Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Normandie, những mộ phần bên nhau

01/01/201908:42:00(Xem: 2177)

Normandie, những mộ phần bên nhau

 

blank

 

Hồ Đắc Túc

 

 

Tôi vào tiệm tạp hóa Tàu ở Luân Đôn mua một thẻ nhang ngắn rồi xuống Portsmouth, bắt phà qua Normandy.

 

Chiếc phà mang tên Normandie của Pháp rời bờ biển Anh lúc gần nửa đêm. Mùa hạ năm nào. Vào giờ này những người lính nhảy dù Anh sắp nhảy xuống chiếm và giữ chiếc cầu Pegasus cách bờ biển Normandy chừng 7 cây số, như trong phim The Longest Day (Ngày Dài Nhất). Giờ này, những người lính nhảy dù Mỹ đã trên phi cơ nam tiến. Tôi muốn đến Normandy vào sáng sớm, lúc mặt trời chưa lên.

 

Bây giờ là mùa đông. Khi phà tiến gần vào bờ cho đến khi cặp bến Ouistreham nằm phía cực đông của bờ biển Normandy, trời còn rất tối. Sao Mai sáng long lanh, các ngọn đèn rải thưa quanh bến tàu, ánh sáng vàng đứng bóng, không hắt hiu. Yên tĩnh. Trong bóng đêm lành lặn, không thấy dấu tích gì, như trong phim, và sau này, phim Saving Private Ryan.

 

Sáng dậy, mới rõ ra lịch sử nơi này là chân thực. Tôi đi bộ dọc bờ biển từ hướng đông, bắt đầu từ chỗ giáp mép biển của con kênh đào từ Caen (cách biển chừng 16 cây số). Cứ khoảng 100 thước, một tấm biển tưởng niệm, hình ảnh thế hệ các người lính hôm nay thuộc binh chủng đã đổ bộ, và tên tuổi của một người lính tử trận ngày 6.6.1944. Khúc bờ biển này ở mạn cực đông bờ Normandy, mật hiệu Sword Beach được giao cho quân đội Anh tấn công trong ngày D-Day với chiều dài 8 cây số. Trong đại quân ấy có những người lính commando của Pháp. Một đài tưởng niệm bằng thép hình ngọn lửa, La Flamme, và 10 bia đá thấp ghi tên các người lính mũ xanh của Pháp tử trận ngày đổ bộ. Bên kia đường có một cụm di tích và tưởng niệm khác. Viện bảo tàng Musée N4 Commando (đơn vị biệt kích của Anh có những người lính Pháp đầu tiên đặt chân lên bờ biển); tấm bia đánh dấu những nấm mộ đầu tiên của người lính Anh trên mặt trận Sword Beach ghi ngày 6.6.1945 – một năm sau ngày D-Day; tượng Thống chế Anh Montgomery nhỏ bằng người thật đứng trên bệ đá thấp có chua tên “MONTY” viết hoa, xuống hàng, “Commander In Chief Allied Land Forces Normandy 1944” (Tổng tư lệnh lực lượng đổ bộ đồng minh Normandy 1944)”, và con đường mang tên Avenue du N4 Commando. Một phần dấu tích khác của trận đánh được đưa vào Le Grand Bunker – Musée du Mur de L’Atlantique (Bảo tàng Boongke trên Bức Tường Đại Tây Dương) ngay bờ biển. Người Pháp dùng cái lô-cốt năm tầng (tính luôn tầng hầm) của Đức Quốc Xã làm bảo tàng, các hình ảnh và vũ khí, chiếc tàu há mồm, các khẩu súng và chiếc lưỡi lê rỉ sét, các chiếc nón sắt còn dấu đạn, đồ dùng cá nhân của người lính. Tất cả được giữ đúng từng chi tiết.

 

blank

Pointe du Hoc và bãi Omaha phía phải. Ảnh HĐT/12.2018

 

Bãi Sword phẳng và rộng, màu cát vàng đậm thoai thoải bên biển xanh biếc. Mười giờ sáng, tuyết còn phủ một lớp mỏng trên con đường lát gỗ ven bờ. Lâu lâu mới thấy người dắt chó đi bộ, ngoài ra, dường như không một bóng người. Không một bóng người. Trong từng thước đất đi qua đều có người lính nằm xuống. Suốt chiều dài 60 dặm (gần 100 cây số), bờ biển Normandy được chia làm năm khu vực đổ bộ. Ngày nay, chắc nơi nào cũng chỉ còn nhiều đài và bia tưởng niệm như bãi Sword này. Tôi đã tưởng như thế. Khi đến bãi Omaha, khúc biển phía tây của bờ Normandy mới thấy không chỉ là đài tưởng niệm, mà còn nhiều dấu tích trận chiến. Bãi Omaha dài 5.9 cây số thuộc một trong hai khu vực đổ bộ của những người lính Mỹ. Từ đất liền nhìn ra, mỏm đá Pointe du Hoc nhô ra làm ranh giới giữa bãi Omaha và Utah – cũng là phần biển do người lính Mỹ đảm nhiệm. Hai vách đá cả hai phía Pointe du Hoc dốc thẳng đứng, từ trên nhìn xuống bờ cát thấy ngợp. Trong phim Ngày Dài Nhất có cảnh những người lính Mỹ từ dưới bờ bắn dây móc vào hàng rào kẽm gai để leo lên dưới hỏa lực của Đức. Khu vực Pointe du Hoc rộng mênh mang, biển thấp sâu bên dưới, vách đá dựng đứng cả hai phía đông và tây. Trên con đường ngoài lộ lớn đi vào bãi chiến trường này, những tấm biển nhỏ đều có chữ đậm SACRIFICE (Hy Sinh) với vài dòng dưới 100 chữ tưởng niệm một người lính Mỹ đã hy sinh tại đây, có người 18 tuổi. Toàn cảnh Pointe du Hoc bây giờ, ngoài con đường đá đi bộ, đều cỏ mọc xanh xao im ắng. Cỏ xanh cỏ dại lau lách vàng lan xuống những hố đạn lớn, nhỏ, cạn, sâu, tựa như mình ném một cái tổ ong cho vỡ toang văng tứ tán trên mặt đất, trên đó những lô cốt phòng ngự của Đức chìm hay nổi lưng chừng, hoặc dấu sâu trong một triền núi chỉ chừa một họng súng ló ra ngoài, những khối bể tông ngã ngửa còn in dấu đạn. Từ điểm cao nhất, trở ra đường cái theo hướng đông trên đại lộ Omaha chừng năm cây số, nếu đi quá nhanh sẽ không thấy bên đường nhìn ra biển có một tấm bia đá nhỏ cao chừng một thước đánh dấu nghĩa trang quân đội Mỹ đầu tiên trên bãi Omaha.

 

blank

Biểu tượng Les Braves trên bãi Omaha. Ảnh HĐT/12.2018

 

Ở điểm giữa khúc bờ biển Omaha có đài tưởng niệm Les Braves bằng inox cao chín thước. Đài dựng ngay trên bãi cát. Con mắt phàm phu của tôi thoạt nhìn tưởng một cụm lưỡi dao to bảng và “thiền trượng” hướng ra biển chém gió. Nhờ tấm bảng gắn trên bờ giải thích mới biết khối hình tượng kia gồm ba cụm chứ không phải một, không phải “dao” mà “cánh”: Les Ailes de l'Espoir (cụm bên trái, “Đôi cánh Hy vọng”); ở giữa Debout, la Liberté (Đứng dậy, Tự do), bên phải Les Ailes de la Fraternité (Đôi cánh Đồng đội). Những đợt sóng biển sâu tràn tới chân đài tưởng niệm. Xích lên bờ vài thước một đài tưởng niệm bằng đá khác. Đi thêm 400 thước đến viện bảo tàng Omaha Beach. Loanh quanh vài cây số cũng không thăm hết bảo tàng, đài tưởng niệm, dấu tích Bức tường Đại Tây Dương, các nghĩa trang, kể cả Nghĩa trang Quân đội Hoa Kỳ nổi tiếng (phần mở đầu và kết thúc phim Saving Private Ryan) ở làng Colleville-sur-Mer nhìn xuống bãi Omaha, nơi yên nghỉ của 9.387 người lính Mỹ. Một bức tường bán cung trước đài tưởng niệm khắc tên (không có tuổi) 1.557 người lính Mỹ không tìm thấy xác, hoặc không xác định được lý lịch khi xác họ được tìm thấy. Một người bạn Pháp cho biết sau này người ta đã xác định được hài cốt của người lính có tên Anderson John E trên bức tường, và đã đưa người lính trở về Mỹ. Khi tôi đến được một chập thì có lễ hạ cờ Mỹ vào lúc 3 giờ chiều. Hai lá cờ rủ được kéo xuống trong tiếng kèn điệu “Taps” buồn bã quen thuộc. Nghĩa trang này đẹp quá, những thập tự trắng nghiêm nghị và trong sáng bên bờ đại dương. Vài chục cây số phía nam có tượng đài của danh tướng Patton, rải rác dọc theo và sâu vào nội địa mươi cây số còn nhiều nghĩa trang khác. Trên tấm bản đồ người bạn cho xem, tôi đếm được 18 viện bảo tàng chiến tranh nằm gần bờ biển, từ bãi Utah phía tây cho đến bãi Sword phía đông – chiều dài bờ biển quân đội đồng minh đổ bộ trong ngày D, nhưng cũng trong chiều dài ấy, và sâu vào nội địa chừng 30 cây số, có 30 nghĩa trang quân đội. Bản đồ nghĩa trang đánh dấu một nghĩa trang người lính Ba Lan, một Canada, phần lớn là nghĩa trang người lính Anh và đồng minh, và ba nghĩa trang người lính Đức, trong đó La Cambe chôn cất 21.222 người lính Đức chỉ cách bãi Omaha 10 cây số. Trong thực tế, không phải chỉ có ba nghĩa trang chôn cất người lính Đức.

 

 

blank

Nghĩa trang Ranville ở Pháp, nơi chôn chiến binh Anh, Canada... và 322 chiến binh Đức quốc xã. Ảnh HĐT/12.2018
 
 
blank
Người lính Anderson John E (hàng thứ 3) trên bức tường thất tung đã về đất Mỹ. Ảnh HĐT/12.2018

 

Tôi đến chiếc cầu Pegasus cách bãi Sword chừng bảy cây số. Chiếc cầu được giữ nguyên dạng như hình ảnh trong phim Ngày Dài Nhất: Chỉ trong vòng 15 phút, các người lính nhảy dù của Anh đã chiếm được. Từ quán cà phê, cũng địa điểm quán cà phê năm 1944, tôi cố men từng bước xuống bờ kênh dưới chân cầu vì đường quá trơn trợt, lớp tuyết mỏng ngoan cố chưa chịu tan dưới trời mưa dai dẳng. Từ nơi này đi bộ hai cây số đến nghĩa trang đồng minh ở làng Ranville, ngôi làng đầu tiên trên đất Pháp được giải phóng sau khi người lính Dù chiếm giữ cầu Pegasus. Trên bản đồ là nghĩa trang của Anh, nhưng ở góc bên trái từ cổng vào có 330 bia mộ người lính Đức, chia cùng mảnh đất nghĩa trang với 2.235 người lính nhảy dù thuộc quân đội Anh, Úc, New Zealand, Bỉ, Pháp, Ba Lan. Trong nghĩa trang này còn có một ngôi mộ đặc biệt chôn người lính nhảy dù 19 tuổi, chung mộ với chú quân khuyển đã cùng anh nhảy xuống nơi này trong Ngày D.

 

blank

Nghĩa trang Quân đội Đồng minh ở Omaha. Ảnh HĐT/12.2018

 

Mỗi ngôi mộ người lính Đức đều có bia như các ngôi mộ của người lính đồng minh, tên tuổi, ngày sinh và ngày chết, chỉ khác là huy hiệu binh chủng được thay bằng dấu Thập tự Sắt. Dưới bầu trời xám đục, đài thánh giá trắng có hình cây kiếm mũi hướng xuống đất nổi bật ngay giữa nghĩa trang. Những linh hồn nơi đây không còn chiến tranh nữa. Kiếm đã cắm hay cất. Không có một chữ “hòa giải” nào trong nghĩa trang chung này. Nhưng các bia mộ của người lính Đức và người lính đồng minh nằm bên nhau. Người sống không thù hận nên người chết yên lành.

 

Normandie

Giáng sinh 2018

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Mặc dù rõ ràng là Hoa Kỳ có thể điều hành công việc ra khỏi Afghanistan tốt đẹp hơn, nhưng thảm kịch xảy ra vào tháng này đã kéo dài trong 20 năm. Ngay từ đầu, Mỹ và các đồng minh đã chấp nhận - và không bao giờ xem lại - một chiến lược xây dựng nhà nước từ trên xuống dưới luôn được xem là thất bại như do định mệnh đã an bài. Hoa Kỳ đã xâm chiếm Afghanistan 20 năm trước với hy vọng tái thiết đất nước, nay đã trở thành một tai họa cho thế giới và chính người dân của họ. Trước đợt tăng quân năm 2009, Tướng Stanley McChrystal giải thích, mục tiêu là “chính phủ Afghanistan kiểm soát toàn vẹn lãnh thổ để hỗ trợ ổn định khu vực và ngăn chặn việc sử dụng này cho chủ nghĩa khủng bố quốc tế.“ Hiện nay, với việc thiệt mạng hơn 100.000 và thất thoát khoảng 2 nghìn tỷ đô la, tất cả nước Mỹ phải thể hiện cho nỗ lực của mình là cảnh của một cuộc tranh giành tuyệt vọng để chạy ra khỏi đất nước trong tháng này - một sự sụp đổ nhục nhã gợi nhớ đến sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975. Điều sai lầ
Gặp gỡ và nói chuyện nhiều với những người thông dịch viên Afghanistan, tôi mới hiểu thêm rất nhiều về dân tộc họ và biết rằng chính phủ Afghanistan là một chính phủ tham nhũng lan tràn từ cấp thấp cho đến cấp cao, mức độ nào họ cũng có thể ăn hối lộ được, chỉ có người dân thấp cổ bé miệng là khổ. Người Mỹ biết rất rõ nhưng vẫn không làm gì hết. Bản thân chúng tôi khi ra vào đất nước này, cũng phải đóng cho những nhân viên hải quan đủ thứ tiền, mà phải bằng tiền đô la Mỹ, mệnh giá 100 đồng mới tinh, cũ hoặc dính 1 vết mực, họ không nhận và không chịu ký giấy và đóng mộc. Nói để thấy rằng chúng ta, người Mỹ, hy sinh tiền bạc, xương máu cho họ, thật không đáng chút nào. Rút ra khỏi đất nước này là đúng và là một việc phải làm ngay.
Cứ tới cuối tuần, dân Tây réo nhau xuống đường biểu tình chống chương trình chích ngừa dịch vũ hán và, tiếp theo, chống biện pháp kiểm soát có chích hay không bằng «thông hành y tế» (pass-sanitaire), tờ giấy có dấu hiệu đã chích ngừa của Cơ quan Bảo hiểm sức khỏe cấp qua Cơ quan tổ chức chích hoặc y sĩ gia đình hay dược sĩ.
Đầu năm 70, bạn đồng minh Huê kỳ quyết định bỏ rơi VNCH, không thực hiện cam kết rút quân, Việt-nam hóa chiến tranh, mặc nhiên giao Miền nam cho Hà nội. Ngày 30/04/75, quân Bắt Việt tiến vào Sài gòn, ngỡ ngàng. Dân chúng hoảng loạn bỏ chạy. Nhưng 14 năm sau thất bại nhục nhã ở Việt nam, bức tường Bá-linh bổng sụp đổ, kéo theo cộng sản Liên xô xuống hố, giúp Huê kỳ kết thúc cuộc chiến tranh lạnh làm kẻ chiến thắng.
Người Mỹ nói “Nothing is certain but tax and death” (Không ai tránh khỏi thuế và chết). Thuế mang ý nghĩa đặc biệt vì lịch sử nước Mỹ được thành hình từ ngày dân chúng thuộc địa nổi loạn chống nhà nước bảo hộ Anh Hoàng với khẩu hiệu bất hủ “Taxation without representation is tyranny” (Bị đánh thuế mà không được có đại biểu là bạo quyền.) Cho nên mỗi kỳ bầu cử đều tranh luận gay gắt về thuế má – nhưng không chỉ là cải cọ vô bổ vì khi thành luật sẽ theo đó móc từ túi tiền của mỗi người dân nhiều hay ít.
Đảng cộng sản VN cũng “khởi nghiệp” với những tuyên ngôn và khẩu hiệu nghe (tử tế) tương tự. Họ hô hào chống lại áp bức, bất công, kỳ thị … Nhờ vậy, họ vận động được quần chúng - kể cả những thành phần thiểu số, “ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng” - nổi dậy “giành lấy chính quyền về tay nhân dân.” Chả phải vô cớ mà Cách Mạng Tháng Tám vẫn được mệnh danh là “Cuộc Khởi Nghĩa Của Những Người Tay Không.” Chỉ có điều đáng phàn nàn là sau khi “những người tay không” nắm được quyền bính trong tay thì họ (tức khắc) hành xử như một đám côn đồ, đối với tất cả mọi thành phần dân tộc
Người lính Mỹ, trong nhân dáng hiên ngang, với những bước chân chắc nịch, đôi mắt nhìn thẳng và kỹ thuật tác chiến tuyệt vời. Nhưng người lính Mỹ cũng có trái tim biết rung động, biết nhớ thương, biết đau khổ như bạn và tôi. Xin đừng “thần thánh hóa” hoặc đòi hỏi những điều mà người lính Mỹ không thể thực hiện được; vì người lính Mỹ còn phải chu toàn bổ phận đối với người hôn phối, gia đình và người thân. Xin hãy nghĩ đến những trái tim tan vỡ trong mỗi gia đình, khi một người lính Mỹ gục ngã!
Như vậy, tuy không công khai, nhưng Bà Harris có quan tâm đến nhân quyền, các quyền tự do và vai trò của các tổ chức Xã hội Dân sự ở Việt Nam, một việc mà đảng và nhà nước CSVN luôn luôn chống đối và đàn áp. Tuy nhiên, tất cả báo Việt Nam, kể cả những báo “ôn hòa” như Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Lao Động và Người Lao Động đều không đăng lời tuyên bố chống Trung Hoa của Bà Phó Tổng thống Harris.
Sau hơn một năm vất vả phòng chống Covid và kể từ khi có thuốc tiêm ngừa, nước Mỹ đang trở lại bình thường trong những điều kiện mới. Việc đeo khẩu trang và giãn cách xã hội sẽ trở thành những nét sinh hoạt trong đời sống. Bắt buộc cũng có mà tự nguyện cũng có. Từ mùa xuân năm nay nhiều tiểu bang đã bỏ những giới hạn sinh hoạt vì Covid. Riêng California, nơi có nhiều hạn chế gắt gao nhất trong công tác phòng chống, giới hạn được bỏ từ ngày 15/6 vừa qua.
Dan Rather là nhà bình luận kỳ cựu trên hệ thống CBS và là một ký giả tên tuổi của làng truyền thông Hoa Kỳ trong nhiều thập niên. Cùng với Peter Jennings của ABC và Tom Brokaw của NBC, ông thuộc về nhóm "Big Three" đầy ảnh hưởng này của nước Mỹ. Ở tuổi 89 hiện nay, ông vẫn tiếp tục dự phần vào các hoạt động truyền thông một cách thông tuệ, luôn gởi ra những thông điệp đáng suy nghĩ và lan truyền cảm hứng đến hàng triệu khán-thính-độc giả đang luôn theo dõi các bài viết, những cuộc nói chuyện cùng các cuộc phỏng vấn, trò chuyện của ông với một vài nhân vật nổi tiếng.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.