Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thỏ Miền Nam & Thế Hệ A Còng

13/04/201705:59:00(Xem: 3678)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thỏ Miền Nam & Thế Hệ A Còng
 

Image result for "bà mẹ miền nam"

Bà con miền Nam mình thiệt nhẹ dạ, chẳng khác gì con thỏ, hồn nhiên và vô tư...

Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh

.

Tôi đọc được câu văn dẫn thượng trong cuốn Đường Xưa Lối Cũ, do Millennium xuất bản vào năm 2009. Bìa sau của tác phẩm này có ghi “đôi dòng về tác giả” như sau:

“Sanh năm 1925 tại Phát Diệm, Ninh Bình, cử nhân Văn Khoa, tôt nghiệp CĐSP (Hà Nội 1954). Từ năm 1950, ông đã dạy nhiều trường tại Hà Nội, Đà Lạt và Sài Gòn …

Trước 1975, ông soạn nhiều sách biên khảo và giáo khoa về văn chương và lịch sử Việt Nam. Ông cũng từng là cựu nghị sĩ, thượng viện VNCH. Hiện ông ở tại miền Nam California, vẫn làm thơ và viết văn.”

 

Té ra ông anh là dân Bắc Kỳ di cư vào Nam, rồi nhận vùng đất mới làm quê hương (chắc) vì nó quá dễ thương và cũng hơi … dễ dụ: “Bà con miền Nam mình thiệt nhẹ dạ, chẳng khác gì con thỏ, hồn nhiên và vô tư...”

Trời, tưởng gì chớ “hồn nhiên” và “vô tư” thì kể như là hết biết: Ra đường gặp vịt cũng lùa. Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu!

Dân gian đã ghi như vậy từ lâu rồi mà. Sách báo, tài liệu hàn lâm cũng thế. Hổng tin, đọc thử mục lục của giai phẩm Bách Khoa số cuối cùng – phát hành vào ngày 20 tháng 4 năm 1975 – mà coi:

-       Trần Văn Khê: Nhạc Việt Xứ Người

-       Trần Văn Tích: Đọc Sách Dịch Lãn Ông

-       Tạ Tỵ: Nhận Xét Về Triển Lãm Hội Họa Pháp Quốc

-       Đỗ Hồng Ngọc: Ông Nguyễn Hiến Lê Và Tôi

-       Bách Khoa: Ông Nguyễn Hiến Lê và Tác Phẩm Thứ 100

-       Võ Phiến: Nhân Đọc Bản Thảo Cuốn “Nguyễn Hiến Lê” của Châu Hải Kỳ

-       Bách Khoa: Đàm Thoại Với Hoàng Ngọc Tuấn

-      Minh Đức Hoài Trinh: Hỏi Cô Đơn (thơ)

...

blank


Coi: miền Nam – rõ ràng – mất tới nơi rồi mà qúi vị thức giả của vùng đất này đều bình chân như vại và vẫn chỉ bận tâm đến thơ văn, hội họa, âm nhạc...  thôi. Nguyên cả số báo Bách Khoa số cuối  – số 426– chỉ có vài trang quan tâm đến giới văn nghệ sĩ (“Ai Còn Ai Mất”) trong cơn binh lửa, và một bài phỏng vấn (“Đàm Thoại Với Hoàng Ngọc Tuấn Về Huế và Ban Mê Thuột”) có liên quan đến thời cuộc nhưng nội dung ghe  như một cuộc nhàn đàm.

Hỏi: Giờ đây chúng ta không còn Ban Mê Thuột, anh có cảm tưởng thế nào?

Đáp: Dân ghiền cà phê như tôi lo lắm. Vì chắc chắn cà phê sẽ lên giá khủng khiếp ...

Hỏi: Một bài học hay một kinh nghiệm sau cuộc di tản này?

Đáp: Tóm lại, làm người Việt Nam lúc này thật quá khó khăn và khổ sở. Nhưng tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ cố vượt qua những chông gai và độc địa cay đắng nhất của chiến tranh, để sớm đến cửa ngõ của hoà bình.

Thiệt đúng (y chang) như nhận xét của Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh là “bà con miền Nam mình thiệt nhẹ dạ, chẳng khác gì con thỏ.” Ngay cả loài thỏ (e) cũng không “vô tư” quá xá như vậy. Làm gì có con thỏ nào ngồi chờ cho chó sói tới trước cửa hang, nhe răng trắng ởn (ngó thấy ghê) mà vẫn còn mơ tưởng đến chuyện sống an bình với ... sói!

Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, nói nào ngay, không phải là người dân Nam Bộ duy nhất ngây thơ đến thế đâu. Trước tháng 4 năm 1975, ở vùng đất này, biết bao người đã cùng Thượng Toạ Thích Nhất Hạnh “Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện”!

 

Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện

 
Sống trong một đất nước chiến tranh thì hoà bình, tất nhiên, là ước vọng chung của rất nhiều người. Thiên hạ chưa thấy quan tài nên chưa đổ lệ mà!

Trong một cuộc phỏng vấn, dành cho tạp chí Văn (số ra tháng Ba năm 1972) khi được hỏi “âm thanh của hai chữ hoà bình gợi lên điều gì cho ông,” thi sĩ Viên Linh đã trả lời rằng: “Tiếng máy xình xịch của xe hoả, khói phun trắng xoá đường rầy, để tôi có thể làm như Tản Đà, chán Sài gòn thì nhẩy tầu ra Hà Nội. Chán Hà Nội thì nhẩy tàu vô Nam. Và dừng lại chiếc ga xép nơi tôi đã ra đời, đã chơi đùa với con tầu sắt suốt thời niên thiếu: ga Đồng Văn.”

Tương tự, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng đã mường tượng đến một viễn ảnh thanh bình vô cùng cảm động, khiến cho thính giả phải say lòng: “Khi đất nước tôi không còn giết nhau. Trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường.”

Hơn bốn thập niên sau, sau khi chiến tranh đã chấm dứt, tuyệt nhiên, vẫn chưa thấy một đứa trẻ Việt Nam nào “đi hát đồng dao” như dự ước. Vỉa hè của xứ sở này – giờ đây – có chăng chỉ là những đứa bé đi bán hàng rong, đi bán vé số, đi ăn xin, hay đi hát dạo kiếm ăn thôi.

Lớp nhi đồng chào đời trước và sau ngày hoà bình/thống nhất cỡ chục năm (với mộng tưởng được hát đồng dao) nay đều đã thành nhân. Họ may mắn lớn lên trong một “thế giới đang bị san phẳng,” và được sở hữu mọi phương tiện truyền thông tân kỳ nên nên dễ dàng nhận ra được sự tha hoá, bất cập (và bất nhân) của chế độ hiện hành.

Những người trẻ được mệnh danh thuộc Thế Hệ A Còng ở Việt Nam, ngày nay, chả ai còn nhẹ dạ, vô tưhồn nhiên như lớp cha anh – ở miền Nam – ngày trước nữa. Ngược lại, không ít kẻ đang rất bận lòng vì những vấn đề nóng bỏng của quê hương và đang “khóc cười theo vận nước nổi trôi.”  

Xin ghi lại tên tuổi của một số bạn mà tôi đã được “nghe danh” qua những bản án (“bỏ túi”) ở Việt Nam:

Nguyễn Xuân Anh, sinh năm 1982, ra tù ngày 7/ 8/ 2013.

Nông Hùng Anh, 1983, ra tù ngày 5/6 /2014.

Trần Vũ An Bình, 1974, bị bắt tháng 12 năm 2012, đang bị giam giữ.

Nguyễn Vũ Bình, 1968, ra tù ngày 9/6/ 2007.

Nguyễn Công Chính, 1964, bị bắt ngày 28/ 4/ 2011, đang bị giam giữ.

Đoàn Huy Chương, 1985, ra tù lần hai ngày 13/ 2/ 2017.

Nguyễn Đình Cương, 1981, ra tù ngày 24/12/ 2015.

Đặng Xuân Diệu, 1979, ra tù ngày 12 /1/ 2017.

Nguyễn Hữu Quốc Duy, 1985, bị bắt tháng 11 năm 2015, đang bị giam giữ.

Nguyễn Văn Duyệt, 1980, ra tù ngày 30/1/ 2015.

Nguyễn Văn Đài, 1970, bị bắt lần thứ hai ngày 16 tháng 12 năm 2015,  đang bị giam giữ.

Lê Công Định, 1968, ra tù ngày 06/ 2/ 2013.

Nguyễn Văn Điển, 1983, bị bắt ngày 3/3/ 2017, đang bị giam giữ.

Lê Thu Hà, 1982, bị bắt ngày16/ 12/ 2015, hiện đang bị giam giữ.

Phan Thanh Hải, 1969, ra tù ngày 1/ 9/ 2013.

Phạm Bá Hải, 1968, ra tù ngày 7/ 9 / 2011.

Đỗ Thị Minh Hạnh, 1985, ra tù ngày 26/ 6/ 2014.

Bùi Thị Minh Hằng, 1964, ra tù ngày 11/ 2/ 2017.

Hồ Đức Hoà, 1974, bị bắt ngày 30/ 7/ 2011, đang bị giam giữ

Lê Anh Hùng, sinh năm 1973, bị đưa vào trại tâm thần hôm 24 tháng 1 năm 2013, và được thả ngày 5 tháng 2 cùng năm.

Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, 1981, bị bắt tháng 02 năm 2010, đang bị giam giữ

Vũ Hùng, 1966, ra tù ngày 19/ 8 / 2011.

Việt Khang, 1978, ra tù ngày 14/ 2/ 2015.

Hồ Thị Bích Khương, sinh năm 1967, ra tù ngày 15/1/ 2016.

Lê Thăng Long, 1967, ra tù ngày 10/ 6/ 2012.

Nguyễn Đặng Minh Mẫn, 1985, bị bắt ngày 31/ 7/ 2011, đang bị giam giữ.

Trần Thị Nga, 1978, bị bắt ngày 21/ 1/ 2017, đang bị giam giữ.

Phạm Thị Thanh Nghiên, 1977, ra tù ngày 18/ 9/ 2012.

Lê Thị Công Nhân, 1979, ra tù ngày 06/ 3/ 2010.

Trương Duy Nhất, 1964, ra tù ngày 26/ 5/ 2015.

Nguyễn Văn Oai, 1981, ra tù ngày 2/8/ 2015.

Hồ Văn Oanh, 1985, ra tù ngày 16/ 2/ 2014.

Lê Quốc Quân, 1971, ra tù ngày 27/6/ 2015.

Ngô Quỳnh, 1984, ra tù ngày 01/ 07/ 2011.

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, 1979, bi bắt ngày 10/10/ 2016, đang bị giam giữ.

Lê Văn Sơn, 1985, ra tù ngày 3/ 8/2015.

Phạm Hồng Sơn, 1968, ra tù ngày 30/8/ 2006.

Tạ Phong Tần, 1968, ra tù ngày 19/09/2015.

Vũ Quang Thuận, 1966, bị bắt ngày 3/3/ 2017, đang bị giam giữ.

Nguyễn Thị Minh Thúy, 1980, bị bắt tháng 5 năm 2014, đang bị giam giữ.  

Trần Thị Thúy, 1971, bị bắt tháng 8 năm 2010, đang bị giam giữ.

Trần Huỳnh Duy Thức, 1966, bị bắt ngày 24/5/ 2009, đang bị giam giữ.

Nguyễn Trung Tôn, 1972, ra khỏi tù ngày 15/01/2013.

Lê Thanh Tùng, 1968, bị bắt lần thứ hai ngày 24/12/2015, đang bị giam giữ.

Phạm Văn Trội, 1972, ra tù ngày 1/9/2012.

Nguyễn Bắc Truyển 1968 ra tù ngày 17/5/2010.

Nguyễn Tiến Trung, 1983, ra tù ngày 12/4/2014.

Lê Trí Tuệ, 1978, biệt tích từ ngày 17/05/2007.

Huỳnh Anh Trí,1971, ra tù ngày 29/12/2013, từ trần ngày 5/0/2014.

Huỳnh Anh Tú, 1968, ra tù ngày 29/12/2013.

...

Tôi vô cùng tiếc vì trí nhớ đã bạc nhược nên đã không ghi chép được tuổi của tất cả các bạn đã (và đang) phải chịu cảnh giam cầm, ở khắp mọi nơi. Đó là chưa kể đến vô số những nhân vật khác, những công dân Việt Nam đang bị bạo quyền quấy nhiễu hay đe doạ đến mạng sống (hàng ngày) chỉ vì bầy tỏ nỗi bận tâm đến sự an nguy của tổ quốc.

Vì sự giới hạn của một bài báo ngắn chúng tôi không thể (và có lẽ cũng không cần thiết) nêu danh của hết thẩy mọi người trong những trang sổ tay bé bỏng này. Chỉ xin được ngỏ lời chân thành cảm ơn các bạn  đã giúp chúng tôi, những công dân lão hạng, cảm thấy được an tâm (hơn) khi nghĩ đến tương lai đất nước.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Té ra có hai thứ “người lạ” lận nha: tụi ngoài biển cả mênh mông là dân Nước Lạ, đã đành; đám ở trong phố phường chật hẹp thì toàn là dân bản xứ. Cả hai đều hành động theo cùng một phương châm: “lấy thịt đè người” – dù thuộc hai thực thể khác nhau: Côn Đồ Quốc Gia & Côn Đồ Quốc Tế.
Chiều nay, sau thời tọa thiền, hành giả thiền hành bên bờ suối, nghe suối xứ người bình yên róc rách tuôn, chợt quặn lòng nhớ tới những dòng sông, dòng suối nơi quê nhà từng bị nhiễm độc! Cũng khoảng thời điểm này, hai năm trước, suốt dọc trên 200 cây số bãi biển miền Trung, bỗng nhiên cá biển đủ loại, chết hàng loạt, xác trôi giạt vào bờ, trắng xóa! Rồi chim trời cũng rũ cánh, lao xuống, nằm chết bên cá, do chim đói lòng, đã ăn xác cá nhiễm độc! Rồi ngư dân sống ven biển, buổi sáng dong thuyền ra khơi, buổi chiều buồn bã quay về, không kiếm được chi để đổi lấy gạo, muối, nuôi gia đình!
Như bao nhiêu triệu người Việt Nam tị nạn khác, tôi là kẻ vượt biên và còn sống sót nhờ vào may mắn; bởi thế, mọi chuyện (xa gần) có liên quan đến ranh giới của đất nước này đều nhớ như in: “Nguyên Hồng là người phàm tục. Anh thích nhắm ngon, thích rượu ngon, nhưng thích nhất là khi có những thứ đó mà quanh anh là bè bạn. Nhưng trong bữa ăn khoái khẩu hôm ấy anh chỉ lẳng lặng uống. Sau mỗi miếng nhắm anh chống đũa, tư lự. Có vẻ anh buồn. – Bên Tàu loạn to. Nhiều người chạy sang ta, chạy loạn hay là chạy chính phủ không biết, trông tội lắm. – anh nói, giọng rầu rầu.
Lời người dịch: Tác giả cảnh báo các nhận định về địa chính trị của Trung Quốc trong các lĩnh vực giáo dục, nhân quyền, du lịch, an ninh cho Hồng Kông và hoạt động của doanh nghiệp Hoa Vi đối với Anh quốc, Hoa Kỳ, Úc và Nhật Bản là sai lầm, nhưng không đề cập hai nguy cơ khác có liên quan đến Việt Nam, đó là tranh chấp Biển Đông và vùng hạ lưu sông Mekong. Viễn cảnh Trung Quốc sẽ tiếp tục trỗi dậy và thách thức nguyên trạng khu vực trong thời điểm đại dịch Covid-19 là khó lường đoán. Nhưng nếu không lo đối phó với các diễn biến mới này, Việt Nam sẽ phải gánh chịu hiểm hoạ nghiêm trọng.
Thế rồi ngày quốc khánh cũng trôi qua, có điều năm nay lặng lẽ và buồn quá, suốt mấy trăm năm lập quốc, chưa bao giờ lễ quốc khánh lặng lẽ và vắng vẻ như thế. Cơn dịch Coronavirus và phong trào BLM đã làm cho ngày vui lập quốc lâm vào khủng hoảng, chia rẽ và đầy bạo loạn.
Là một học sinh từng say mê môn sử, tôi không thể tưởng tượng được, có một ngày môn học đó bị khai tử!
Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa cướp đất của người dân, vừa dâng đất cho Tàu Cộng. Việc cướp đất của người dân xảy ra một thời gian rất dài trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tạo ra một khối dân oan khổng lồ đầy căm hận. Đã có nhiều trường hợp người dân bị giết trong hành vi cướp đất. Về việc bán đất cho Tàu Cộng, hiện nay có 149 doanh nghiệp Trung Quốc sở hữu đất trọng yếu về chiến lược quốc gia, ở biên giới Việt Trung và vùng ven biển thuộc 22 tỉnh và thành phố.
Người viết vốn dị ứng với xã hội chủ nghĩa và cảnh nhà nước lạm dụng quyền lực cho nên nghe đòi mở rộng vai trò của chính quyền để phục vụ xã hội là dán nhãn Mác-Xít theo cách nhìn nhà nước chẳng những không giải quyết mà còn tạo thêm vấn nạn (Government is not the solution to our problem, government is the problem – như Tổng Thống Ronald Reagan phát biểu). Tuy nhiên nghĩ lại thì oan uổng cho thành phần cấp tiến (progressive) khi một số đông trong đó vừa chống tư bản bất công lại chống độc tài cộng sản. Cho nên thiết tưởng cần phân biệt giữa hai mô hình Dân Chủ Xã Hội và Xã Hội Chủ Nghĩa, cọng thêm một khuông mẫu mới là Xã Hội Chủ Nghĩa theo màu sắc Trung Quốc.
Lạ nhỉ! Sao một công dân của một quốc gia Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc mà lại làm đơn xin “vào lại trại cải tạo”, hả Giời? Mà hạnh phúc ở Việt Nam đâu có quá xa vời hay quá tầm tay với của bất cứ ai. Nó tràn lan khắp hang cùng ngõ hẹp và tràn ngập khắp mọi nhà mà. Nơi đất nước này, đã có lúc, hễ ra ngõ là gặp anh hùng. Còn bây giờ, cứ mở mắt ra là thấy ngay hạnh phúc:
Lễ 14-7 hay Quốc khánh hằng năm cử hành trọng thể vì nó tượng trưng sự thống nhứt dân tộc, lịch sử và những giá trị lớn của đất nước. Lễ được cử hành theo truyền thống bằng một cuộc diễn binh lớn trên đại lộ Champs-Élysée, trước Tổng thống, trước nhiều quan khách và đông đảo dân chúng đầy hào hứng. Vì ảnh hưởng đại dịch vũ hán, lễ 14-7 năm nay thay đổi, nhẹ về hình thức, tập trung vào ý nghĩa vinh danh đội ngũ y tế, dân sự và quân sự, đã tận tình vì thiên chức, quên mình trước nguy hiểm chết người, lao mình vào việc chữa bịnh dịch Covid-19 cực kỳ nguy hiểm để cúu mạng người..
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.