Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đoạn đường thỉnh kinh

07/09/201908:45:00(Xem: 1916)

Hồ Thanh Nhã

 

      Đoạn đường thỉnh kinh

 

Đường Huyền Trang dẫn ba đệ tử

Đi Tây Trúc thỉnh kinh

Chuyến đi xuyên sơn

Qua sông qua suối gập ghềnh

Trải qua lớp lớp nạn tai

Gặp trùng trùng yêu quái

Đoàn lữ hành bền dạ bền gan

Suốt đường dài vạn dặm gian nan

Diễn viên tài năng là Lục Tiểu Linh Đồng

Thủ vai chính Tôn Ngộ Không

Chúa động Hoa Quả Sơn

Một thuở náo Thiên cung

Sau hối cải

Vâng lời Phật phò Đường Tam Tạng

Đi Tây Trúc thỉnh kinh nguyên bản

Về Trung Nguyên truyền lại nhân gian

Hai tiểu đệ là Sa Tăng –Bát Giới

Ba đệ huynh đồng hội đồng thuyền

Phò sư phụ trên đường vạn lý

Trong vai diễn

Cả ba là huynh đệ

Ngoài đời thường họ là bạn tâm giao

Buổi diển vừa xong

Họ là bạn vườn đào

Khi ăn uống lúc vui chơi họ vẫn vái chào huynh đệ

Hoàn tất cuốn phim

Họ chia tay mỗi người mỗi lối

Người đóng vai Trư Bát Giới

Một hôm lâm bịnh nặng

Gọi điện thoại hàng ngày xin gặp sư huynh

Lục Tiểu Linh Đồng còn đang bận đóng phim

Về không kịp gặp người em kết nghĩa

Trư Bát Giới mê man trong bịnh viện

Thều thào nhắn lời từ giã sư huynh

Hẹn gặp nhau lần nữa kiếp lai sinh

Lục Tiểu Linh Đồng về đến Bắc Kinh

Chỉ kịp đưa tiễn lão Trư ra nghĩa trang hiu quạnh

Cũng bùi ngùi nửa thực nửa hư

Đường thỉnh kinh dẫn đến kinh sư

Nước nhỏ Tây Lương nữ quốc

Cô Nữ vương gặp Tam Tạng lần đầu

Yêu say đắm nhà sư phong độ

Trằn trọc thâu đêm ngày ngày nhung nhớ

Cậy nữ quan mai mối se duyên

Đường Huyền Trang một dạ một niềm

Đúng bậc chân tu lòng không lay chuyển

Tôn Hành Giả bày mưu kế hiến

Thầy cứ giả vờ kết mối lương duyên

Nhờ Nữ vương đưa tiễn ngoài biên

Rồi từ chối giữa đường ranh lân quốc

Nữ vương cuối cùng đành lau nước mắt

Để người yêu trong mộng đi luôn

Vai diển vừa xong

Nữ vương trở lại đời thường

Mang hình bóng người thương trong mộng

Rồi từ đấy một mình một bóng

Nàng diển viên từ giã phim trường

Sống hiu quạnh một mình trong căn phòng nhỏ

Chờ đợi mỏi mòn

Nhà sư đi Tây trúc thỉnh kinh

Mỗi sáng đến chùa nghe tiếng mỏ tiếng chuông

Cho đến hôm nay tuổi cũng quá lục tuần

Vẫn chờ đợi người thỉnh kinh năm ấy

Hư cũng là hư

Mà thực như là thực

Trộn lẫn vào nhau trong cõi vô thường

Ai đã một lần vào bóng tối mù sương

Giống như gỡ một cuồn chỉ rối …

 

                  Hồ Thanh Nhã

  

Hành trình đi thỉnh kinh của nhà sư Đường Huyền Trang

Đường Huyền Trang ( 595-664 ) là một vị cao tăng đời Đường, tên thật là Trần Huy  ( có sách gọi là Trần Vĩ ), đi tu từ thuở nhỏ. Ngoài ra Ngài được vua Đường Thái Tôn nhận làm em, cho mang họ hoàng tộc nên thiên hạ gọi Ngài là Đường tăng hay Đường Tam Tạng vì Ngài còn thông hiểu 3 Tạng kinh là  Kinh Tạng (Sutra ), Luật Tạng (Vinaya ) và Luận Tạng ( Abhidharma ). Lúc đó Phật Giáo đã lan truyền đến Trung Hoa từ lâu. Đường Huyền Trang nhận thấy những kinh sách nầy nguyên bản bằng tiếng Phạn do các thương nhân mang về qua những chuyến buôn bán đến các nước vùng Trung Á. Kinh sách được in ấn từ nhiều nước khác nhau, bản dịch ra tiếng Trung Quốc cũng không đồng nhất, nhiều đoạn có nghi vấn không biết tra cứu ở đâu. Vì những lý do trên nên nhà sư Trần Huyền Trang quyết định đích thân đi Tây Trúc thỉnh kinh sách nguyên bản vế Trung Quốc dịch lại. Ý định trên được vua Đường Thái Tôn và các quan lại trong triều hoan nghinh vì họ cũng có những nghi vấn tương tự nhà sư Trần Huyền Trang.
 
Vua Đường triệu Huyền Trang vào triều, phong nhà sư làm ngự đệ, cho mang họ hoàng tộc tức Đường Huyền Trang. Ngoài ra nhà vua còn cấp lộ phí và Quốc thư cho nhà sư mang theo trình cho các nước duyệt khán trên đường đi.  Năm 628 nhà sư Đường Huyền Trang một người một ngựa men theo con đường tơ lụa mải miết đi về hướng Tây tầm sư học đạo. Ngẩm nghĩ lại chắc nhà sư không thể đi một mình, ít ra cũng phải có vài ba người tùy tùng đồng hành để khuân vác hành lý, lương thực, nấu nướng, tạp dịch … trên đường đi hàng vạn  dặm xa. Chuyện nầy xét ra hợp lý hơn là chuyện về 3 đệ tử thần thông biến hóa của Đường tăng là Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Sa Tăng,  mà nhà văn Ngô Thừa Ân vào giữa  thế kỷ thứ 16 dưới triều nhà Minh  hư cấu thành bộ truyện Tây Du Ký. Nhưng điều chắc chắn là đám tùy tùng nầy phải có sức mạnh hoặc giỏi võ nghệ mới có thể theo bảo vệ nhà sư trên đường dài đầy bất trắc, trộm cướp. . giống như một toán bảo tiêu.  


 
Vua Đường phái đi thỉnh kinh xa, chắc phải nghĩ đến chuyện an ninh lộ trình cho  nhà sư. Đường Huyền Trang đã đi trên 5 vạn dặm đường, vượt qua bao nhiêu ngọn núi cao, sông dài, thác ghềnh, sa mạc …vô cùng gian khổ. Cuộc hành trình kéo dài trên 2 năm trời, vượt qua các nước như : Mông Cổ, Tây Vực ( tức Tân Cương ), Thổ Nhỉ Kỳ, Afghanistan. .mới tới được Ấn Độ. Đi tới đâu Ngài cũng tìm cách thuyết giảng Phật pháp. Nhờ vậy phong trào Phật giáo vùng Trung Á có cơ hội phát triễn. Trong bộ ký Đại Đường Tây Vực Ký , nhà sư có kể về 2 pho tượng Phật điêu khắc trên núi đá vào thế kỷ thứ 6 ở Afghanistan . Sau nầy 2 pho tượng nầy đã bị phong trào Hồi giáo cuồng tín  Taliban phá hoại, nay đang được Liên Hiệp Quốc phục chế lại.

Tới Ấn Độ, Đường Huyền Trang tìm đến Phật học viện Nalanda để học kinh kệ và được vị cao tăng tại đó  là Giới Hiền đại sư nhận làm đệ tử và tu học ở học viện nầy nhiều năm sau đó. Đến khi thấy việc tu học đã viên mản, sư Trần Huyền Trang xin sư phụ cho trở về Trung Quốc . Có nghĩa là từ khi ra khỏi nước và đến khi Ngài trở về là 17 năm trời. Khi ra đi, Ngài mới có  33 tuổi và khi trở về Ngài được 50 tuổi. Lúc trở về Ngài mang theo 657 bộ kinh nguyên bản bằng chữ Phạn. Đường Huyền Trang đã để lại hậu thế một tập sử liệu quý giá là tập Đại Đường Tây Vực ký gồm 12 quyển. Trong bộ bút ký nầy Đường Huyền Trang kể lại tỉ mỉ về địa lý, lịch sử xã hội, tập quán, tình hình Phật giáo của 110 nước lớn nhỏ mà Ngài đã đi qua. Đây là một bộ sử liệu quan trọng về các nước Trung Á và Ấn Độ thời cổ xưa. Bộ ký nầy còn là kim chỉ Nam sau nầy  cho các  đoàn thương nhân từ Trung Quốc đến Ấn Độ dọc theo con đường tơ lụa.
 

Về đến Trung Quốc, Ngài được vua Đường Thái Tôn đón tiếp trọng thể và lưu lại kinh đô để lo dịch thuật các bộ kinh mang về. Trong ngày tái ngộ giữa vua Đường và nhà sư trở về từ Tây Trúc, nhà vua đã xa giá ra khỏi kinh đô Tràng An 10 dặm để chở đón Đường tăng và đoàn lạc đà chở kinh trở về. Điều đó nói lên sự trọng vọng của nhà vua đối với Đường tăng và thành quả sau chuyến thỉnh kinh của Ngài . Cuộc gặp gở giữa 2 con người xuất chúng đó diển ra ở một trạm quán bên đường với nghi thức rất long trọng của triều đình. Một bên là vị vua anh hùng xuất chúng đã lừng lẩy chiến chinh thống nhất thiên hạ sau mấy chục năm dài loạn lạc cuối đời vua nhà Tùy. Còn một bên là một nhà sư dành trọn đời cho đạo pháp, kiên gan bền chí vượt qua 5 vạn dăm đường đầy khó khăn, nguy hiểm, đem về nước trọn vẹn tinh hoa Phật pháp để phổ độ chúng sanh. Thật là một cuộc gặp gỡ còn để lại tiếng thơm cho lịch sử văn hóa Phật giáo Trung Hoa cho mãi đến tận ngày nay, hậu thế vẫn còn nhớ ơn 2 người kiệt xuất nầy.
 
Ở lại một ngôi chùa lớn ở kinh đô, Đường Huyền Trang đã dành trọn quảng đời còn lại để lo việc dịch thuật kinh kệ từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Quốc. Cứ xem bộ Bát Nhã bằng chữ Phạn mà Ngài tóm lược gọn lại thành Bát Nhã Tâm Kinh với 260 chữ chứa đựng hết ý cốt lõi của toàn bô 6 trăm quyển  kinh nguyên bản, mới thấy tài trí siêu việt về Phật học của sư Đường Huyền Trang. Cũng nhờ Tâm kinh nầy, nhiều đệ tử Thiền học sau nầy đã ngộ đạo. Thật đúng là một tinh hoa bậc nhất của Phật Giáo Trung Quốc vậy.  Ngài mất năm 664 hưởng thọ 69 tuổi. Ngài đã để lại cho hậu thế một gia tài kinh sách đồ sộ. Cũng nhờ công đức của Ngài mà Phật Giáo đời Đường trở thành cực thịnh và lan truyền sang các nước lân cận như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam …

                           



 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trước hiện trạng kỳ thị, không chỉ bạo hành bằng lời nói, mà còn tấn công hung bạo và bắn giết khiến nhiều người đã thiệt mạng hoặc bị thương tích nặng, các chuyên gia và các nhà hoạt động đã đưa ra một số biện pháp để chống trả vấn nạn này và giúp các thành viên trong cộng đồng tự bảo vệ
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.