Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Trang Sử Việt: Lê Lai

08/01/201515:24:00(Xem: 2809)
(Lời tâm tình: Bài viết về “Sử Việt” chỉ khái quát, không đi sâu từng chi tiết của đề tài. Cuối mỗi bài viết, phần “Thiết nghĩ” nếu có chỉ là góp ý của tác giả, không ngoài mục đích làm sáng tỏ thêm về nội dung đã biên soạn. Trang Sử Việt luôn mong mỏi nhúm nhen tình tự dân tộc, niềm yêu thương quê hương và giữ gìn Việt ngữ cùng văn hóa Việt.
________________

LÊ LAI
(? - 1418)

Lê Lai quê Thanh Hóa, thân phụ là Lê Kiều nối đời làm chức Phụ đạo trong vùng. Lê Lai là một dũng tướng, người can đảm trung hậu, Bình Định Vương phong ông chức Đô tổng quản, tước Quan nội hầu. Cuối năm 1418, nghĩa quân của Lê Lợi bị giặc bao vây ở Chí Linh, lương thực cạn kiệt rất nguy khốn.


Trong "Lam Sơn Thực Lục" của Nguyễn Trãi, trang 9 ghi: Lê Lợi hỏi: "Ai có thể thay thế Ta mặc áo vàng, lĩnh năm trăm quân, hai thớt voi, đánh vào thành Tây đô. Thấy giặc ra đối địch thì tự xưng tên: ‘Ta là chúa Lam sơn đây!’. Để cho giặc bắt? Cho ta được náu mình, nghỉ binh, thu họp cả quân sĩ, để mưu tính việc về sau"!. Các tướng đều không dám nhận lời. Chỉ có Lê Lai đứng lên thưa: "Tôi xin mặc áo của Chúa công ra trận. Ngày sau Chúa công gầy nên đế nghiệp, có được thiên hạ, thương đến công tôi, cho con cháu muôn đời được chịu ơn nước. Đó là điều tôi mong mỏi"!.
Lê Lợi lạy trời mà khấn rằng: "Lê Lai có công thay đổi áo. Sau này Ta cùng con cháu, và các tướng sĩ hay con cháu các công thần, nếu không thương đến công ấy, thì xin đền đài hóa ra rừng núi; ấn vàng hóa ra đồng sắt; gươm thần hóa ra đao binh!".
Lê Lai dẫn 500 quân với 2 thớt voi, thúc ngựa xông ra trận, hô to: "Ta là chúa Lam Sơn đây"!. Quân Minh tưởng Lê Lai là Lê Lợi, nên đem quân vây đánh, ông cùng quân sĩ chống trả can trường cho đến khi kiệt sức bị bắt và giặc đem ông hành hình. Sau đấy, Lê Lợi sai người ngầm tìm được thi hài ông, mang về an táng ở Lam Sơn.

Nhờ vậy, Lê Lợi và các tướng sĩ khác chạy thoát.
Sự hy sinh của Lê Lai đã nung nấu Nghĩa quân quyết chiến. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, truy phong Lê Lai là đệ nhất công thần, "Sùng trung Đồng đức hiệp mưu bảo chính Lũng Nhai công thần", hàm Thiếu uý, thuỵ là Toàn Nghĩa; và phán: "trước ngày giỗ của ta là ngày giỗ của Lê Lai", ngày giỗ Lê Lai là 21 tháng 8 (ÂL). Dân gian có câu: "21 Lê Lai, 22 Lê Lợi". Năm 1484, Lê Thánh Tông gia phong Lê Lai là Trung Túc vương.


.

Thiết Nghĩ:

 
Lê Lai cứu chúa là một bi hùng sử, nên trân trọng và lưu luyến mãi. Lòng sắt son của ông, điểm tô trang sử Việt rạng rỡ và gìn giữ nước Việt vẹn toàn. Văn hào Alfred de Vigny có bài thơ “La Mort du loup” về tư tưởng hy sinh cao thượng, như sự hy sinh hào hùng của ông, đáng nghi nhớ:
Ta không than khóc, bơ thờ
Gắng tròn nhiệm vụ, ngẩn ngơ sao đành
Số trời, dù có mong manh
Đớn đau hay chết, lòng thành cũng vui”(*)
“Lê Lai cứu chúa” là một trang sử hùng hồn trong sự nghiệp khởi nghĩa Lam Sơn, từ năm 1418 cho đến nay và vĩnh viễn ngàn sau, không một ai có thể thay thế được. Văn hào Nguyễn Trãi người cùng thời với Lê Lai, đã ghi vào “Lam Sơn Thực Lục” rất đầy đủ. Chúng ta không thể lầm lẫn với những nhân vật khác có cùng tên “Lê Lai” trong thời kỳ kháng chiến Lam Sơn, lại xuất hiện nơi một số tài liệu khác nhau.
.
Trong “Lam Sơn Thực Lục” có ghi Nguyễn Thận người Mục Sơn (Thanh Hoá) là công thần Lam Sơn, được lấy họ vua và đặt tên Lai, nên gọi là Lê Lai. Ngoài ra, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư phần bản kỷ, quyển số 10, trang 27b, có chép: “Ngày 13 tháng giêng năm Đinh Mùi (1427) giết Tư Mã Lê Lai, tịch thu gia sản vì Lai cậy có chiến công nói năng khinh mạn”. Từ đấy có giả thuyết rằng, Lê Lai may mắn sống sót sau khi cứu chúa, tiếp tục tham gia kháng chiến và bị chính Lê Lợi ra lệnh giết sau này. Điều này không thể xảy ra, vì lẽ các vua Lê kế tiếp luôn nhớ ơn “Lê Lai cứu chúa”?!.
.
Cảm mộ: Lê Lai
 
Đổi áo, can trường lẫm liệt thay!
Cứu vua, xông xáo giải trùng vây
Hy sinh, cảm kích từng dân dã!
Tử tiết, ngậm ngùi dẫu cỏ cây!
_________________
(*)- Bài thơ “La Mort du loup” của văn hào Alfred de Vigny:
“Gémir, pleurer, prier est également lâche!
Fais énergiquement ta longue et lourde tâche,
Dans la voie où le sort a voulu t’appeler,
Puis après, comme moi, souffre et meurs sans parler”
Nguyễn Lộc Yên

.
,

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
Một nhân vật còn sống sót sau thảm họa Lò sát sinh (Holocaust) và từng đoạt giải Nobel Hòa bình, Elie Wiesel, nói: "Sự đối nghịch của tình thương không phải là sự ghét bỏ, mà là sự dửng dưng. Sự dửng dưng khiến đối tượng thành vắng bóng, vô hình…"
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.