồn vì hoàn cảnh của người tù cải tạo, buồn vì những đề tài tác giả  chọn để diễn tả. Nhưng nỗi buồn đó cần thiết, và cần thiết hơn để nói lên cho nhiều người nghe thấy, để các thế hệ sau biết cảnh đoạn trường của một số lớn người thời nay.

Nhìn chung tác giả Nguyễn Văn Thu thành công phần nào  về ý, về lời, dầu ông chọn thứ văn tự chỉ mới thủ đắc gần đây thôi. 


Nguyễn Văn Sâm

Victorville, CA, May 2019 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.