Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Mạc Phương Đình: Thi Tập Ru Người Ru Đời

19/03/201820:52:00(Xem: 2478)
Mạc Phương Đình: Thi Tập
Ru Người Ru Đời
 
Hồ Trường An

      Đây là tập thơ thứ ba của nhà thơ Mạc Phương Đình sau hai tập thơ  Lời ru của mẹ, Những dòng kỷ niệm. Ba thi tâp đều do Yêu Thương xuất bản.  Cách trình bày bìa sách và ruột sách thật đẹp. Bìa màu lục nõn, hình màu hoa dã tưởng (không biết là hoa gì) màu cam lan ra chót đuôi màu hoàng cúc trên nền lục đậm lan vào trong màu tím tươi và màu mạ non. Chữ ru người màu trắng, chữ ru đời  màu hoàng yến.  Những trang trong của thi tập  màu khói lam chập chờn dáng khói hình sương màu bạch phấn. Đó là công trình của họa sĩ Huỳnh Ngọc Điệp.

blank                                  Nhà thơ Mạc Phương Đình

      Đã có lời khuyên của thi sĩ Gérard de Nerval :  Hãy gieo cánh hồng / Trên bước thời gian hoặc một câu thơ của nữ sĩ Natalie Cliford Barney :  Trái tim không bao giờ trống rổng  Bóng hình n tắt đi / Sẽ thay vào một hình bóng khác. Nhưng nhà thơ Mạc Phương Đình của chúng ta vẫn buồn khổ dài lâu. Xin cùng đọc bài  Thì thầm :
 
em đi con bướm buồn ngơ ngác
dáng đứng sầu xưa nhánh liễu gầy
xa dáng mầu trời đang ngã xuống
cỏ non mềm mại khép đôi tay
ngõ thơ từng nhánh trôi thành lệ
còn chút niềm riêng cay mắt cay
dõi bóng thời gian chìm lặng lẽ
dấu xưa người khép tự phương này.
(trang 45)
     
      Bài thơ nào có những câu rõ nghĩa quá thì khó làm cho chúng ta không còn thú vị gì nữa.  Cách đây một phần ba thế kỷ Xuân Diệu đã làm những câu Lá hồng rơi lặng ngõ thuông,
 
Sương trinh rơi kính từ nguồn yêu thương
Phất phơ hồn của bông hường
Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng.
 
      Nhà thơ luôn luôn phải tìm cho thơ một vài chỗ ẩn núp để người đọc tưởng tượng thêm một thế giới kỳ thú riêng, Thơ mà  chữ nghĩa rõ ràng bộc tuệch tức là chữ đâu nghĩa đó chỉ tổ làm cụt hứng khách sành điệu. Thơ của Mạc Phương Đình làm bút giả HTA cảm nhận cái thú vị cái chữ nghĩa bóng bẩy và tình ý mờ mờ ảo ảo. Nhờ vậy cái tưởng tượng của bút giả thêm phong phú và tràn ngập những màu sắc lộng lẫy.
      Chúng ta thử đọc thêm bài thơ Dấu tường vi để gặp đường lối sáng tác độc đáo của Mạc tiên sinh :
 
hạ hồng còn đậu trên cây
nghe như thu đã heo may về nhiều
gói từng nỗi nhớ buồn thiu
tưởng còn in lại dáng kiều ngõ xưa
ngẩn ngơ lá cũng sang mùa
theo tường vi phía bên chùa nở hoa
em từ mất dấu thu qua
để vành trăng khuyết trong ta vỡ rồi
chuông thu rụng tiếng bồi hồi
đêm tường vi cũng rã rời bay theo.
(trang 202)
 
      Những nhạc sĩ như Văn Cao, Phạm Duy, Nguyễn Văn Đông, Trúc Phương, Trầm Tử Thiêng, Trịnh Công Sơn đều đặt lời cho nhạc phẩm của họ mờ mờ tỏ tỏ rất đẹp, rất thơ. Ai có thể ngờ Trúc Phương sáng tác nhạc phổ thông cho dân chúng tầng lớp bình dân mà đặt lời rất kiêu sa có khi thấm nhuần những sinh quan rất trí thức. Tôi lấy làm lạ các nhà thơ hải ngoại rất nhiều nhưng lời thơ đẹp không có mấy ai. Đọc thơ của Mạc Phương Đình tôi mới gặp một nhà thơ đáng lý phải đăng trên những tạp san văn chương nổi tiếng như Văn Nghệ, Hợp Lưu, Văn, Làng Văn, Thế Kỷ  21 mới  xứng đáng.
      Nào, chúng ta làm cuộc viếng thăm trong thế giới  Ru người ru đời để tìm nguồn sáng tạo của Mạc Phương Đình qua bài Gõ cửa :
 
 heo hút dấu trên vuông trời chữ nghĩa
ta tìm em, mưa biển vắng xa xăm
đêm thức ngủ giật mình như bóng vía
lời gọi em khan cổ một vầng trăng
 
chút hoài nghi có vùi trong gió tuyết
em xa xôi còn giữ chút hương nồng
sao vội rớt những dòng thơ ly biệt
cho nỗi buồn trải xuống cõi mênh mông
(trang 2000)
 
      Và đây là bài Lời dặn dò :
 
thôi nhé đừng buồn trăng đã rụng
sương mưa phủ kín lối em về
còn đâu hoa tím vây đường nhỏ
một thoáng bàn tay bỗng tái tê
 
thôi nhé đừng buồn chim đã bay
cuối trời đông lạnh chút heo may
dửng dưng mưa nắng ngoài hiên lạ
còn nợ ngày xưa một nét mày
 (trang 148)
 
      Cái độc đáo trong thơ Lời dặn dò của Mạc Phương Đình là những câu tầm thường nhưng khi chui vào thơ vẫn là câu rất thơ. Chúng được tác giả sấp xếp cách nào để tình ý đan vào nhau rạng ngời óc sáng tạo. Miền Trung của đất nước chúng ta, từ Quảng Trị trở vào, sau năm 1955 có rất nhiều nhà thơ nổi tiếng như Tường Linh, Hà Nguyên Thạch, Thành Tôn. Luân Hoán, Hoàng Lộc  Võ Chân Cửu ... Ra hải ngoại lại có Mạc Phương Đình gốc người Quảng Nam. Nhưng trong thi tập Ru người ru đời, tác giả đôi khi nhắc tới thành phố ấy. Riêng bút giả HTA nói tới Quảng Nam là nghĩ tới siông Thu Bồn nước trong vắt, những vườn mít chín, món mì Quảng. Hình ảnh cố hương không được bao nhiêu. Anh có nhiều điều phiền muộn, nhiều ưu tư, nhiều nhớ nhung luyến tiếc  trong cuộc sống tha hương.
      Nói chung đa số thi nhân đều làm thơ buồn. Bài thơ  Về ngắm lại quê xưa có thể chuyên chở niềm bâng khuâng luyến tiếc khi nhà thơ thăm lại những địa danh trong vùng châu thổ tỉnh Quảng Nam :
 
ta về ngắm lại dòng sông cũ
ơi đất Tam Kỳ yêu dấu ơi
còn đó bên sông cây liễu gảy
 người xưa đâu nhỉ ? vắng lâu rồi
Kỳ Hưng  tháp đỏ phai màu gạch
Cầu sắt nghiêng soi bóng nước trôi
Phường Một rực vàng màu hoa cải
nhà Thờ lặng lẽ đứng mồ côi
đâu trường Nguyễn Dục thời xa vắng
mất dấu như em, bốn hướng đời
Lợi Ký đẩy Thuyền qua bến lạ
Cơm gà còn nhớ khách ngược xuôi
chân qua Tịnh độ nhìn hoa sứ
vọng tiếng chuông khua bước rã rời
Nam Ngải ngày nào trang sách mở
cúi nhìn Cầu Cống sầu khôn nguôi
cọc đèn xanh đỏ như trơ trẻn
ngắm dãy xe thồ đứng xả hơi
tất bật chợ đùn quang gánh nhỏ
người qua không nhận dấu chân người
ngả lên Tiên Phước nghe mùa gió
gửi chút hương nồng mẹt cá tươi
Chợ Mới trôi về cùng quá khứ
bâng khâng như kẻ bước qua thời
rêu phong Khổng Miếu hàng cây rũ
ga vắng chiều xa mây vẫn trôi
(các trang 76,77)
 
       Thuở trước tôi đọc tình yêu quê mến đất trong thơ của Kiên Giang Hà Huy Hà qua thi tập Lúa sạ miền Nam. Nhưng thơ của ông rõ nghĩa, ý tình bộc lộ quá nhiều nên làm cho tôi thiếu suy tư, thiếu tưởng tượng. Nhưng những câu thơ trong bài Về ngắm lại quê xưa ý tình kín đáo, tâm tình không quá lõa lồ. Thơ như thế nầy làm cho mỗi độc giả xây đấp một thế giới tưởng tượng riêng, dù những thế giới của mỗi khác nhau, nhưng chúng có một tình cảm chung : tâm sự người bỏ quê bồi hồi gợi lại những kỷ niệm xa xưa trên từng địa danh trong vùng đất quê hương.
      Chúng ta đã từng cảm kích tâm tình tha hương của nhà thơ Alphonse de Lamartine (1790 1869)  qua bài Milly, la terre natale (Milly, mảnh đất quê hương). Bài thơ nầy vẫn là bài tuyệt vời, tâm tình cổi mở thiết tha. Nhưng nó  xa cách với nhà thơ chúng ta hơn ba thế kỷ rồi. Có thể chúng ta vẫn làm những bài nhớ đất mến quê, nhưng phải bằng ngôn từ khác, kín đáo hơn, gợi công phu sáng tạo hơn. Điều ấy Mạc Phương Đình  đã nắm bắt được,  và đã áp dụng trọn vẹn trong thơ của anh. Chúng ta là kẻ đến sau, một mặt phải tô điểm công phu của tiền nhân, nhưng chúng ta đâu thể dừng chân nơi đó. Chúng ta phải ngóng về phía trước, sáng tạo mới hơn. Giữ cái cũ tức là bị chôn vào những lớp mới, càng lúc càng thụt lùi. Tinh thần sáng tạo càng lúc càng mai một đi.
       Niềm nhớ quê nhà được thể hiện qua bài Hẹn về thăm. Ở đây tác giả không ghi từng địa danh nơi cố quán. Anh hẹn về thăm suốt bốn mùa. Đề tài trong thơ anh giản dị. Nhưng chúng ta cũng thừa biết chọn đề tài không quan trọng bằng diễn tả đề tài. Đề tài nhớ quê đâu có sâu xa gì cho cam. Vậy mà Mạc Phương Đình biến niềm rung cảm đặc thù của anh qua những câu thơ chân thành, qua những chất liệu khơi ngọn trào lòng cho những ai có cùng tâm sự với anh. Xin cùng đọc bài Hẹn về thăm :
 
những sáng mùa Xuân hoa nở rộ
đàn chim nào hót ở bên hè
tung tăng áo mới về thăm Ngoại
nhà cổ hai gian, cây phủ che
mùa Hạ hương sen lan ngào ngạt
trưa nồng vườn rộn tiếng ve ve
sân Thu vàng rực màu hoa cúc
tháng tám đèn trăng sáng bốn bề
lớp học thơm từng trang sách mới
chưa Đông mưa gió đã lê thê
thôn nghèo lo bão về đâu đó
cây cỏ buồn hiu cảnh não nề…
 
nhớ đủ bốn mùa, bao kỷ niệm
bâng khuâng hẹn mãi vẫn chưa về.
(trang 55)
 
      Và đây là bài Một lần trở lại. Ngôn ngữ thơ được lột xác trở nên quyến rũ bội phần. Thi sĩ họ Mạc đâu cần đưa thơ vào âm điệu du dương để làm phù thủy âm thanh hay làm nhà ảo thuật của tiết điệu. Thơ vẫn phì nhiêu cảm xúc thân thương cho độc giả yêu thơ.
 
rồi một ngày âm thầm ta trở lại
nhìn qua sông cây lá vẫn còn xanh
dòng nước cạn bầy cá ròng bơi lội
nghe rong rêu sương gió chợt vô tình
 
trên bến cũ trăng nghiêng vàng mệt mỏi
thuyền ai qua chở gió một khoang đầy
con sông nhỏ chừng long lanh giọt lệ
của một thời đau đớn những chia tay
 
xin đừng hiểu cho lần ta trở lại
tìm riêng tư yêu dấu bóng trời quê
ngày tháng vẫn trôi qua vòng nhật nguyệt
bao tang thươngcho mượn lối đi về
 
lời cầu nguyện xin chia cùng cố xứ
điệu ru em xao xuyến những ân tình
câu ân ái trên môi cha mắt mẹ
là cội nguồn dòng sử Việt ngàn năm
 
cho một lần cùng nhau ta trở lại
ấm tình sâu nghĩa nặng với quê hương
trong ánh mắt ngọt ngào đêm hội ngộ
bàn chân xưa tìm được dấu thiên đường.
(các trang 122, 123)       
 
      Theo thiển ý của bút giả khi tình yêu chui vào bài văn và hay câu thơ bằng ngôn từ diễm lệ, bằng ý tưởng  bao la hoành tráng thì độc giả cảm thấy tâm tình của mình chưa được vỗ về. Thơ phải chân thành. Nhưng thơ văn rõ  ràng quá, quen thuộc quá thì làm cho tinh thần sáng tạo của chúng ta bị thui chột đi. Nhà thơ Mạc Phương Đình của chúng ta ở bài Hẹn về thăm dùng ngôn từ đơn giản phản ảnh tâm tình rất trung thật. Nhưng ở bài Mùa đông xa anh dùng lời bóng bẩy nhưng đâu kém chân thành. Đây này :
 
hãy thức dậy, mang mùa đông xuống phố
chia cho người bớt chút lạnh đi em
sầu viễn xứ như từng bông tuyết trắng
nhuộm tóc nhau trong lặng lẽ im lìm
gió phương bắc từng cơn tê nỗi nhớ
đèn quê xưa hiu quạnh rọi qua tim
dòng nước mắt như hòa trong máu thịt
dấu thương đau trăn trở buốt từng đêm
nắng trốn biệt ngàn ngày không trở lại
chân trời xa một màu xám êm đềm
sợi tóc bạc muộn phiền trên gối nhỏ
bàn chân đau hạt cát chẳng thân quen
mấy chiếc lá vàng nghiêng bên cửa sổ
màu phố xưa sầu rụng chuỗi hoa đèn
đêm mộng mị chập chùng câu hẹn cũ
kẻ đi về lối xóm nhắc cùng tên
còng lưng gánh mùa đông chôn kỷ niệm
nhưng quê hương xa lắc dễ gì quên.
(các trang 52, 53)
.
.   .
     
      Những bài nhớ thương bà mẹ vẫn là thơ với chủ đề quen thuộc, nhưng thi sĩ Mạc Phương Đình áp dụng ngôn ngữ canh tân mới làm tăng thêm nguồn cảm xúc cho người đọc. Trước đây, anh viết nhều bài thơ tặng mẹ trong thi tập đầu tay Lời ru của mẹ thật, lời thơ dồi dào xúc động. Trong  Ru người ru đời  chỉ có đâu đó một vài bài gửi về mẹ, ý thơ đâu kém phần tha thiết. Xin xem bài Vô tư không chỉ nói về từ mẫu mà  còn trải ý tình lên nghiêm phụ của tác giả.  Xin cùng đọc  :
 
đêm sóng sánh rớt buồn câu lục bát
từng nỗi sầu đóng mở khúc ca dao
lời ru mẹ còn ấm lòng thơm ngát
gội yêu thương qua giai điệu ngọt ngào
 
như bắt gặp trong hồi môn của mẹ
bóng roi mây một thưở của lời cha
dấu đạo đức còn hằn in tuổi trẻ
hướng đời lên cho suốt chặng đường xa
(trang 161)
 
       Mạc Phương Đình không bao giờ chọn những đề tài hiểm hóc. Anh chọn những đề tài đơn giản và gần gũi và thân thương cho chúng ta. Nhưng câu thơ của anh rất đẹp, rất ngời sáng tinh thần sáng tạo. Đề tài về cha mẹ của anh không đòi hỏi một công phu về chữ nghĩa (tức là chữ nghĩa diêm dúa kiêu sa).  Ngôn từ trong thơ anh  chải chuốt rất tự nhiên. Chẳng hạn như bài Bụi thời gian :
 
câu ca dao từ ngày xưa mẹ hát
dấu bờ tre con bìm bịp kêu chiều
lạch nước chảy qua mấy bờ ruộng cạn
như mùa hè trông nồm thổi thổi hiu hiu
cay con mắt giấc trưa nồng chưa đã
chú dế mèn ngơ ngác giọng buồn thiu
có một sớm bên kia sông bỏ chợ
súng đạn về theo nước mắt khăn tang
câu hát mẹ cũng đầm đìa cổ tích
căn nhà quen trùm lên dấu điêu tàn
mảnh áo rách gói khoai chà lưu lạc
con đò già cũng mất lối sang ngang
cha gánh gạo rừng đêm nghe muỗi hát
lời ru xưa đau tuổi đá trên ngàn
bên bếp lửa còn nồi rau bát cháo
nỗi quê hương cay đắng lật từng trang
(các trang  164, 165)
 
      Có  độc giả lại nghĩ khác Ngôn từ trong thơ được chăm sóc nên rất dồi dào thẩm mỹ, rất điễm trang hoa lệ. Nhưng tác giả chỉ nói về đạo đức của gia đinh, anh không đào sâu tình phụ tử lẫn tình mẫu tử. Nhưng qua bài  Cúng mẹ, ngôn từ đơn giản hơn. Tình mẫu tử nhờ đó mà gây xúc động cho độc giả.  Tình con đối với mẹ rất thiêng liêng, chữ nghĩa trong thơ phải chân thành đơn giản để tránh rổng sáo, để tránh chữ tuy nhiều nhưng nghĩa rất ít, hoặc chữ kêu lảnh lót mà nghĩa lại im câm. Xin cùng thưởng thức :
 
ngày mẹ mất, vẫn còn trong túi áo
mấy chục đồng con cho mẹ hôm xưa
món tiền nhỏ, từ công con làm chổi
hết cau trầu mà mẹ chẳng kịp mua
 
con biết mẹ phải nhịn trầu mấy bữa
sau khi ăn, nghe tiếng mẹ thở dài
chiếc ống ngoáy nằm trên bàn lặng lẽ
mẹ không tiền mà chẳng dám hỏi ai
 
đi tù về, gia đình càng khó nhọc
con xin làm chổi đót sống qua ngày
hàng đã nộp mà tiền công chưa nhận
gạo sẵn nhờ hàng xóm giúp cho vay
 
lát sắn sượng cõng hạt cơm nhẹ quá
không còn răng đành mấy hạt cơm thôi
bụng mẹ đói nhưng cau trầu ấm miệng
bảy mươi năm đậm nhạt cũng quen rồi
 
nơi quê người mỗi lần con cúng mẹ
trên mâm cơm luôn có đĩa cau trầu
nhìn vôi trắng con nhớ vầng tóc bạc
mất mẹ hiền đời dồn dập thương đau.
( các trang 13O, 131)
 
.
 .   .
 
     Bây giờ xin nói về nhân sinh quan trong thi tập Ru người ru đời.  Nhân sinh quan chỉ nhắm vào ý tưởng của con người. Còn tư tưởng thì nhắm vào cái sâu xa của triết học và tôn giáo. Văn chương tư tưởng trong số nhà văn ở quốc nội và ở hải ngoại của chúng ta quá ít oi. Xin kể : Vũ Khắc Khoan trong cuốn tập truyệnThần tháp rùa và vở kịch Thành-cát-tư-hản, Nghiêm Xuân Hồng trong Trang tôn kinh huyền hoặc, Thân Thị Ngọc Quế trong thi tập Đường lên đỉnh biếc, Giọt nước cành sen, Như Chi trong thi tập Thơ Hiền  (tên cô là Lê Thị Hiền). Trong hai tác phẩm tập truyện và vở kịch, Vũ Khắc Khoan nói về lẽ sống chết, về tham vọng của con người có quyền lực qua những suy niệm bi quan yếm thế.  Qua Trang tôn kinh huyền hoặc, Nghiêm Xuân Hồng sự thành lập cõi tam thiên đại thiên quốc độ. Còn Thân thị Ngọc Quế và Như Chi đem Phật pháp vào thi ca.
      Còn thi tập Ru người ru đời với những bài có nhiều bài hiển lộ những nhân sinh quan gồm có bài Trăn trở :
 
tóc nhuộm trắng nhưng hồn còn xanh ngát
tuổi xuân ơi ngày tháng trốn về đâu
nghĩa sông núi gởi bên trời lưu lạc
ai mơ chi khanh tướng với công hầu
 
vàng đôi mắt đợi chốn tình mòn mỏi
nhìn én về đan dệt những mùa xuân
như dòng chảy ập xuống đầy dấu hỏi
tưởng bọt bèo không đắm nổi gian truân
 
trên bước lỡ nửa đời cùng gió bão.
người về đâu quay quắt lối hẹn hò
con sóng lớn nhấn chìm bao mộng ảo
gót khua buồn qua những nẻo quanh co
 
như con sáo biếng lười không tiếng hót
mộng nghìn đêm trả hết  thuở xuân thì
người có phải là muôn lời mật ngọt
dành riêng mình một ngõ dấu chân đi
 
vẫn còn đó những mắt chờ vô vọng-
nắng và mưa mang nặng dấu luân hồi
ngày đã lụn che khung trời lạnh cóng
chút hương nào đậm nhạt chốn xa xôi.
(các trang 3435)
 
      Bài thơ nầy có ngôn ngữ úp mở… rất thơ, rất giàu sang ý tình. Chúng ta dù không hiểu thấu các điều tác giả nói. Nhưng chúng ta biết bài thơ đến mọi lớp người bằng một thế giới riêng, một tình cảm riêng để tuôn tràn cảm xúc.  Chúng ta đều biết tác giả không hạnh phúc . Cuộc đời của  anh không đáp ứng với nguyện vọng của anh. Mộng lớn mộng nhỏ của anh bị thực tế phũ phàng vùi lấp. Đây là một bài bi ca (poème saturnien) Trớ trêu thay khi mình không đối diện với chính mình để mình rõ con đường nào mình phải đi, để thấy viễn  ảnh và tương lai mình ra sao, để mình tìm chút hy vọng. Mình thấy cô đơn lạc lỏng. Bài thơ Giấu niềm riêng có những đoạn cho chúng ta thấy nỗi niềm bi quan của thi sĩ :
 
trên sóng đời đôi tay chèo mỏi mệt
ta phù du theo tiếng gọi đăng trình
mỗi chặng đường ngỡ ngàng khi ngó lại
vết chân buồn rơi rụng kiếp nhân sinh
 
cùng bằng hữu một tấm lòng rực rỡ
đâu tiếc chi giọt máu ngọt phù sa
mơ tuổi trẻ cùng phơi lòng trinh bạch
vì non sông ru niệm khúc quê nhà.
(trang 158)
 
      Tôi mang máng nhớ thi sĩ Khalil Gibran có khuyên các nhà thơ : Hãy dùng cây bút ánh sáng / dùng tấm lòng ánh sáng/ để viết bày thơ ánh sáng. Nhưng phần đông chúng ta thường nghĩ rằng các nhà thơ của chúng ta đều làm thơ buồn, thơ không buồn thì người sáng tác chưa phải là thi sĩ. Có phải đương sự quá vội vàng suy tư như thế chăng. Thi tập Ru người ru đời  hầu như không có bài vui nào. Xin cùng đọc bài thơ Ta và sóng:
 
ngày tĩnh lặng bóng thời gian rụng xuống
người bỏ đi mây nước cũng vô tâm
nào khắc khoải lạnh lùng dẫu muộn
có còn chăng mùi hương cũ âm thầm
 
buông nỗi nhớ lạc loài trong gió
để bềnh bồng mất dấu lối mòn xưa
chút hương cũ dành cho người ở đó
kẻ bên trời hiu hắt ánh trăng thưa
 
vẫn tiếng gọi vọng về từ biển
sóng biển mênh mông con sóng về đâu
vẫn tiếng gọi rơi chìm vô vọng
biển cùng ta thinh lặng cúi đầu.
.
.   .
      Sau hết, những bài thơ tình trong thi tập Ru người ru đời. Chưa chắc  người yêu của thi sĩ là giai nhân tố nữ hay là kiều nga mỹ nhân. Chúng ta chỉ biết cô ta đã nhóm trong tim thi sĩ ngọn lửa tình sáng rực.  Nhưng cô ta vì cớ nầy hay cớ khác chia biệt cùng chàng để chàng nhỏ lệ trong thơ. Xin cùng đọc bài thơ Mộng ảo :
 
chim vỗ cánh mang đầy bao nỗi nhớ
bóng mây xa theo gió gọi mây ngàn
em ở đó sao chừng xa vời vợi
những dòng thơ lay lắt bóng trăng tan
thuyền đợi sóng vỗ về âm điệu cũ
dấu chân xưa in lối ngõ hoa vàng
đêm trăn trở ru từng cơn mộng ảo
chút lạnh nào se sắt gió trường giang
tìm đáy cốc nỗi buồn tan giọt rượu
hồn bỗng trôi theo bóng nguyệt mơ màng.
 
      Mùa có xuân, hạ, thu, đông. Nhưng mùa thu trong văn chương miền Bắc có nước trong trăng sáng, có hoa cúc thịnh phóng trong tiết giao mùa. Nhưng mùa thu bên Trung Hoa thuở xa xưa là mùa hành quyết các tột nhân. Và mùa thu gợi cho Mạc thi nhân một mối sầu chia biệt. Xin cùng đọc Lại chờ thu :
 
ta đứng giữa mù thu chờ đợi
nắng trên cao lấp lánh theo dòng
gió reo trên lá nghe vời vợi
những khúc tình xưa rót thật trong
 
thu đi năm ngoái vàng hoa cúc
nửa gối sầu lên đưa tiển nhau
em khóc cho hồn ta gổ mục
còn chi trao gửi đến em đâu.
 
ta nhìn ly rượu hồn thêm đắng
không uống mà say với ngẩn ngơ
em bước trong hồn ta chết lặng
đường xa trước mặt, nổi ơ thờ
 
thu đi năm ngoái dường xa lắc
ta đếm từng trăng chút võ vàng
trăng cũng bập bềnh soi vằng vặc
để ngờ chưa khuyết bóng thu sang
 
ta đứng chờ thu hay đợi em
ngày qua bỏ lại chút âm thầm
thu chưa vàng lá sầu như rụng
không gió may về vẫn lạnh căm.
(các trang 116, 117)
 
       Các bạn độc giả đứng tuổi thích gợi lại mối tình sinh viên hay mối tình học sinh trong bài thơ, trong ca khúc, Mạc Phương Đình đâu có quên thời thơ mộng của các bạn đâu. Đây nầy bài thơ Hình bóng xưa với các trang 118, 119.
 
em bước nhỏ ngọt ngào trăng mười sáu
dấu xuân xanh trong nhịp gót sen hồng
nơi bờ giậu, hoa cuối mùa nghiêng xuống
con sáo ngừng giọng hót ở bên sông
 
gió âu yếm dịu vờn trên mái tóc
rung làn mây óng ả tuổi nhung tơ
đôi mắt biếc mềm như hơi thở nhẹ
và bâng khâng như một nỗi mong chờ
 
ôm chiếc cặp, tương lai em dấu kín
ngẩng trông lên hoa phượng nở trên đầu
nắng mùa hè xoa chút hồng đôi má
khoé môi chờ dịu ngọt với ngàn câu
 
ta bắt gặp ngày xưa qua vóc dáng
em thơ ngây nhịp guốc trước sân trường
bao kỷ niệm của một thời áo trắng
vẫn đậm đà bao nỗi nhớ, niềm thương
 
xin được giữ chút hồn nhiên thơ dại
để mang theo trên những nẽo đường đời
hoa vẫn nở dẫu tháng ngày khó nhọc
lòng vẫn vui cùng sương gió em ơi.
(các trang 118 , 119)
 
.
.   .
 
      Thi tập Ru người ru đời  của  Mạc Phương Đình với đề tài gần gũi với bạn đọc. Chúng ta  gặp những đoạn đời gian truân khổ ải của tác giả như :  lòng yêu kính mẹ hiền, xa quê hương, lưu lạc xứ người, tình yêu lứa đôi  tha thiết nhưng không hạnh phúc về sau.
      Ý thơ của anh bình thường nhưng không tầm thường. Đó là sự tha thiết chân thành, không ngụy trang tâm trạng cầu kỳ bằng những hoa hòe hoa sói.  Điều đáng nói là anh tìm một ngôn ngữ rất thơ. Đa số nhà thơ làm những bài   thơ với tình ý trống trải ; chữ nghĩa cũ mèm, thiếu sự canh tân, thiếu sự sáng tạo. Hồi tiền chiến Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu và Huy Cận đã tìm ngôn ngữ thơ riêng biệt cho mình. Ngôn ngữ đó không quá hũ nút như thơ của nhóm Xuân Thu Nhã Tập, như thơ của Bùi Giáng, như thơ của Phạm Công Thiện. Thơ của Mạc Phương Đình gồm những ngôn từ huê dạng, tuy có kiến trúc hơi lạ, nhưng vẫn cho độc giả hiểu thấu để cho tâm tình giữa anh và độc giả cảm thông nhau, để cho đôi bên được thăng hoa vào một tình ý đậm đà.
 
Hồ Trường An

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết ông sẽ tổ chức một cuộc họp báo về Trung Quốc vào thứ Sáu (29/05/2020), trong bối cảnh căng thẳng Mỹ-Trung đang gia tăng vì Covid-19 và vấn đề Hong Kong.
Thứ Năm (28/05/2020), Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký thông qua sắc lệnh về các công ty mạng xã hội sau sự việc Twitter gắn cờ cảnh báo các tweet của tổng thống.
Thứ gì cao hơn dãy Hy Mã Lạp Sơn (Himalayas)?
Trung Quốc đã chặn đứng nỗ lực của chính quyền Trump kêu gọi Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc tổ chức một cuộc họp về vấn đề an ninh quốc gia Hong Kong, khiến cho mối quan hệ giữa hai cường quốc tiếp tục xấu đi.
Thứ Năm (28/05/2020), các tổ chức doanh nghiệp khuyên ông Trump khoan vội vã trong việc đáp trả Bắc Kinh, cảnh báo rằng việc tước bỏ các ưu đãi với Hong Kong sẽ gây tổn hại cho thành phố.