Hôm nay,  

Phỏng Vấn Họa Sĩ Nguyên Khai: Tranh Quý Nhờ Màu Sắc Quý

10/09/201600:02:00(Xem: 4795)
Tôi gặp hoạ sĩ Nguyên Khai trong một buổi triển lãm chung của ông với hoạ sĩ Ann Phong một buổi chiều Bolsa. Tôi cũng được xem bức tranh tranh trừu tượng “Rain” của ông trong buổi triển lãm “Những Thế Hệ: 40 Sắc Màu Giữa Đen Và Trắng” do VAALA tổ chức. Bức “Rain” của ông miêu tả những hạt mưa rơi đã gây ấn tượng cho tôi. Những hạt thuỷ tinh rơi xuống cho những giọt nước mắt dấy lên. Tôi hình dung được trong gam màu nóng đỏ những máu và nước mắt dân tôi đã đổ xuống qua hơn nửa thế kỷ chiến tranh. Những nhọc nhằn đoạ đầy chưa bao giờ vơi, được ông diễn đạt lại thật sâu sắc.

Nguyên Khai tên thật Nguyễn Phước Bửu Khải, sinh năm 1940 tại Huế. Ông học trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế và Sài Gòn. Là một trong những sáng lập viên Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam, ông đoạt Huy Chương đồng triển lãm Hội Hoạ Mùa Xuân 1963. Hiện định cư tại California. Đã tham dự nhiều cuộc triển lãm tại Hoa Kỳ và các quốc gia khác như Ấn Độ, Ba Tây, Nhật, Pháp và Việt Nam. Bạn đọc có thể tham khảo thêm thế giới tranh của ông qua nguyenkhaiart.com

Hôm nay tôi có cơ hội nói chuyện với người đàn ông cầm cọ suốt quãng đời mình. Người đã tạo nên “các thiếu nữ cổ dài” thời xưa và những tác phẩm đa dạng trong phong cách và chất liệu bây giờ.

blank
Trịnh Thanh Thủy với Nguyên Khai và tranh của ông.

Trịnh Thanh Thủy: T rất vui được nói chuyện với anh, người hoạ sĩ mà T được nghe tiếng từ ngày còn ở Việt Nam. Xin cho T hỏi, anh bắt đầu niềm đam mê hội hoạ của mình bao giờ và bước vào như thế nào?

Nguyên Khai: Ngay từ thời thơ ấu tôi đã đam mê hội hoạ nhưng không có điều kiện phát triển. Năm 17 tuổi, tình cờ tôi biết đến trường Mỹ Thuật Huế do Linh mục Cao Văn Luận thành lập năm 1957, nên xin theo học. Hồi đó muốn vào, phải học dự bị xong mới thi vào năm thứ nhất và tiếp tục lên trên. Vào trường năm 1959, tôi đã vẽ tranh và có triển lãm. Nhờ đọc báo Sáng Tạo, tôi nghĩ miền nam mới chính là đất quy tụ và phát huy được văn hoá và mỹ thuật, nên xin gia đình vào Sài Gòn và theo học ở trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn năm 1962. Năm 1963, bức tranh “Hoa hồng, chim họa mi và đôi ta” mà tôi gởi đi dự thi đoạt huy chương đồng giải “Văn học nghệ thuật toàn quốc” của phủ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, thời đệ nhất cộng hoà. Tôi không dám ghi tên thật, vì thời đó luật trong trường Mỹ Thuật là sinh viên đang theo học cấm không được gởi tranh dự thi, tôi liều gởi đi đại. Sau đó giải thưởng này đã như một nấc thang, một bàn đạp giúp tôi bước vào thế giới hội hoạ một cách hăng say hơn. Năm nào tôi cũng có triển lãm cá nhân, đặc biệt được người Pháp ưa thích và được vinh dự cơ quan Văn Hoá Pháp(Alliance Francaise) đã tổ chức triển lãm cho tôi.

TTT: Được biết anh là một trong những thành viên nồng cốt của nhóm Hoạ Sĩ Trẻ vào thập niên 60, anh có thể kể lại lý do tại sao anh có mặt trong nhóm này?. Nó có giúp ích gì cho hành trình dấn thân trong con đường nghệ thuật của anh hay ngành mỹ thuật VN ngày đó? Xin cho T nghe một câu chuyện hay kỷ niệm vui đáng nhớ về nhóm nàỵ

NK: Ngày ấy có bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng thấy các anh em hoạ sĩ trẻ có tài năng mà chưa ngồi lại với nhau. Ông sợ bị phân tán mất, nên có sáng kiến lập ra Hội Hoạ Sĩ Trẻ. Lại có Ngy Cao Uyên là hoạ sĩ Trung Tá không quân và Lưu Kim Cương là những người yêu hội hoạ mà có tư cách hợp pháp, (để xin giấy phép lập hội), cùng đứng ra như các mạnh thường quân giúp đỡ cho hội được thành hình.

blank
Khóc đi, quê hương tôi yêu dấu, 24x30, sơn dầu trên bố (1992).

Những hoạ sĩ thành danh nhờ có giải thưởng. Ngày ấy, phần lớn những thành viên của HHS Trẻ đều có các giải thưởng quan trọng của quốc gia, huy chương bạc, đồng v..v..như Nguyễn Trung, Nguyễn Phước, Nguyễn Lâm hay Trịnh Cung chẳng hạn. Mục đích của hội để trao đổi hình thức sáng tác khiến mỗi người có được một đường lối sáng tạo riêng. Được nơi tụ hội gặp gỡ, ai cũng hăng say sáng tác và đi tìm các phong cách mới nhưng khác nhau. Tỷ như Hồ Thành Đức thì dán giấy, Đỗ Quang Em vẽ tranh hiện thực… Nhờ vậy đã tạo nên một không khí, một môi trường phát triển sáng tác, và… tôi cũng có mặt.

Tôi có một kỷ niệm vui vui trong khi làm trụ sở hội. Lúc đó anh em nghèo, không có tiền xây trụ sở. Do sáng kiến của họa sĩ Ngy Cao Uyên, chúng tôi đổi tranh cho sư đoàn 5 Không Quân trong Tân Sơn Nhất để lấy gỗ. Gỗ do Mỹ viện trợ cho Không Quân xây dựng doanh trại đồn trú. Khi đi tìm đất để xây, tôi và Hồ Thành Đức thấy trong khu của Đại Học Văn Khoa có khoảnh đất trống, gần đó có nhóm CPS và Nguồn Sống vẫn sinh hoạt. Chúng tôi vào gặp Phạm Quốc Bảo là chủ tịch hội sinh viên thời bấy giờ. Tôi hỏi “Mày có miếng đất nào cho chúng tao xin xây hội không? “ Anh bảo “Có miếng đất sát đường đó, chúng mày lấy đi”. Thế là tụi tui “lấy thì lấy”. Chúng tôi lấy gỗ về, tự vẽ kiểu và thuê thợ nề. Khi ấy không có tiền, phải đóng góp và bán tranh trả công thợ. Trở ngại thứ đến, khi xây gần xong, phải lắp điện nước và điện thoại mà chúng tôi không có giấy phép để bắc vì mọi thứ đều bất hợp pháp. (Kể cả một số lớn thành viên trốn quân dịch vì trong hạn tuổi gọi nhập ngũ). Vì thế khi thợ bắc điện thoại và điện nước đến, tôi được dặn phải đứng canh cảnh sát, thấy thì la lên. Tôi đứng canh mà vừa mắt la mày liếc, vừa run. Tới việc phải mở cổng đi vào hội. Thợ nói phải có giấy phép của chính phủ mới phá gờ xi măng phía trước, mới mở ra mặt đường được. Họ hỏi có phép chưa. Chúng tôi nói liều, có rồi. Thế là tôi lại đứng canh cảnh sát trong tình trạng…bất hợp pháp.. Rồi cũng xong, trụ sở có đủ phòng họp, phòng trưng bày tranh và nhà vệ sinh. Tất cả sơn trắng như toà Bạch Cung, tường căng bố, đủ cả đèn đuốc. Sau vụ Mậu Thân 1968, trụ sở bị chính quyền san bằng.


TTT: Thế giới trong tranh anh được nhiều người phê bình, nhận định như: thơ mộng, quyến rũ, trang nhã, và bình yên hoặc là thơ ca được dựng lại bằng sắc màu trên nền vải. Xin cho biết cách tạo màu sắc của anh?

blank
Adam Eva, Trái Cấm, 40x72, sơn dầu trên bố (2000).

NK: Đối với tôi trong một bức tranh màu sắc là cái chính. Màu sắc có đẹp, tranh mới đẹp. Tôi nghĩ nên tạo những màu riêng cho mình quý như châu báu. Khi mình trân quý, nó sẽ như châu báu toả sáng làm tranh mình đẹp, chứ màu sắc bình thường, tranh cũng sẽ rất bình thường, không nổi trội được. Ví dụ như muốn tạo một màu xanh, trong màu xanh phải có rất nhiều màu làm nên một màu xanh không ai có. Tôi vẽ lâu, làm việc nhiều, vọc nhiều nên khi dùng màu diễn tả điều mình nghĩ, muốn nói, dễ dàng hơn. Khi bắt đầu sáng tác, tôi thường bỏ màu lên trước rồi cạo đi rồi dập màu, sau đó nương theo đó mà vẽ, tạo bố cục, hình tượng hay vật thể.

TTT: Người nghệ sĩ sáng tác đôi khi rơi vào một tình trạng khủng hoảng trong việc sáng tác, vì mất cảm hứng, bí đề tài, hay cấm đoán không được sáng tác.. v..v…anh có từng bị như thế không? Trong trường hợp đó, để giải quyết anh đối phó ra sao?

NK: Khi sáng tác bị chậm lại tôi đổi phong cách và thử nghiệm một lối mới để thoát ra. Nhờ vậy tôi có những loạt tranh khác nhau như ở VN không có màu tôi chuyển qua vẽ lụa, sơn mài, bên Mỹ qua mixed media, monoprint. Khi bị cấm sáng tác tôi tìm cách thoát ra hay đào thoát. Hồi mới giải phóng, giới có thẩm quyền của miền Bắc vào miền Nam. Họ muốn quy tụ một số văn nghệ sĩ miền Nam lại để đánh bóng. Tỷ như bên nhạc thì có Trịnh Công Sơn, bên hội hoạ thì có Nguyễn Trung, Nguyễn Phước, Mai chửng, Ngô Bảo …v..v.. và tôi. Hoàn cảnh lúc ấy, những văn nghệ sĩ miền Bắc không có cảm tình với chúng tôi, mà còn ghét. Nếu chúng tôi không gia nhập một hội đoàn văn nghệ nào, sẽ bị bắt bớ, đi kinh tế mới hay phường khóm bắt đi thủy lợi. Do đó tôi gia nhập hội văn nghệ và được đi thực tế. Tôi và Đỗ Quang Em vào một nhà máy chuyên làm toa xe lửa để vẽ công nhân. ĐQE vẽ một ông công nhân già phía sau là một toa xe lửa rất cổ. Ông mặc một cái áo có lỗ rách ở giữa. Tôi cũng vẽ một ông công nhân già nhưng bên cạnh ông dăm ba cái búa, kềm nằm lăn lóc dưới đất. Lối vẽ của ĐQE là từ trên xuống dưới theo lối họa hình. Còn tôi đắp màu lên trước rồi cạo, nên tranh tôi đang hoa hoè, hoa sói tùm lum trên canvas. Khi ấy, nhằm lúc nhóm đảng đoàn đi kiểm soát. Xong họ về báo cáo, bảo, sao hội lại có hai anh hoạ sĩ, một anh thì hoạ hình(ĐQE), một anh thì vẽ quảng cáo(tôi)!!! Giám đốc nhà máy nói, vẽ xong phải đưa ông kiểm duyệt trước. Xong đưa ông coi, ông phán, các anh vẽ như thế này là bôi nhọ chế độ. Anh kia(ĐQE), công nhân mặc áo rách phải sửa cho lành. Còn anh(tôi), sao nghèo nàn quá, cho thêm dụng cụ kềm búa vào. Khi đô thành đưa hai bức đi triển lãm, cả hai đoạt giải nhất và nhì.

Tôi suy nghĩ, một chế độ mà hoạ sĩ bị điều khiển như vậy làm sao sống được. Với tôi, cái gì cản trở sáng tác, nó là kẻ thù. Tôi vượt biên. Tôi thực hiện câu nói thời còn trong HHS Trẻ “ Cuộc đời ta sẽ hiến dâng cho tình yêu và nghệ thuật, tất cả mọi cản trở là kẻ thù của ta, nguyện đời ta như ánh sao băng trong đêm tối, như hạt sen nẩy mầm trong vũng bùn kia hay ngọn sóng cao trong biển cả.”

blank
Linh hồn hoa sen, 40x60, sơn dầu trên bố (1988).

TTT: tình cờ xem được một bức tranh thiếu nữ “The spirit of Lotus”, “Linh hồn của hoa sen”. T rất ngạc nhiên trong lối anh vẽ người thiếu nữ chuyển động và sự đề cao người thiếu nữ tợ hoa sen trong tranh anh. Nhờ anh giải thích ý nghĩa bức tranh và nói thêm về phong cách tạo hình trên bức này không?

NK: Khi mới qua Mỹ, tôi có vẽ một loạt tranh thiếu nữ Việt Nam “nude”(khoả thân). Tôi muốn có một sự chuyển động trong tranh nên tôi cho họ linh hoạt và bay bổng như trong bức này. Câu chuyện bắt đầu từ người phụ nữ VN thời ấy phải chịu nhiều thăng trầm, gian truân, và những đau khổ, dằn vặt. Từ những người vợ sau giải phóng bôn ba ra đời kiếm sống, nuôi dạy con còn phải đi thăm nuôi chồng ở trại cải tạo, đến các thiếu nữ vượt biên bị tù tội, hải tặc hãm hiếp. Qua tới Mỹ họ lại phải đương đầu với cuộc sống khó khăn và làm lại từ đầu. Gương cao quý của họ đẹp như hoa sen vậy. Cô có hỏi tôi về thế nằm của người thiếu nữ?. Thế nằm ngửa của cô ta khiến cô có thể thở hít hết tinh tuý của hoa sen và khí thiêng của trời đất. Nền có những lá chuối và cũng là tóc của cô tượng trưng cho quê nhà Việt Nam.

TTT: Là một họa sĩ Việt Nam thành danh, tốt nghiệp từ Trường Mỹ Thuật chuyên nghiệp anh có nghĩ rằng muốn là một hoạ sĩ có cần qua một đào tạo trường lớp không? Anh có muốn nhắn nhủ gì cho những bạn trẻ đang bắt đầu trở thành họa sĩ?

NK: Tôi nghĩ, vẽ cần có một căn bản vững vàng nhờ trường lớp và vẽ nhiều, ngoại trừ trường hợp thiên tài, nhưng rất hiếm. Nếu không ban đầu chỉ vẽ được vài bức khá sau đó yếu dần vì không điều khiển được, có thể bị lập lại mãi không thoát ra được. Khi đã có nền móng căn bản rồi cần quên căn bản để thoát ra đi vào sáng tạo.

Tôi không phải là một ai ghê gớm gì, tôi chỉ muốn chia sẻ kinh nghiệm của người đi trước. Khi làm việc thì làm việc một cách thành thật mới đem lại nét đặc thù của chính mình, chứ nếu bị ảnh hưởng người khác nhiều quá sẽ không thoát ra được. Hơn nữa cứ vẽ và làm việc đừng đợi cảm hứng, vẽ hư chồng lên vẫn đẹp. Điều quan trọng ở tranh là màu sắc, nên chú ý đến màu sắc trước. Đừng nên coi thường màu sắc, tạo màu sắc quý cho riêng mình thì tranh mới trở nên quý được.

Cảm ơn anh, Chúc anh ngày càng thành công hơn nữa.

Trịnh Thanh Thủy

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đảng CSVN hay nói “Trí thức là “nguyên khí của quốc gia”, làm hưng thịnh đất nước, rạng rỡ dân tộc*; “Trí thức là vốn liếng quý báu của Dân tộc”; hay “Thanh niên là rường cột của nước nhà” , nhưng tại sao nhiều người vẫn ngại đứng vào hàng ngũ đảng? Lý do vì đảng chỉ muốn gom Trí thức và Thanh niên “vào chung một rọ để nắm tóc”...
Tây Bắc hay Tây Nguyên thì cũng chừng đó vấn đề thôi: đất đai, tôn giáo, chủng tộc… Cả ba đều bị nhũng nhiễu, lũng đoạn tới cùng, và bị áp chế dã man tàn bạo. Ở đâu giới quan chức cũng đều được dung dưỡng, bao che để tiếp tục lộng quyền (thay vì xét sử) nên bi kịch của Tây Nguyên (nói riêng) và Cao Nguyên (nói chung) e sẽ còn dài, nếu chế độ toàn trị hiện hành vẫn còn tồn tại...
Bữa rồi, nhà thơ Inra Sara tâm sự: “Non 30 năm sống đất Sài Gòn, tôi gặp vô số người được cho là thành công, thuộc nhiều ngành nghề, đủ lứa tuổi, thành phần. Lạ, nhìn sâu vào mắt họ, cứ ẩn hiện sự bất an, lo âu.” “Bất an” có lẽ không chỉ là tâm trạng của người Sài Gòn mà dường như là tâm cảm chung của toàn dân Việt – không phân biệt chủng tộc, giới tính hay giai cấp nào ráo trọi – nhất là những kẻ sắp từ giã cõi trần. Di Cảo của Chế Lan Viên và di bút (Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất) của Nguyễn Khải, theo nhận xét của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, chỉ là những tác phẩm “cốt để xếp hàng cả hai cửa. Cửa cũ, các ông chẳng bao giờ từ. Còn nếu tình hình khác đi, có sự đánh giá khác đi, các ông đã có sẵn cục gạch của mình ở bên cửa mới (bạn đọc có sống ở Hà Nội thời bao cấp hẳn nhớ tâm trạng mỗi lần đi xếp hàng và không sao quên được những cục gạch mà có lần nào đó mình đã sử dụng).”
Tập Cận Bình tin rằng lịch sử đang dịch chuyển theo hướng có lợi cho mình. Trong chuyến thăm Vladimir Putin tại Matxcơva vào tháng 3 năm ngoái, nhà lãnh đạo Trung Quốc nói với Tổng thống Nga rằng “Ngay lúc này, chúng ta đang chứng kiến một sự thay đổi chưa từng thấy trong 100 năm qua, và chúng ta đang cùng nhau thúc đẩy sự thay đổi ấy.”
Sau 20 năm chiêu dụ Kiều bào về giúp nước không thành công, đảng CSVN lại tung ta Dự án “Phát huy nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới” vào dịp Tết Nguyên Đán Giáp Thìn 2024. Đây là lần thứ tư, từ khi có Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26 tháng 3 năm 2004, một Quyết định nhằm mưu tìm đầu tư, hợp tác khoa học, kỹ thuật và tổ chức các Hội, Đoàn người Việt ở nước ngoài, đặt dưới quyền lãnh đạo của đảng CSVN được tung ra...
Khi số lượng di dân vượt biên bất hợp pháp qua biên giới Hoa Kỳ-Mexico tăng cao kỷ lục, câu hỏi quan trọng được đặt ra là: Làm thế nào mà Hoa Kỳ lại rơi vào tình trạng này, và Hoa Kỳ có thể học hỏi những gì từ cách các quốc gia khác ứng phó với các vấn đề an ninh biên giới và nhập cư. Chào đón công dân nước ngoài đến với đất nước của mình là một việc khá quan trọng để giúp cải thiện tăng trưởng kinh tế, tiến bộ khoa học, nguồn cung ứng lao động và đa dạng văn hóa. Nhưng những di dân vào và ở lại Hoa Kỳ mà không có thị thực hoặc giấy tờ hợp lệ có thể gây ra nhiều vấn đề – cho chính bản thân họ và cho cả chính quyền địa phương bởi tình trạng quá tải không thể kịp thời giải quyết các trường hợp xin tị nạn tại tòa án nhập cư, hoặc cung cấp nơi ở tạm thời và các nhu cầu cơ bản khác. Mà tình trạng này hiện đang xảy ra ở rất nhiều nơi ở Hoa Kỳ.
Trên vai những pho tượng trắng trong vườn Lục Xâm Bảo, lá vàng đã bắt đầu rơi lất phất. Mùa Thu Paris thật lãng mạn. Henry Kissinger đi dạo quanh một hồ nhỏ ở ngoại ô gần Rambouillet. Nơi đây từng cặp tình nhân đang nắm tay nhau bên những cành cây la đà bóng hồ. Ông thấy lòng mình nao nao (melancholic) vì sắp tới phiên họp quan trọng nhất với ông Lê Đức Thọ.
Tôi nghe nhiều người tỏ ý bi quan về hiện cảnh cũng như tương lai (đen tối) của Việt Nam. Dân tộc nào, số phận đó. Một đất nước có những người viết sử và làm luật (cỡ) như ông Dương Trung Quốc thì… đen là phải!
Việt Nam bước vào năm Giáp Thìn 2024 với gánh nặng tham nhũng và một đội ngũ “không nhỏ” cán bộ, đảng viên suy thoái đạo đức lối sống. Đó là cảnh báo của người đứng đầu đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, trong cuộc phỏng vấn đầu năm của Thông Tấn Xã Việt Nam...
Từ thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, Triết gia Mạnh Tử (372-289 BC) của Trung Hoa đã nói rằng, “Dân là quý, thứ đến đất nước, rồi tới vua.” Điều đáng nói là Mạnh Tử là người đi theo học thuyết của Nho Gia vốn chủ trương vua là con ông Trời (Thiên tử) được sai xuống nhân gian để trị quốc an dân, vậy mà cũng không thể phủ nhận vai trò quan trọng, nếu không muốn nói là tối quan trọng của người dân. Thời hiện đại, công pháp quốc tế đã nêu ba yếu tố chính hình thành một quốc gia: người dân, lãnh thổ và chính quyền. Trong đó, thật ra người dân chính là yếu tố then chốt quyết định. Lãnh thổ nếu không có dân ở, không có người quản trị thì không phải là đất nước của một dân tộc. Chính quyền từ người dân mà ra, bởi vì trước khi một người ra nắm quyền cai trị đất nước thì người đó phải là một người dân của đất nước ấy. Hơn nữa, sự thịnh suy của một quốc gia nằm trong tay người dân.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.