Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Khui Ra Vài Sự Thật Về Fidel: Fidel Castro Chỉ Có Một Vợ Nhưng Có 35,000 Đàn Bà

17/12/201600:00:00(Xem: 9172)

Fidel Castro là lãnh tụ cộng sản cầm quyền lâu đời nhứt. Đặc biệt hơn, ông là lãnh tụ có học nhứt và thuộc giai cấp trưởng giả. Báo New York Post năm 2008 cho ông cái biệt danh là “Người đàn ông có 35,000 đàn bà”.

Các sử gia cho rằng Fidel có ít nhứt 7 người con. Nhưng những người biết chuyện thì bảo số con của ông không thể đếm chính xác được.

Khi có ai hởi về đời tư, Fidel phản đối “Là con người cách mạng, tôi không chấp nhận chuyện gia đình chen vào chánh trị. Năm 2002, ông tâm sự với nhà điện ảnh mỹ OlivierStone “Những câu chuyện về những Đệ nhứt phu nhơn, tôi thấy nó thật sự lố bịch”.

Về tài sản riêng, Fidel chỉ có cái chòi câu cá nhưng sở hữu nhiều cơ ngơi khác, và đô-la mỹ, ông có không dưới 900 triệu. Có thể nói đảo quốc Cuba là tài sản riêng trọn vẹn của Fidel Castro, về của cải vât chất và cả con người.

Juan Reinaldo Sanchez, người cận vệ của Fidel Castro suốt 17 năm, và Axel Gylden đã hơp tác viết “La vie cachée de Fidel Castro” (Cuộc đời dấu kín của Fidel Castro, do Michel Lafon Paris xuất bản, 2014) kể lại sự thật về đời sống của nhà lãnh tụ cộng sản ở La Havane. Như một trái bom nổ. Những người còn mơ hồ về huyền thoại Fidel Castro khi đọc qua, hay tới Cuba thăm do dân chúng tại chổ sẽ vở mộng. Có khi những người cộng sản cũng đã biết sự thật nhưng họ không thể nói ra, vẫn phải ca ngợi như Kim Ngân ở Viêt nam hay Ségolène Royal ở Paris. Vì phe xã hội chủ nghĩa không còn mấy người, vừa phải bênh nhau theo tập quán, vừa quen dùng lưởi gổ để dễ nói lấy được.

Fidel Castro và đời sống tình dục

Cũng như Hồ Chí Minh, với Fidel Castro không thể nói “đời sống tình ái” được, mà phải nói họ sống tình dục. Tức muốn nói với họ chỉ có đời sống hoàn toàn sinh lý chớ không có ý niệm về nhân bản. Thật ra, người cộng sản là con đẻ của nền văn minh du mục. Họ chỉ biết chiếm đọat, hưởng thụ, xong, vứt đi, chiếm đoạt cái mới. Với ngưòi cộng sản, không có vấn đề xây dựng. Nhưng Fidel Castro khác hơn Hồ Chí Minh vì có học, học giỏi vì có Tiến sĩ Luật và làm Luật sự, thuộc gia đình trưởng giả, nên đã có vợ, bà Mirta Diaz-Balart, sinh viên Triết, con của một gia đình khá giả, cưới năm 1948, mẹ của con trai cả Fidelito của ông. Và chỉ cưới một lần duy nhứt. Năm 1981, ông sống chung với Lala, cô giáo, và có với bà này 5 người con. Ông nhìn nhận điều này. Còn sau này, từ khi ông có biệt danh “Người đàn ông có 35 000 đàn bà” thì ông chỉ biết đàn bà và tình dục mà thôi. Đó là điều mà Fidel Castro giử kín. Khác hẳn với người em Raul chỉ có một người vợ.

Báo chí mỗi khi có dịp gặp Fidel Castro đều hởi ông về đàn bà. Ông có bao nhiêu người đàn bà, ông sống với họ như thế nào, hạnh phúc không? Có lần, ông thú nhận là đời ông chỉ biết có đàn bà mà thôi.

Ngay lúc trước khi trở thành người lãnh tụ cách mạng, Fidel Castro đã theo đuổi nhiều người. Ông thích chọn những phụ nữ tóc vàng nhưng cững không bỏ các bà lai căn. Ông rất dễ tánh vì người cách mạng bao dung mà! Trong thập niên 50-60, ông tìm chinh phục các cô Mỹ, Đức, Ý. Trong thập niên 70, ông liên hệ với cô đào nổi tiếng của Ý là Gina Lollobrigida. Lên nắm quyền được ít lâu, Fidel Castro bắt bồ với một cố gái trẻ người Đức, Marita Lorenz Người đàn bà này đã kể lại trong một quyển sách là bà bị CIA thuyết phục ám sát Fidel Castro. Năm 1964, ông đốp cô đầm Evelyne Pisier, em của cô đào Marie-France Pisier của Pháp, trở thành tình địch của sinh viên Bernard Kouchner nhơn chuyến thăm viếng Cuba, sau này lãnh đạo Médecins sans Frontières và Médecins du Monde, và Bộ trưởng trong nhiều chánh phủ tả và hữu của Pháp. Nhà văn Evelyne Pisier sống chung với Fidel Castro bốn năm, kể lại Fidel Castro thật sự không ưa cộng sản, nhưng phải làm cộng sản và dựa vào Mạc-tư-khoa để cầm quyền, làm lãnh tụ cách mạng. Người cộng sản nào cũng đều giống người Hy-lạp giử thần thoại nhưng không bao giờ tin có ông bà Thần trong thần thoại.

Trong số những người đàn bà bồ bịch của Fidel, có một người ảnh hưởng mạnh đền vai trò lãnh tụ cách mạng của Fidel Castro, đó là bà Celia Sanchez. Fidel Castro gặp trong chiến khu năm 1957. Bà là cánh tay mặt của ông, người chia sẻ suy nghĩ, tâm tư của ông, bí thư của ông, theo sát ông cho tới khi bà chết vì một chứng ung thư năm 1980.

Fidel nhờ căn bản là người có học và thuộc gia thế trưởng giả nên còn giử được ưu điểm cưới vợ một lần, sống với nhiều tình nhơn, có đông con, và đều nhìn nhận tuy không cưới hỏi. Ông nổi tiếng chạy theo đàn bà. Đúng; Tuy bề ngơài, trông ông, ai cũng nghĩ khó chinh phục phụ nữ vì bộ râu như rừng mía cuba, bộ y phục muôn năm không thay đổi, nhưng tài ăn nói của ông, có thể kéo dài từ sang tới chiều, chẳng những làm say mê dân chúng mà còn làm say đắm không biết bao nhiều trái tim phụ nữ. Chính ông chinh phục phụ nữ, chớ không phải cán bộ tuyển chọn, tiến cử như trường hợp của Mao Trạch-đông và Hồ Chí Minh. Riêng Hồ Chí Minh còn làm bộ “bác yêu cháu ngoan.” để dê cháu và làm ẩu cháu không biết xấu hổ.

Sau khi Fidel Castro chết, có 2 người Canada tới đảo để điều tra tại chổ về đới sống với đàn bà của Fidel Castro, dưới hình thức du khách. Họ vả vờ tìm hỏi mua ci-gà Partagas. Và họ đã phải mua khá nhiều để làm quen những người bán ci-gà, từ đây mới có những thông tin về đời sống tình dục của Fidel Castro.

Năm 1993, nhà báo Ann Louise Bardach có hỏi Fidel Castro tới nay ông có được bao nhiêu người con. Ông vui vẻ trả lời “Nửa bộ lạc”. Cách đặc tên con để cho dễ nhận ra mà vẫn tránh mang họ Castro, ông chợn cho mỗi đứa một tên bắt đầu bằng Fidel… như Fidelito,.., Fidelita,…

Cũng giống như nhiều người dân Cuba, Fidel Castro cho rằng vấn đề “sex” là điều của ông thủ đắc được. Như của Trời ban thưởng riêng cho ông. Hơn nữa, đối với dân Cuba, “sex.” còn là một môn thể thao quốc gia. Fidel ngủ với mọi người đàn bà. Có thể nói đàn bà cuba trên đảo là của ông hết cả. Nên không thể nói chính xác là ông có bao nhiều đằn bà. 35 000 bà hay trăm ngàn, hay vài triệu ….?

Ông có một đứa con trai với vợ của một vị Bộ trưởng của ông. Chuyện như vậy đã trở nên bình thường ở Cuba. Với Fidel Castro, chuyện tình dục không bao giờ ông biết đủ.

Năm 2011, tờ Daily Beast viết “Fidel Castro ngủ với một bà khi ăn sáng, một bà khác khi ăn trưa và một bà khác nữa khi ăn tối”.

Từ năm 2010, chuyện tình hay tình dục của Fidel không còn là điều cấm kỵ nữa. Trái lại, đó là hồ sơ đã được mở ra cho mọi người. Nó trở thành những huyền thoại về Fidel Castro. Mà thật vậy. Ở ngay Miami, không thiếu người cu-ba có người anh em họ hay chị em họ ở trên đảo và chắc chắn những người này không tránh khỏi là con rơi của Fidel Castro.

Cái thú của Fidel Castro trong chuyện tình dục – không biết phải là một thứ bịnh tâm thần hay không – thích ngủ với bàn bà đang có chồng. Ông bảo ngủ với các cô gái hoặc các bà độc thân quá dễ nên không thích thú gì cả. Phải chăng ông muốn tỏ ra người có quyền lực ngay cả trong việc tình dục nữa?

Có một bà không ngần ngại tuyên bố “Trong đời tồi, tôi chỉ thương có 2 người: chồng của tôi và Fidel”.

Người tài xế đưa 2 người Canada đi điều tra chuyện đời tư cùa Fidel Castro bổng nói ra như để đóng góp vào thiên điều tra “Fidel ngủ với bao nhiều đàn bá? Chuyện này rỏ đây “Dì của tôi ngủ với ông ấy, bà ngoại của tôi ngủ với ông ấy, cậu của tôi ngủ với ông ấy. Và tôi cũng ngủ với ông ấy ngay trên chiếc xe này đây”.

Chưyện Fidel Castro ngủ cả với đàn ông? Nhưng Cuba từ rất lâu được biết là một nươc rất cởi mở về chuyện tình dục, chuyện đồng tính. Ngày nay, luật pháp cho phép đám cưới đồng tính.

Buôn ma túy, công kich nếp sống tư bản

Đời sống của Fidel Castro trên đảo đúng là đời sống của những nhà tỷ phú. Nhưng được giử kín đáo. Fidel luôn luôn công kích nếp sống của tư bản. Nhưng ông lại sống như một vị hoàng đế. Fidel kêu gọi dân Cuba hảy nổ lực đóng góp và hi sinh thêm nữa. Ông băt buộc dân chúng sống thắc lưng buộc bụng.

Fidel Casto được người em Raul, người thay thế Fidel đang cầm quyền ở Cuba, xem như cha. Hai người gặp nhau mỗi ngày, không phải để bàn chuyện đất nước, mà đó là một nhu cầu.

Fidel Castro trực tiếp điều khiển việc buốn bán ma túy. Tiền kiếm được là của riêng của ông ta.

Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam để tang

Đảng cộng sản ở Hà nội để tang Fidel Castro và còn ban hành quốc tang, điều thật xấu hổ. T.T. Hollande của Pháp phê bình Fidel Castro về vấn đề nhơn quyền, nhưng lại gởi bà bồ cũ, Ségolène Royal, Tổng trưởng môi trường, bay qua Cuba phân ưu và còn ca ngợi Fidel Castro là vị lãnh tụ tuyệt vời. Bị chất vấn, bà nổi nóng “Một nước hằng năm có 4 triệu du khách tới, làm sao bảo đó là nước độc tài được? Ai bảo Cuba có tù chánh trị, vi phạm nhơn quyền, hãy cho tôi danh sách, tôi sẽ can thiệp cho”.

Tổ chức phóng viên không biên giới gởi ngay một bản danh sách nhà văn, ký giả bị cầm tù.

Ségolène Royal im. Báo chí nín thinh sau khi phổ biến những lời tuyên bố của Ségolène Royal.

Chỉ có người xã hội chủ nghĩa là can đảm nói những điều không cần tra vấn lương tâm của mình. Hay có muốn tra vấn, nhưng lại chẳng có lương tâm!

Nguyễn thị Cỏ May

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.