Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Trang Sử Việt: Hoàng Diệu

07/06/201600:01:00(Xem: 4114)
(Lời tâm tình: Bài viết về “Sử Việt” chỉ khái quát, không đi sâu từng chi tiết của mỗi nhân vật. Cuối mỗi bài viết, phần “Thiết nghĩ” nếu có chỉ là góp ý của tác giả, không ngoài mục đích làm sáng tỏ thêm về nội dung đã biên soạn. Trang Sử Việt luôn mong mỏi nhúm nhen tình tự dân tộc, niềm yêu thương quê hương và giữ gìn Việt ngữ cùng văn hóa Việt. Trang Sử Việt đăng trên Vietbao Online thứ Ba và thứ Sáu hằng tuần).
________________ 
.
HOÀNG DIỆU
(1829 - 1882)
.
Hoàng Diệu, còn tên là Hoàng Kim Tích, quê Quảng Nam, tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, ông đỗ phó bảng năm 1848, được bổ nhiệm làm Tri huyện Tuy Phước, Bình Định, rồi thăng nhiều chức vụ khác. Đến năm 1877, triều đình Huế bổ ông làm Tham tri bộ Hình rồi Tham tri bộ Lại. Trong suốt 30 năm làm quan, gia đình ông vẫn sống thanh bạch, thiếu thốn. 
.
Năm 1880, ông làm Tổng đốc thành Hà Nội, chức Thượng thư Bộ binh, cai quản cả việc thương chính. Ngày 25-4-1882, đại tá Pháp là Henri Rivière muốn xâm lăng miền Bắc Việt Nam, lấy cớ đưa quân Pháp đến Hà Nội bảo vệ sinh mạng và tài sản của Pháp kiều. Rivière gửi tối hậu thư đến Hoàng Diệu mà lời lẽ ngạo mạn với yêu sách gồm 3 điều:
 - Phá các công sự phòng thủ trong thành Hà Nội.
 - Giải giới quân lính.
 - Đúng 8 giờ sáng các quan văn võ ở thành Hà Nội, phải đến trình diện đại tá Pháp ở đồn Thuỷ, sau đó Pháp sẽ vào thành kiểm kê, khi xong sẽ giao trả thành lại. 
Ông không đồng ý, cử Tôn Thất Bá đi điều đình với Pháp nhưng không được trả lời vì Tôn Thất Bá lại theo giặc Pháp. 
.
Đúng 8 giờ 15 phút, Rivière vẫn không trả lời mà còn điều các tàu chiến: La Fanfare, La Massue, La Hache pháo kích vào thành Hà Nội, yểm trợ cho 450 quân Pháp và thân binh để chiếm Hà Thành. Hà Thành bị pháo rơi dồn dập, Hoàng Diệu và phó Lãnh binh Hồ Văn Phong chỉ huy lực lượng phòng thủ nơi cửa Bắc chống chọi quyết liệt, thành lũy đổ nát, cát gạch bay mờ mịt, binh sĩ hy sinh quá nhiều, chẳng bao lâu kho vũ khí trong thành lại phát nổ, có tin khẩn báo là do nội phản nhưng ông không nao núng chỉ huy binh sĩ còn lại tiếp tục chiến đấu. 
Viên Chánh suất Hùng Nhuệ đang thúc quân tham chiến bị trúng đạn tử thương. Cửa Đông nguy ngập, đề đốc Lê Văn Trinh bỏ chạy. Cửa Tây Lãnh binh Lê Trực không chống nổi phải rút lui. Cửa Nam thủy sư Đô đốc Nguyễn Đình Đường vẫn bền bỉ chỉ huy binh sĩ thủ thành bắn trả. 
.
    Đến 10 giờ 50 phút đại úy Pháp là Martin chỉ huy quân Pháp dùng mìn phá cửa Bắc, ở phía tây bắc quân Pháp ào ạt tấn công và leo được vào thành, đánh cận chiến xáp lá cà, tiếng la hét vang trời. Hoàng Diệu lúc ấy đầu đội khăn xanh, với 10 viên Võ cử rút về phía Hành cung, ngậm ngùi nhìn thành thất thủ. Thế cùng, dẫu tiếp tụ chiến đấu cũng chết chóc thêm mà thôi, ông bảo mọi người nên rút lui trở về kinh đô. Ông u uất, tự cắn ngón tay chảy máu, lấy khăn choàng viết biểu tạ tội: “Làm tướng bất tài, thần tự  nghĩ sống cũng vô ích, dẫu biết rằng thành mất, mà có chết cũng có tội, thần nguyện theo gương Nguyễn Tri Phương mà xuống suối vàng”.Viết xong, ông đau đớn nhìn thành quách lòng chứa chan lưu luyến lẫn xót xa trước cảnh thành mất!  
      Ông đến Võ miếu thắt cổ tuẫn tiết vào ngày 25-4-1882, hưởng thọ 54 tuổi. Ông được thờ trong đền Trung liệt cùng với Nguyễn Tri Phương trên gò Đống Đa. Cụ Phó bảng Nguyễn Trọng Tỉnh có bài thơ điếu Hoàng Diệu, Phạm Khắc Hòe đã ghi vào trong lịch sử của nhà Nguyễn:
 .
       “Tay đã cầm bút lại cầm binh 
Muôn dặm giang sơn nặng một mình 
Thờ chúa, chúa lo, lo với chúa
Giữ thành, thành mất, mất theo thành
Suối vàng ắt hẳn mài gươm bạc 
Lòng đỏ thôi đành gửi sử xanh 
Di biểu nay còn soi chính khí 
Khiến người thêm trọng bút khoa danh”  
.
     Nhiều nho sĩ đã làm thơ, liễn, thương tiếc ông. Quân dân đã long trọng an táng ông, còn cung kính với câu thơ:
             “Một lòng bảo vệ Hà thành
Hoàng công tử tiết, lưu danh muôn đời”.
 .
 *- Thiết nghĩ: Hoàng Diệu là vị quan thương dân, khi giữ chức Tổng đốc Hà Ninh (năm 1879-1882), ông lo dân chúng được sống trong công bằng và trật tự. Nay còn di tích ở Ô Quan Chưởng, đầu phố Hàng Chiếu, ở mặt tường cổng ra vào, có một phần tấm bia Lệnh cấm trừ tệ (Thân cấm khu tệ), niêm yết năm 1881 của Tổng đốc Hoàng Diệu và Tuần phủ Hà Nội Hoàng Hữu Xứng. Nội dung bia là ngăn chặn các tệ nhũng nhiễu đối với dân trong khi ma chay, cưới xin; nạn vòi tiền, cướp bóc trên sông, ở trong các chợ; cùng các quy định cứng rắn đã được thi hành đến nơi đến chốn. 
.
     Năm 1873, Pháp tấn công Hà Nội lần đầu, anh hùng Nguyễn Tri Phương tuẫn tiết. Vậy mà triều đình vẫn chưa có một kế sách khả dĩ để bảo vệ đất nước?!. Có phải vua Tự Đức nghe theo phái chủ hoà thuyết phục, chấp nhận để mất miền Bắc, chỉ mong giữ an toàn cho ngai vàng mà thôi?! Vua lại hạ chiếu quở trách Hoàng Diệu đã “đem binh dọa giặc và chế ngự sai đường”. Nhưng với tinh thần bất khuất, muốn giữ vẹn toàn tổ quốc, khi biết đại tá Pháp là Henri Rivière có ý đồ tấn công Hà Thành, ông hạ lệnh giới nghiêm Hà Nội và bố cáo quân sĩ các tỉnh xung quanh sẵn sàng tác chiến. Và khẩn cấp xin viện binh từ triều đình Huế.
.
     Để cùng quyết tâm giữ thành, Hoàng Diệu triệu tập: Án sát Tôn Thất Bá, Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, Đề đốc Lê Văn Trinh, Bố chánh Phan Văn Tuyển, Lãnh binh Lê Trực... cùng thề quyết tâm sống chết với Hà Thành. Nhưng sau đó có người giữ lời thề, có kẻ lại bội thề. Nhục thay, Tôn Thất Bá lại theo giặc và báo tình hình trong thành cho giặc biết?!.
      Anh hùng Hoàng Diệu, tổ quốc tri ân, đồng bào thương tiếc muôn đời và anh linh của ông dù đã về nơi Thượng giới, nhưng tuẫn tiết vì quốc gia thì tên tuổi ông đời đời bất tử.
.
                Cảm phục: Hoàng Diệu
 .
Hoàng Diệu, lo dân vẹn nghĩa tình!
Thiết tha non nước, trọn trung trinh!
Hà Thành phòng thủ, thành gìn giữ   
Quân Pháp âm mưu, Pháp rập rình?!
Dồn dập pháo rơi, còn chống giặc 
Liên miên gạch đổ, chẳng lui binh! 
Ngậm ngùi thất thủ, lòng đau đớn!
Tuẫn tiết theo thành, đấy chết vinh!
.
Nguyễn Lộc Yên 

.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.