Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Chuyện Có Thật Mà Cứ Như Đùa Ấy, Bài 2: Giai Thoại Trong Thời Chiến Tranh Việt Nam

10/10/201300:00:00(Xem: 6607)
Đoàn Thanh Liêm
(Chuyện kể từ một nhà báo và tác giả nổi tiếng quốc tế: Oriana Fallaci).

Oriana Fallaci (1929 – 2006)

Oriana Fallaci sinh trưởng tại thành phố Florence nước Ý Đại Lợi. Bà là một nhà báo nổi danh quốc tế. Trong suốt mấy chục năm lăn lộn trong ngành báo chí, Oriana đã phỏng vấn rất nhiều nhân vật có danh tiếng trên thế giới và gây được tiếng vang trong dư luận khắp nơi. Điển hình như các nhân vật sau đây: Giáo chủ Ayatollah Khomeini, Đức Dalai Lama, Lành tụ Đặng Tiểu Bình, Tiến sĩ Henry Kissinger, Lãnh tụ Yasir Arafat, Nữ Thủ tướng Ấn độ Indira Gandhi, Bà Thủ tướng Do Thái Golda Meir v.v…

Bà còn viết nhiều cuốn sách được rất nhiều độc giả ưa chuộng tìm đọc, cụ thể như cuốn “Nothing, and so be it” viết chủ yếu về chuyện chiến tranh ở Việt nam hồi cuối thập niên 1960. Và nhất là trong mấy cuốn xuất bản gần đây sau cuộc khủng bố 11 tháng Chín năm 2001, như: “The Pride and the Rage”, “The Force of Reason“, bà đã thẳng thắn phê bình chê trách số di dân người Ả rập và Hồi giáo đã gây khó khăn cho nước Ý, cũng như cho toàn thể Âu châu. Mấy cuốn sách này đã gây ra một cuộc tranh luận gay go, sôi nổi giữa bên bênh và bên chống đối với lập trường cứng rắn dứt khoát của bà. Một số tổ chức của người Hồi giáo còn đâm đơn kiện bà ra tòa về tôi phỉ báng và kỳ thị đối với người theo đạo Hồi.

Chuyện quan hệ giữa người di dân Hồi giáo với người Âu châu rất phúc tạp, đến nỗi mà vừa mới đây vị Thủ tướng nước Pháp Francois Fillon đã phải lên tiếng với lời lẽ rất cương quyết đanh thép, để nhắc nhủ người di dân Hồi giáo như sau: “ Những người di dân không phải là gốc Pháp, thì phải thích nghi (với xã hội Pháp) “ (nguyên văn tiếng Pháp: “Les immigrants, non francais, doivent s'adapter “).

Về chuyện liên quan tới Việt nam vào thời chiến tranh trước năm 1975, ta có thể ghi lại vài mẩu chuyện như sau đây:

a) Trong cuốn “Nothing, and so be it”, tác giả có kể lại cuộc phỏng vấn một cán binh trong nhóm “đặc công” cộng sản, mà chuyên đặt mìn phá hoại và sát hại tại các địa điểm quân sự cũng như dân sự ở Saigon vào các năm 1964-66, rồi bị cơ quan an ninh của chánh quyền Việt nam bắt giữ. Anh này khai tên là Nguyễn Văn Hai, người miền Nam. Nhưng anh ta rất gan dạ, nhất quyết không chịu khai báo một chi tiết nào về các vụ đặt mìn của mình. Cuối cùng, cơ quan điều tra phải cử một sĩ quan rất có kinh nghiệm để tiến hành việc thẩm vấn nghi can Hai này. Điều tra viên này lập kế, khêu gợi “bản lãnh anh hùng” của nghi can, bằng cách dụ dỗ anh ta như sau: “Chúng tôi đã thâu thập được đày đủ bằng chứng do chính các đồng đội của anh mà cũng bị bắt sau anh, thì họ đều xác nhận anh là kẻ chủ mưu chính yếu trong mấy vụ đặt mìn này. Chúng tôi cần lời khai của anh để anh có dịp xác nhận cái hành động anh hùng dũng cảm của anh trong khi theo đuổi lý tưởng cách mạng giải phóng dân tộc. Như vậy, nếu mà anh có bị tòa án xử thế nào đi nữa, thì mọi người cũng sẽ biết được cái nghĩa khí anh hùng của anh. Và tổ chức Mặt trận Giải phóng sẽ vinh danh con người “dũng sĩ cách mạng” của anh. Ngược lại, nếu mà anh cứ nhất định không chịu khai báo gì cả, thì rồi anh cũng sẽ bị sát hại như “một kẻ vô danh bị tai nạn xe cán tại một xó xỉnh nào đó” mà thôi…” Nghe vậy, rốt cuộc nghi can Hai đã khai báo mọi chi tiết về hoạt động đặt mìn phá hoại của mình. Và cơ quan điều tra đã có thể kết thúc hồ sơ để truy tố đương sự ra trước tòa án quân sự mặt trận.

Khi Oriana được cho tiếp xúc với nghi can để tiến hành việc phỏng vấn này, thì cuộc điều tra đã hoàn tất. Nên nhà báo muốn khai thác nhiều chi tiết về đời sống riêng tư của người đặc công gan dạ này. Tác giả đã ghi lại khá nhiều chi tiết về sở thích cá nhân, về gia cảnh … của đương sự. Và có chi tiết này rất đáng chú ý, đó là cuối cùng đặc công Nguyễn Văn Hai tâm sự với nhà báo rằng: “Tôi thật ân hận là vẫn còn ham chuộng cái danh vọng hão huyền, để cho mình được ca tụng như là một “người anh hùng”, nên mới khai báo chi tiết về hành động của mình khiến cho các đồng chí bị liên lụy và bị bắt giữ, làm cho tổ chức bị tan rã. Thật là chuyện đáng hối tiếc lắm lắm vậy đó…!”

b) Cuối năm 1968, Oriana ra Hanoi và có dịp phỏng vấn Tướng Võ Nguyên Giáp lúc đó còn giữ chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng. Khi về lại Saigon, Oriana có kể lại chi tiết cuộc phỏng vấn này với Luật sư Trần Văn Tuyên vốn hồi trước năm 1945 là bạn bè gần gũi thân thiết với ông Giáp. Tôi được Luật sư Tuyên thuật lại cho nghe về câu chuyện phỏng vấn này, đại ý như sau: “Oriana mô tả Tướng Giáp tiếp bà tại văn phòng Bộ trưởng với một căn phòng rộng mênh mông (une salle immense), và ông Giáp người thấp lùn với dáng điệu, kiểu cách giống hệt như là Tướng Napoleon ngày xưa của Pháp ấy. Khi được hỏi về chiến dịch Tết Mậu Thân ở miền Nam, thì tướng Giáp coi bộ “sửng sốt, mất bình tĩnh” (il s'énerve), ông đứng dậy đi đi, lại lại trong phòng coi bộ suy nghĩ đăm chiêu lắm, và rồi cuối cùng thì ông Giáp “đổ hết tội cho Phạm Hùng là người chỉ huy Trung Ương Cục Miền Nam lúc đó (incriminer) đã gây ra những sự tổn thất nặng nề trong chiến dịch này…” Chuyện Tết Mậu Thân năm 1968 này cho đến nay vào năm 2010, thì vẫn còn là một bí hiểm, vì dù đã sau 42 năm, chưa có bất kỳ một tài liệu chính thức nào tại cấp lãnh đạo chóp bu ở Hanoi mà được đưa ra công khai công bố cho công chúng cả.

c) Về một số nhân vật khác mà Oriana có dịp gặp gỡ trao đổi, thì bà cũng thuật lại với lời lẽ rất thẳng thắn, chẳng hề dè dặt e ngại gì cả. Điển hình như chuyện bà mô tả cảnh Tướng Nguyễn Ngọc Loan lúc nằm tại bệnh viện sau lúc bị bắn trọng thương trong vụ chỉ huy phản công chống lại quân cộng sản xâm nhập đợt hai vào Saigon hồi tháng 5 năm 1968, thì ông tỏ ra là con người chẳng còn một chút dũng khí gì cuả một ông Tướng chỉ huy ngành cảnh sát quốc gia đầy quyền uy và rất là năng nổ trước đó. Tác giả cũng kể lại cuộc gặp gỡ với ông Nguyễn Ngọc Linh với lời lẽ không mấy thiện cảm, đại khái như là ăn diện rất trau chuốt kiểu cách, nói tiếng Anh cũng như tiếng Pháp đều rất trôi chảy, nhưng mà lại xa rời quần chúng v.v... Nói chung, thì cũng như nhiều ký giả quốc tế vào hồi đầu thập niên 1970, Oriana không có mấy thiện cảm với các nhân vật lãnh đạo của chế độ Việt nam Cộng hòa, trái lại họ có vẻ nghiêng về phía Việt cộng, mà họ cho là có lý tưởng, có chính nghĩa hơn.

d) Nhưng sau 1975, thì Oriana cũng như nhiều nhà báo thượng thặng khác như Jean Lacouture của Pháp lại có cơ hội tìm hiểu rõ nét hơn về thực chất của chế độ cộng sản Việt nam. Và bà đã có sự “đánh giá, xét lại” về phong trào cộng sản ở Việt nam. Bà đã trao đổi chuyện này với tác giả David Horowitz là người rất nổi tiếng vì đã thay đổi lập trường 180 độ, từ phía cực tả “thân cộng sản” sang phía “cực hữu”, khiến gây sôi nổi trong công luận thế giới vài chục năm gần đây. Câu chuyện xung quanh nhân vật David Horowitz “gây nhiều tranh cãi” nổi cộm này (controversial figure), cũng như sự thay đổi quan điểm của Oriana Fallaci kể từ sau thập niên 1980 trở đi, sẽ là đề tài cho một bài tìm hiểu chi tiết hơn, mà người viết sẽ cống hiến với quý bạn đọc trong một dịp khác vậy nhé./

California, Tháng Giêng 2010

Đoàn Thanh Liêm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
Và cũng có thể biết thêm rằng, nếu tổng thống Franklin Roosevelt từng ngồi xe lăn để lãnh đạo nước Mỹ suốt 12 năm và bảo vệ thế giới tự do, mang lại chiến thắng cho phe đồng minh trong Đệ Nhị Thế Chiến thì thể chất của tổng thống Joe Biden không phải là điều để người ta bàn luận nhiều như vậy.
Người thanh niên da trắng vội vã bước ra khỏi tiệm massage thì chạm mặt Elcias đang đi tới. Ngó anh, hắn chẳng nói lời nào, chĩa thẳng khẩu súng nổ ba hay bốn phát đạn, không biết đang còn cầm trên tay hay vừa móc ra. Elcias thấy chẳng còn điều khiển được cơ thể, mơ màng, như muốn bay lên cao tựa cái bong bóng rực rỡ màu sắc mà mẹ anh đã treo trong ngày sinh nhật đầu tiên và duy nhất mà anh từng có khi tròn mười tuổi. Rồi anh cảm thấy như vợ con anh đang nắm tay mình kéo lại, không để anh bay lên.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.