Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thỏ Miền Nam & Thế Hệ A Còng

13/04/201705:59:00(Xem: 4164)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thỏ Miền Nam & Thế Hệ A Còng
 

Image result for "bà mẹ miền nam"

Bà con miền Nam mình thiệt nhẹ dạ, chẳng khác gì con thỏ, hồn nhiên và vô tư...

Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh

.

Tôi đọc được câu văn dẫn thượng trong cuốn Đường Xưa Lối Cũ, do Millennium xuất bản vào năm 2009. Bìa sau của tác phẩm này có ghi “đôi dòng về tác giả” như sau:

“Sanh năm 1925 tại Phát Diệm, Ninh Bình, cử nhân Văn Khoa, tôt nghiệp CĐSP (Hà Nội 1954). Từ năm 1950, ông đã dạy nhiều trường tại Hà Nội, Đà Lạt và Sài Gòn …

Trước 1975, ông soạn nhiều sách biên khảo và giáo khoa về văn chương và lịch sử Việt Nam. Ông cũng từng là cựu nghị sĩ, thượng viện VNCH. Hiện ông ở tại miền Nam California, vẫn làm thơ và viết văn.”

 

Té ra ông anh là dân Bắc Kỳ di cư vào Nam, rồi nhận vùng đất mới làm quê hương (chắc) vì nó quá dễ thương và cũng hơi … dễ dụ: “Bà con miền Nam mình thiệt nhẹ dạ, chẳng khác gì con thỏ, hồn nhiên và vô tư...”

Trời, tưởng gì chớ “hồn nhiên” và “vô tư” thì kể như là hết biết: Ra đường gặp vịt cũng lùa. Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu!

Dân gian đã ghi như vậy từ lâu rồi mà. Sách báo, tài liệu hàn lâm cũng thế. Hổng tin, đọc thử mục lục của giai phẩm Bách Khoa số cuối cùng – phát hành vào ngày 20 tháng 4 năm 1975 – mà coi:

-       Trần Văn Khê: Nhạc Việt Xứ Người

-       Trần Văn Tích: Đọc Sách Dịch Lãn Ông

-       Tạ Tỵ: Nhận Xét Về Triển Lãm Hội Họa Pháp Quốc

-       Đỗ Hồng Ngọc: Ông Nguyễn Hiến Lê Và Tôi

-       Bách Khoa: Ông Nguyễn Hiến Lê và Tác Phẩm Thứ 100

-       Võ Phiến: Nhân Đọc Bản Thảo Cuốn “Nguyễn Hiến Lê” của Châu Hải Kỳ

-       Bách Khoa: Đàm Thoại Với Hoàng Ngọc Tuấn

-      Minh Đức Hoài Trinh: Hỏi Cô Đơn (thơ)

...

blank


Coi: miền Nam – rõ ràng – mất tới nơi rồi mà qúi vị thức giả của vùng đất này đều bình chân như vại và vẫn chỉ bận tâm đến thơ văn, hội họa, âm nhạc...  thôi. Nguyên cả số báo Bách Khoa số cuối  – số 426– chỉ có vài trang quan tâm đến giới văn nghệ sĩ (“Ai Còn Ai Mất”) trong cơn binh lửa, và một bài phỏng vấn (“Đàm Thoại Với Hoàng Ngọc Tuấn Về Huế và Ban Mê Thuột”) có liên quan đến thời cuộc nhưng nội dung ghe  như một cuộc nhàn đàm.

Hỏi: Giờ đây chúng ta không còn Ban Mê Thuột, anh có cảm tưởng thế nào?

Đáp: Dân ghiền cà phê như tôi lo lắm. Vì chắc chắn cà phê sẽ lên giá khủng khiếp ...

Hỏi: Một bài học hay một kinh nghiệm sau cuộc di tản này?

Đáp: Tóm lại, làm người Việt Nam lúc này thật quá khó khăn và khổ sở. Nhưng tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ cố vượt qua những chông gai và độc địa cay đắng nhất của chiến tranh, để sớm đến cửa ngõ của hoà bình.

Thiệt đúng (y chang) như nhận xét của Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh là “bà con miền Nam mình thiệt nhẹ dạ, chẳng khác gì con thỏ.” Ngay cả loài thỏ (e) cũng không “vô tư” quá xá như vậy. Làm gì có con thỏ nào ngồi chờ cho chó sói tới trước cửa hang, nhe răng trắng ởn (ngó thấy ghê) mà vẫn còn mơ tưởng đến chuyện sống an bình với ... sói!

Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, nói nào ngay, không phải là người dân Nam Bộ duy nhất ngây thơ đến thế đâu. Trước tháng 4 năm 1975, ở vùng đất này, biết bao người đã cùng Thượng Toạ Thích Nhất Hạnh “Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện”!

 

Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện

 
Sống trong một đất nước chiến tranh thì hoà bình, tất nhiên, là ước vọng chung của rất nhiều người. Thiên hạ chưa thấy quan tài nên chưa đổ lệ mà!

Trong một cuộc phỏng vấn, dành cho tạp chí Văn (số ra tháng Ba năm 1972) khi được hỏi “âm thanh của hai chữ hoà bình gợi lên điều gì cho ông,” thi sĩ Viên Linh đã trả lời rằng: “Tiếng máy xình xịch của xe hoả, khói phun trắng xoá đường rầy, để tôi có thể làm như Tản Đà, chán Sài gòn thì nhẩy tầu ra Hà Nội. Chán Hà Nội thì nhẩy tàu vô Nam. Và dừng lại chiếc ga xép nơi tôi đã ra đời, đã chơi đùa với con tầu sắt suốt thời niên thiếu: ga Đồng Văn.”

Tương tự, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng đã mường tượng đến một viễn ảnh thanh bình vô cùng cảm động, khiến cho thính giả phải say lòng: “Khi đất nước tôi không còn giết nhau. Trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường.”

Hơn bốn thập niên sau, sau khi chiến tranh đã chấm dứt, tuyệt nhiên, vẫn chưa thấy một đứa trẻ Việt Nam nào “đi hát đồng dao” như dự ước. Vỉa hè của xứ sở này – giờ đây – có chăng chỉ là những đứa bé đi bán hàng rong, đi bán vé số, đi ăn xin, hay đi hát dạo kiếm ăn thôi.

Lớp nhi đồng chào đời trước và sau ngày hoà bình/thống nhất cỡ chục năm (với mộng tưởng được hát đồng dao) nay đều đã thành nhân. Họ may mắn lớn lên trong một “thế giới đang bị san phẳng,” và được sở hữu mọi phương tiện truyền thông tân kỳ nên nên dễ dàng nhận ra được sự tha hoá, bất cập (và bất nhân) của chế độ hiện hành.

Những người trẻ được mệnh danh thuộc Thế Hệ A Còng ở Việt Nam, ngày nay, chả ai còn nhẹ dạ, vô tưhồn nhiên như lớp cha anh – ở miền Nam – ngày trước nữa. Ngược lại, không ít kẻ đang rất bận lòng vì những vấn đề nóng bỏng của quê hương và đang “khóc cười theo vận nước nổi trôi.”  

Xin ghi lại tên tuổi của một số bạn mà tôi đã được “nghe danh” qua những bản án (“bỏ túi”) ở Việt Nam:

Nguyễn Xuân Anh, sinh năm 1982, ra tù ngày 7/ 8/ 2013.

Nông Hùng Anh, 1983, ra tù ngày 5/6 /2014.

Trần Vũ An Bình, 1974, bị bắt tháng 12 năm 2012, đang bị giam giữ.

Nguyễn Vũ Bình, 1968, ra tù ngày 9/6/ 2007.

Nguyễn Công Chính, 1964, bị bắt ngày 28/ 4/ 2011, đang bị giam giữ.

Đoàn Huy Chương, 1985, ra tù lần hai ngày 13/ 2/ 2017.

Nguyễn Đình Cương, 1981, ra tù ngày 24/12/ 2015.

Đặng Xuân Diệu, 1979, ra tù ngày 12 /1/ 2017.

Nguyễn Hữu Quốc Duy, 1985, bị bắt tháng 11 năm 2015, đang bị giam giữ.

Nguyễn Văn Duyệt, 1980, ra tù ngày 30/1/ 2015.

Nguyễn Văn Đài, 1970, bị bắt lần thứ hai ngày 16 tháng 12 năm 2015,  đang bị giam giữ.

Lê Công Định, 1968, ra tù ngày 06/ 2/ 2013.

Nguyễn Văn Điển, 1983, bị bắt ngày 3/3/ 2017, đang bị giam giữ.

Lê Thu Hà, 1982, bị bắt ngày16/ 12/ 2015, hiện đang bị giam giữ.

Phan Thanh Hải, 1969, ra tù ngày 1/ 9/ 2013.

Phạm Bá Hải, 1968, ra tù ngày 7/ 9 / 2011.

Đỗ Thị Minh Hạnh, 1985, ra tù ngày 26/ 6/ 2014.

Bùi Thị Minh Hằng, 1964, ra tù ngày 11/ 2/ 2017.

Hồ Đức Hoà, 1974, bị bắt ngày 30/ 7/ 2011, đang bị giam giữ

Lê Anh Hùng, sinh năm 1973, bị đưa vào trại tâm thần hôm 24 tháng 1 năm 2013, và được thả ngày 5 tháng 2 cùng năm.

Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, 1981, bị bắt tháng 02 năm 2010, đang bị giam giữ

Vũ Hùng, 1966, ra tù ngày 19/ 8 / 2011.

Việt Khang, 1978, ra tù ngày 14/ 2/ 2015.

Hồ Thị Bích Khương, sinh năm 1967, ra tù ngày 15/1/ 2016.

Lê Thăng Long, 1967, ra tù ngày 10/ 6/ 2012.

Nguyễn Đặng Minh Mẫn, 1985, bị bắt ngày 31/ 7/ 2011, đang bị giam giữ.

Trần Thị Nga, 1978, bị bắt ngày 21/ 1/ 2017, đang bị giam giữ.

Phạm Thị Thanh Nghiên, 1977, ra tù ngày 18/ 9/ 2012.

Lê Thị Công Nhân, 1979, ra tù ngày 06/ 3/ 2010.

Trương Duy Nhất, 1964, ra tù ngày 26/ 5/ 2015.

Nguyễn Văn Oai, 1981, ra tù ngày 2/8/ 2015.

Hồ Văn Oanh, 1985, ra tù ngày 16/ 2/ 2014.

Lê Quốc Quân, 1971, ra tù ngày 27/6/ 2015.

Ngô Quỳnh, 1984, ra tù ngày 01/ 07/ 2011.

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, 1979, bi bắt ngày 10/10/ 2016, đang bị giam giữ.

Lê Văn Sơn, 1985, ra tù ngày 3/ 8/2015.

Phạm Hồng Sơn, 1968, ra tù ngày 30/8/ 2006.

Tạ Phong Tần, 1968, ra tù ngày 19/09/2015.

Vũ Quang Thuận, 1966, bị bắt ngày 3/3/ 2017, đang bị giam giữ.

Nguyễn Thị Minh Thúy, 1980, bị bắt tháng 5 năm 2014, đang bị giam giữ.  

Trần Thị Thúy, 1971, bị bắt tháng 8 năm 2010, đang bị giam giữ.

Trần Huỳnh Duy Thức, 1966, bị bắt ngày 24/5/ 2009, đang bị giam giữ.

Nguyễn Trung Tôn, 1972, ra khỏi tù ngày 15/01/2013.

Lê Thanh Tùng, 1968, bị bắt lần thứ hai ngày 24/12/2015, đang bị giam giữ.

Phạm Văn Trội, 1972, ra tù ngày 1/9/2012.

Nguyễn Bắc Truyển 1968 ra tù ngày 17/5/2010.

Nguyễn Tiến Trung, 1983, ra tù ngày 12/4/2014.

Lê Trí Tuệ, 1978, biệt tích từ ngày 17/05/2007.

Huỳnh Anh Trí,1971, ra tù ngày 29/12/2013, từ trần ngày 5/0/2014.

Huỳnh Anh Tú, 1968, ra tù ngày 29/12/2013.

...

Tôi vô cùng tiếc vì trí nhớ đã bạc nhược nên đã không ghi chép được tuổi của tất cả các bạn đã (và đang) phải chịu cảnh giam cầm, ở khắp mọi nơi. Đó là chưa kể đến vô số những nhân vật khác, những công dân Việt Nam đang bị bạo quyền quấy nhiễu hay đe doạ đến mạng sống (hàng ngày) chỉ vì bầy tỏ nỗi bận tâm đến sự an nguy của tổ quốc.

Vì sự giới hạn của một bài báo ngắn chúng tôi không thể (và có lẽ cũng không cần thiết) nêu danh của hết thẩy mọi người trong những trang sổ tay bé bỏng này. Chỉ xin được ngỏ lời chân thành cảm ơn các bạn  đã giúp chúng tôi, những công dân lão hạng, cảm thấy được an tâm (hơn) khi nghĩ đến tương lai đất nước.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Dù vậy, tôi vẫn cũng còn có đôi chút suy nghĩ lăn tăn. Hay nói theo ngôn ngữ của thi ca là vẫn (nghe) “sao có tiếng sóng ở trong lòng.” Chúng ta có nhất thiết phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để tạo nên một đống bùn bẩn thỉu nhầy nhụa như hiện tại không?
Một sự trùng hợp về thời gian 20 năm trong chiến tranh Việt Nam đã lập lại ở Afghanistan vào ngày 15/08/2021 với hình ảnh chiếc trực thăng di tản người Mỹ chạy thoát từ nóc Tòa Đại sứ Mỹ trong lúc phiến quân Taliban đã chiếm dinh Tổng thống không tốn một viên đạn, ngay sau khi Tổng thống Ashraf Ghani bỏ trốn ra nước ngoài.
Mùa Vu Lan hiếu hạnh – báo ân cha mẹ – là truyền thống lâu đời của người con hiếu thảo nhưng làm sao tạo được một cơ hội chia sẻ, an ủi và liên tưởng đến mặt phản diện của những đứa con bất hiếu chưa gặp duyên lành để biết ăn năn sám hối trở về với cha mẹ.
Nhận định của một số giới chức quân sự và chính trị cho đó là thất bại về tình báo từ phía Hoa Kỳ đã đánh giá sai về bộ đội cộng sản Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam, nay lại sai về quân Taliban ở Afghanistan khiến Mỹ phải vội vàng di tản. Hình ảnh máy bay trực thăng di tản người Mỹ và những người đã hợp tác với Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn cuối tháng Tư 1975 và ngày 15/8 vừa qua ra khỏi Kabul sẽ còn in dấu trong tâm thức người Mỹ và dư luận thế giới trong nhiều năm.
Trên Bloomberg Opinion ngày 26 tháng 04 năm 2021, một trong hai tác giả là Cựu Đô đốc James G. Stavridis, trình bày kịch bản này trong bài “Four Ways a China-US War at Sea Could Play Out” mà bản dịch sau đây sẽ giới thiệu. Theo Stavridis,“bốn điểm nóng” mà Hải quân Trung Quốc có khả năng tấn công là eo biển Đài Loan, Nhật Bản và Biển Hoa Đông, Biển Hoa Nam và các vùng biển xa hơn xung quanh các nước Indonesia, Singapore, Australia và Ấn Độ. Nhưng nguy cơ cao nhất là Đài Loan.
Đó là lý do cần nhắc sơ lại Hòa Ước Doha 2020, bởi nếu xem chính phủ Afghanistan là một "đồng minh" của Hoa Kỳ thì đồng minh này đã bị phản bội và bức tử ngay tháng Hai năm 2020 theo sau Hòa Ước Doha của nội các Donald Trump ký với Taliban chứ không phải hôm nay. Liệu có cần nhắc lại hòa đàm Paris vào năm 1973 đã dẫn đến sự sụp đổ báo trước của miền Nam Việt Nam vào tháng Tư năm 1975? Và giới sử gia thường nhắc lại vai trò của tổng thống Richard Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger trong việc bỏ rơi Nam Việt Nam chứ không phải tổng thống Gerald Ford, vị tổng thống Mỹ đương nhiệm năm 1975.
Theo dõi tin tức từ quốc gia này, tấm lòng của chúng tôi hướng về người dân Afghanistan và những người tị nạn đang bị buộc phải bỏ trốn để giữ mạng sống. Hơn nữa, chúng tôi tha thiết quan ngại đến số phận của hàng triệu phụ nữ và trẻ em gái của xứ sở này, vì họ phải đối diện với một tương lai đen tối khi gặp trở lại sự đối xử tàn tệ của nhà nước Taliban.
Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến. Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó
Tổng Thống Cộng Hòa Liên bang Đức, Frank-Walter Steinmeier mô tả ngày 13 tháng 8 năm 1961, ngày bắt đầu xây dựng Bức tường Berlin (ghi chú thêm: Người Việt Nam gọi là Bức Tường Ô Nhục Bá Linh), là "một ngày định mệnh cho người Đức chúng tôi và cho thế giới". Vào thời điểm đó, "sự phân chia thế giới trong Chiến tranh Lạnh đã được củng cố theo đúng nghĩa đen", ông nói hôm thứ Sáu 13.8.2021 tại lễ niệm xây dựng Bức tường Berlin.
Nhưng điều kiện quan trọng nhất để Việt Nam không bị tụt hậu kinh tế và hàng chục triệu công nhân có thể trở lại làm việc tại các khu công nghiệp, sản phẩm nông-lâm-ngư tiêu thụ được, lưu thông, vận tải được hồi sinh, người dân tự tin đi làm việc, học sinh an tâm đến lớp… là mọi người cần phải chích ngừa loại ưu tiên 1 sẽ có thuốc đầy đủ và được chích miễn phí nhanh chóng. Sau đó là đến toàn xã hội và trẻ em cũng cần phải được tiêm ngừa. Ngược lại, nếu Lãnh đạo chỉ biết hô chống dịch bằng “khẩu hiệu” thì Việt Nam sẽ rước lấy thất bại nhãn tiền.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.