Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đánh Giá Cộng Đồng Việt trong Xã Hội Mỹ

27/08/201300:00:00(Xem: 9919)
Là người Việt Nam, ai không thấy hãnh diện khi trong cộng đồng mình sản sinh ra những nhân tài nổi tiếng, ai không thấy vui mừng khi sự thăng tiến của tập thể mình được ghi nhận và vinh danh. Ngược lại, chúng ta cũng xấu hỗ lây khi nghe đài truyền hình, báo chí phanh phui những việc gian lận, buôn người, băng đảng, mà các can phạm mang những họ Trần, Lê, Nguyễn…

Vài năm trước đây, không rõ từ nguồn tin nào mà báo chí tiếng Việt đưa những tin rất “phần chấn” rằng tỷ lệ người Việt có bằng đại học cao đến 40%. Điều khó phủ nhận là con em của những người tị nạn Việt Nam ngày nay đa số đã thành đạt. Các em học giỏi, đứng đầu lớp khi tốt nghiệp trung học, nhận bằng tối ưu, danh dự khi tốt nghiệp đại học… Dường như gia đình nào cũng có con em tốt nghiệp đại học. Nào kỹ sư, nào bác sĩ, dược sĩ, nào luật sư… Các trang báo đăng tin mừng, chia vui đầy rẩy trong mùa tốt nghiệp. Các hội đoàn cũng nhân ngày họp mặt xướng danh và ban phát giấy khen các tân khoa.

Nhưng thực tế, cái tỷ lệ tốt nghiệp đại học trong cộng đồng Việt không cao như thế, dù đang có chiều hướng gia tăng. Có lẽ họ đã mượn nhầm con số tổng quát của tập thể Mỹ gốc Á (48%) mà trong đó sắc dân Việt khiêm tốn đứng hàng thứ ba (19%) tính ngược từ dưới lên (chỉ cao hơn sắc dân Cambodia, Lào và Hmong)

Người viết bài này đã tham khảo nhiều tài liệu của chính phủ cũng như của các cơ quan nghiên cứu. Vì vấn đề thống kê dân số rất phức tạp, tốn kém, nên phải 10 năm, chính phủ mới có một văn bản với đầy đủ các chi tiết. Tài liệu mới nhất mà tác giả tìm được cũng từ năm 2010. Đa số là tài liệu năm 2000. Do đó bài này không thể phản ảnh đúng tình trạng hiện nay của đầu thập niên 2010, nhưng tác giả tin rằng sự sai biệt là không đáng kể.
dan_so_bieu_do_3_phai_bieu_do_6_trai_resized
Hình các biểu đồ.
1.- Sự hình thành cộng đồng người Mỹ gốc Việt

Dù mọi người đã biết rõ về sự hình thành cộng đồng người Mỹ gốc Việt, chúng tôi cũng xin nhắc lại sơ qua với các tình tiết liên quan đến chủ đề của bài này.

Trước ngày miền Nam mất vào tay Cộng Sản, chỉ có 650 người Việt sinh sống tại Hoa Kỳ. Họ là những sinh viên du học thời Việt Nam Cộng Hoà và không về nước trước biến cố 30/4/1975. Ngay những ngày sôi động khi miền Nam thất thủ, hàng chục ngàn người mà đa số là thị dân, công chức quân nhân cao cấp đã thoát kịp và được nhận vào Hoa Kỳ. Sau đó, nhờ vào Đạo Luật Giúp Đỡ Di Dân Tị Nạn Đông Dương năm 1975 (Indochina Migration and Refugee Assistance Act) do cố Tổng Thống Gerald Ford đề xướng và được Quốc Hội ban hành, cho đến 2002, có tổng cộng 1,146, 650 di dân đến từ ba nước Đông Dương, trong đó đông nhất là dân Việt Nam với 759, 482 người thứ đến là Lào (241,996) và Cambodian (145,172). Sau 2002, các chương trình đặc biệt như Định Cư Cựu Tù Nhân Chính Trị và Con Lai đã chấm dứt, chỉ còn chương trình Đoàn Tụ Gia Đình, cho nên lượng di dân của người Việt cũng không còn ồ ạt. Do đó sự gia tăng không đáng kể. Thống kê 2010 cho biết có 1,737,433 người Việt định cư tại Hoa Kỳ trong đó có 82% đã trở thành công dân Mỹ. Có đến 581,946 người (38%) cư trú tại Tiểu Bang California, và 210,913 người (14%) tại Texas. Người Mỹ gốc Việt đông hàng thứ tư trong tổng số dân Mỹ gốc Á Châu, tập trung tại các thành phố lớn như San Jose, Houston, Seattle, Washington, D.C. (vùng Bắc Virginia), và Dallas-Fort Worth.

Có đến hơn một triệu người Việt trên 5 tuổi nói tiếng Việt trong gia đình, làm cho Việt Ngữ đứng thứ bảy trong số những ngôn ngữ được dung nhiều nhất tại Hoa Kỳ.

2.- Thành phần xã hội:

Thành phần xã hội và mức lợi tức của người Mỹ gốc Việt rất đa dạng. Trong đợt đến Mỹ đầu tiên, như đã nói ở trên, là những người dân trung lưu các thành thị lớn ở miền Nam mà đa số là công chức, quân nhân cao cấp, hàng ngũ trí thức.

Trong đợt di dân thứ hai từ năm 1978 đến giữa 1980, ước tính có cả triệu người Việt đã trốn tránh chế độ CS trên các con thuyền mỏng manh. Có phân nữa đã bị vùi thây trên biển cả, phân nữa khác đến được các nước tự do, mà đa số là đến Hoa Kỳ. Thành phần di dân này đuợc gọi là Thuyền Nhân đa số ở tầng lớp thấp của xã hội, học vấn từ trung bình đến thấp, không có tay nghề chuyên môn. Sau khi Quốc Hội thông qua Đạo Luật Tị Nạn (Refugee Act, 1980), từ đầu thập niên 1990, các cựu quân nhân công chức từng bị Cộng Sản giam cầm và gia đình (531,310 người) được Hoa Kỳ cho nhập cư. Kế đó là đợt di dân của các con lai, mà cha họ là những người Mỹ từng làm việc hay chiến đấu ở Việt Nam.

Dù thuộc thành phần trung lưu hay thấp kém, đa số người Việt đều bị trở ngại bởi hàng rào ngôn ngữ. Chỉ có một số rất nhỏ học thêm ở đại học để có công việc tốt ở các hãng điện tử, văn phòng, giáo dục…, đa số còn lại phải làm thợ trong các hãng xưởng, tiệm ăn, sửa chữa xe cộ, cắt cỏ và hành nghề làm móng tay, cắt tóc. Sự cách biệt được thấy khá rõ ở San Jose khi so sánh những cư dân Việt làm nghề lao động bình thường (blue collars) ở khu vực downtown San Jose với dân có trình độ làm chuyên viên (professionals) ở khu Evergreen và Berryessa. Một điều lý thú là người Việt thích chọn nghành Nails, có lẽ vì lý do dễ học, chỉ cần khéo tay mà lại không cần biết Anh ngữ. Trong số những người làm neo toàn quốc, có 43% là người Việt. Tỷ lệ này lên đến 80% tại Tiểu Bang California.
dan_so_bieu_do_4_bieu_do_7_resized
Hình các biểu đồ.
3.- Mức Độ Hội Nhập vào Xã Hội Mỹ

Theo một nghiên cứu của Học Viện Manhattan vào năm 2008, thì nhìn chung, người Việt nhanh chóng hội nhập vào đời sống Mỹ (chỉ thua Canadian, Filippino, ngang hàng với Cuban, Korean). Về phương diện đời sống (Civic) thì người Việt có mức hội nhập cao nhất, nhưng về mặt văn hoá, thì thua kém các cộng đồng dân khác (chỉ hơn Trung Hoa và Ấn Độ). Xin lưu ý: Mức độ hội nhập văn hoá không liên quan đến trình độ học vấn, người Việt có chỉ số thấp vì trở ngại ngôn ngữ. Sự tham gia hoạt động chính trị cũng cao có lẽ vì họ là những người tị nạn chính trị, và đã chấp nhận Hoa Kỳ là quê hương mới.

Các so sánh này không đề cập đến dân Lào và Cambodian.

So với những người Mỹ gốc Á khác, thì rõ ràng người Việt kém hẳn về sự thành đạt trong học vấn và sự giàu có. Nhưng họ đang có chiều hướng vượt lên. Chỉ trong mười năm 1989 và 1999 tỷ lệ nghèo khó của cư dân Việt giảm từ 34% xuống còn 16%, so với 12% là tỷ lệ nghèo khó chung của toàn dân Mỹ cũng trong năm 1999.

4.- Trình Độ Học Vấn:

Tại Việt Nam trước năm 1975, có khoảng 25% dân số có trình độ Trung Học. Bằng Tú Tài là mức phổ cập của giới trung lưu. Nhưng tại Mỹ, thì bằng đó chỉ là mức phổ cập của đại chúng.

Thống kê Mỹ cho thấy có 61.9% trong tổng số cư dân Việt có bằng Trung Học hoặc cao hơn, so với tỷ lệ chung toàn dân Mỹ là 80.4%. Người Việt chỉ khá hơn người Lào (50.5%) và Cambodian (47.1%). Trong các sắc dân Mỹ gốc Á châu, người Nhật có tỷ lệ cao nhất (91.4%), kế đó là Filippino (87.4%), Korean (86.4%), Ấn Độ (85.4%), và Trung Hoa (77.6%). Tỷ lệ dân có bằng Đại học của Mỹ là 24.4%, trong khi các nước dân Mỹ gốc Á theo thứ tự từ cao xuống thấp là: Ấn Độ (60.9%), Trung Hoa (46.6%), Korean (43.1%), Filippino (41.7%), Nhật Bản (40.4%), Việt Nam (19.5%), Cambodian (9.1%), Laotian (7.6%). Con số theo thống kê năm 2003 có khả quan hơn (Xem đồ biểu)

Source: U.S. Department of Commerce, Economics and Statistics Administration, U.S. Census Bureau. 2000.

Bước qua thế hệ thứ hai, người Mỹ gốc Việt đã có sự tiến bộ đáng kể về phương diện học vấn. Truyền thống gia đình của người Việt là khuyến khích con cái học hành vì họ quan niệm sự giáo dục là chìa khoá vạn năng, sẽ giúp mở tất cả các cánh cửa vào đời, bảo đảm sự thành công về danh vọng và tiền tài. Thanh niên Việt đặc biệt chú trọng vào các nghành kỹ sư và y, nha, dược, mà ít theo đuổi các ngành nhân văn, một phần có lẽ do trở ngại về văn hoá và rất thực tế là các ngành này khó kiếm ra nhiều tiền. Theo thống kê 2010, trong tổng số những người Việt trên 25 tuối, có 29% chưa có bằng Trung Học hoặc thấp hơn. Trong khi tỷ lệ này là 38% cho người Hmong, 37% cho người Cambodia, 33 cho người Lào so với Nhật chỉ có 5.4%, Indonesian 7%.

Những sự yếu kém về các mặt của người Mỹ gốc Việt có thể đổ cho trở ngại ngôn ngữ. người Việt có tỷ lệ cao nhất (45%) trong các sắc dân gốc Á về điểu mà các nhà Xã Hội Học Mỹ gọi là “Linguistically Isolated” (tạm dịch là bị cách biệt vì ngôn ngữ bất đồng) tệ hơn cả dân Lào, Hmong,Cambodia. Tỷ lệ chung cho các sắc dân Á là khoảng 25%. Thống kê 2010 cũng cho biết có đến 51% người Việt không nói sỏi tiếng Anh,

Source: https://www.federalregister.gov/articles/2012/05/04/2012-10835/request-for-information-to-gather-technical-expertise-pertaining-to-the-disaggregation-of-asian-and
dan_so_bieu_do_5_resized
Hình các biểu đồ.
5.- Mức Giàu-Nghèo:

Cũng theo thống kê 2000, lợi tức trung bình một gia đình Mỹ (tổng quát) là $60,609, bình quân đầu người là $26,059; Mỹ gốc Á cao hơn: $75,964 (gia đình) và $27,284 (đầu người). Trong khi đó Mỹ gốc Việt là $56,958 (Gia đình) và $19,987 (đầu người), chỉ khá hơn dân Lào và Cambodian. (Xem thống kê).

Theo thống kê Reeves Bennet 2004 và Teranishi 2010, nếu tính theo tỷ lệ số người trong sắc dân mà sống dưới mức nghèo khó (theo tiêu chuẩn của Hoa Kỳ) thì Việt Nam có 16.6%, trong khi toàn quốc là 15.3%, dân Mỹ gốc Á là 12.4%. Dân Mỹ gốc Việt lại cũng chỉ khá hơn dân Lào (18.5%), Hmong 37.8%) và Cambodian (29.3%). Chỉ có người Ấn Độ, Filippino và Nhật là có tỷ lệ thấp nhất. Dĩ nhiên, dân gốc Việt khá hơn nhiều so với các dân Mỹ da đỏ (25.7%), Mỹ da đen (24.7%), Hispanic (22.6%). Biểu đồ bên dưới là của năm 1999.

Các nghiên cứu mới nhất cho biết hiện nay có đến gần phân nửa số dân Mỹ phải lãnh trợ cấp welfare và Phiếu Thực Phẩm (Xin xem các bài của tác giả Đỗ Văn Phúc trong: http://www.michaelpdo.com/USAWrongTrack.htm, http://www.michaelpdo.com/USAWelfareState.htm

Trở lại thống kê năm 2000, trong tổng số 477 ngàn gia đình Mỹ gốc Việt, có 15.8% nhận Trợ Cấp An Sinh Xã Hội, 9.3% nhận Trợ Cấp Gia Tăng (SSI), 11.9% nhận phiếu Thực Phẩm. So với toàn thể dân Mỹ nói chung và các sắc dân Đông Dương nói riêng, thì sắc dân Việt có điểm khá, có điểm yếu kém hơn. Xin xem biểu đồ 7 bên dưới với nhiều chi tiết hơn.

Tuy nhiên, các con số thống kê của Mỹ không hẳn đã phản ảnh chính xác sự thật. Là người hoạt động cộng đồng trong hơn hai thập niên, tác giả biết nhiều về những hiện trạng kinh tế tài chánh của các gia đình Việt Nam. Có rất nhiều người làm các nghề tự do, nhận tiền mặt mà không khai báo hết khi khai thuế cuối năm. Nhiều người đi làm có lợi tức nhưng vẫn man khai nghèo khó để lãnh tiền An Sinh Xã Hội và Phiếu Thực Phẩm. Chính tận mắt tác giả đã thấy một bà dùng Phiếu Thực Phẩm (ở Texas, đó là thẻ Lone Star cấp cho gần 2 triệu dân Texas) để mua một xe (shopping cart) đầy những trái sầu riêng. Có những người Việt “nghèo” ở trong những căn nhà trị giá nửa triệu, đi trên những chiếc xe Lexus, BMW láng bóng. Mỗi năm, người Việt ở Mỹ gửi về cho gia đình bên Việt Nam hàng tỷ đô la. Như thế, có quá mâu thuẫn khi nhìn vào mức nghèo khó của tập thể Mỹ gốc Việt trên các thống kê của chính phủ? Những người lương thiện hẳn phải bứt rứt, cảm thấy xấu hỗ mỗi khi nghe đến các vụ gian lận bị phanh phui, và bị những người Mỹ bản xứ nhìn vào như những người đến đất của họ để ăn bám, lạm dụng hệ thống An Sinh Xã Hội!

Sự trưởng thành của các người Việt thế hệ sau này chắc sẽ làm thay đổi nhiều tình trạng yếu kém về tài chánh và trình độ mà đã đẩy người Mỹ gốc Việt xuống gần cuối thang của sự đánh giá chung. Người Việt vốn thông minh, tháo vát, có óc cầu tiến chắc sẽ không thua kém các sắc dân Á Châu khác. Một điều cần lưu ý là sự di dân của những sắc dân Á Châu khác hoàn toàn khác hẳn với dân ba nước Đông Dương. Họ là những người trung lưu đến Mỹ du học hoặc lập nghiệp mà số vốn tài chánh và tri thức mang theo cao hơn nhiều so với những người Việt Nam chúng ta. Do đó không lạ, họ ở mức thang rất cao trong sự đánh giá. Có lãnh vực còn cao hơn cả dân Mỹ bản địa.

Cuối tháng 8/2013

Đỗ Văn Phúc

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
TÓM TẮT Thị trường hữu hiệu vì tổng hợp mọi quyết định trong xã hội để đạt đến mức giá chung phù hợp nhất với các dữ kiện đang có (efficient market theory.) Ngược lại nếu giá cả do nhà nước đơn phương quyết định sẽ sai lệch. Giá cả trong thị trường, giống như bãi đấu thầu, không phải lúc nào cũng hợp lý do mỗi người dự đoán giá sẽ còn tăng hay giảm. Tâm lý hùa theo đám đông và tên khờ cuối cùng (Last Fool Theory) rất tai hại trong Kinh Tế Hành Vi (Behavioral Economics) Kinh Tế Phức Tạp (Complexity Economics) tìm hiểu những tác động từ bên ngoài như đại dịch, chiến tranh, phát minh…lên nền kinh tế.
Trước những nghi ngại “Hoa Kỳ có còn là đồng minh đáng tin cậy hay không?” thì chúng ta có thể khẳng định rằng Mỹ hay bất kỳ quốc gia nào trong khối tự do đều vẫn là những người bạn đồng hành tốt trong hành trình đi tìm tự do và canh tân đất nước, miễn là chúng ta không quên những bài học đã nêu để phát huy tiềm năng của chính mình, bảo vệ quyền lợi quốc gia, và đạt tới mục tiêu tự do, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc.
Bằng chứng: ”Sự bùng phát mạnh của làn sóng Covid-19 lần thứ tư cùng với các đợt giãn cách liên tiếp khiến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (DN) bị ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt là các địa phương phía Nam. Theo Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 8/2021 là 85,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2020.
Mặc dù rõ ràng là Hoa Kỳ có thể điều hành công việc ra khỏi Afghanistan tốt đẹp hơn, nhưng thảm kịch xảy ra vào tháng này đã kéo dài trong 20 năm. Ngay từ đầu, Mỹ và các đồng minh đã chấp nhận - và không bao giờ xem lại - một chiến lược xây dựng nhà nước từ trên xuống dưới luôn được xem là thất bại như do định mệnh đã an bài. Hoa Kỳ đã xâm chiếm Afghanistan 20 năm trước với hy vọng tái thiết đất nước, nay đã trở thành một tai họa cho thế giới và chính người dân của họ. Trước đợt tăng quân năm 2009, Tướng Stanley McChrystal giải thích, mục tiêu là “chính phủ Afghanistan kiểm soát toàn vẹn lãnh thổ để hỗ trợ ổn định khu vực và ngăn chặn việc sử dụng này cho chủ nghĩa khủng bố quốc tế.“ Hiện nay, với việc thiệt mạng hơn 100.000 và thất thoát khoảng 2 nghìn tỷ đô la, tất cả nước Mỹ phải thể hiện cho nỗ lực của mình là cảnh của một cuộc tranh giành tuyệt vọng để chạy ra khỏi đất nước trong tháng này - một sự sụp đổ nhục nhã gợi nhớ đến sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975. Điều sai lầ
Gặp gỡ và nói chuyện nhiều với những người thông dịch viên Afghanistan, tôi mới hiểu thêm rất nhiều về dân tộc họ và biết rằng chính phủ Afghanistan là một chính phủ tham nhũng lan tràn từ cấp thấp cho đến cấp cao, mức độ nào họ cũng có thể ăn hối lộ được, chỉ có người dân thấp cổ bé miệng là khổ. Người Mỹ biết rất rõ nhưng vẫn không làm gì hết. Bản thân chúng tôi khi ra vào đất nước này, cũng phải đóng cho những nhân viên hải quan đủ thứ tiền, mà phải bằng tiền đô la Mỹ, mệnh giá 100 đồng mới tinh, cũ hoặc dính 1 vết mực, họ không nhận và không chịu ký giấy và đóng mộc. Nói để thấy rằng chúng ta, người Mỹ, hy sinh tiền bạc, xương máu cho họ, thật không đáng chút nào. Rút ra khỏi đất nước này là đúng và là một việc phải làm ngay.
Cứ tới cuối tuần, dân Tây réo nhau xuống đường biểu tình chống chương trình chích ngừa dịch vũ hán và, tiếp theo, chống biện pháp kiểm soát có chích hay không bằng «thông hành y tế» (pass-sanitaire), tờ giấy có dấu hiệu đã chích ngừa của Cơ quan Bảo hiểm sức khỏe cấp qua Cơ quan tổ chức chích hoặc y sĩ gia đình hay dược sĩ.
Đầu năm 70, bạn đồng minh Huê kỳ quyết định bỏ rơi VNCH, không thực hiện cam kết rút quân, Việt-nam hóa chiến tranh, mặc nhiên giao Miền nam cho Hà nội. Ngày 30/04/75, quân Bắt Việt tiến vào Sài gòn, ngỡ ngàng. Dân chúng hoảng loạn bỏ chạy. Nhưng 14 năm sau thất bại nhục nhã ở Việt nam, bức tường Bá-linh bổng sụp đổ, kéo theo cộng sản Liên xô xuống hố, giúp Huê kỳ kết thúc cuộc chiến tranh lạnh làm kẻ chiến thắng.
Người Mỹ nói “Nothing is certain but tax and death” (Không ai tránh khỏi thuế và chết). Thuế mang ý nghĩa đặc biệt vì lịch sử nước Mỹ được thành hình từ ngày dân chúng thuộc địa nổi loạn chống nhà nước bảo hộ Anh Hoàng với khẩu hiệu bất hủ “Taxation without representation is tyranny” (Bị đánh thuế mà không được có đại biểu là bạo quyền.) Cho nên mỗi kỳ bầu cử đều tranh luận gay gắt về thuế má – nhưng không chỉ là cải cọ vô bổ vì khi thành luật sẽ theo đó móc từ túi tiền của mỗi người dân nhiều hay ít.
Đảng cộng sản VN cũng “khởi nghiệp” với những tuyên ngôn và khẩu hiệu nghe (tử tế) tương tự. Họ hô hào chống lại áp bức, bất công, kỳ thị … Nhờ vậy, họ vận động được quần chúng - kể cả những thành phần thiểu số, “ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng” - nổi dậy “giành lấy chính quyền về tay nhân dân.” Chả phải vô cớ mà Cách Mạng Tháng Tám vẫn được mệnh danh là “Cuộc Khởi Nghĩa Của Những Người Tay Không.” Chỉ có điều đáng phàn nàn là sau khi “những người tay không” nắm được quyền bính trong tay thì họ (tức khắc) hành xử như một đám côn đồ, đối với tất cả mọi thành phần dân tộc
Người lính Mỹ, trong nhân dáng hiên ngang, với những bước chân chắc nịch, đôi mắt nhìn thẳng và kỹ thuật tác chiến tuyệt vời. Nhưng người lính Mỹ cũng có trái tim biết rung động, biết nhớ thương, biết đau khổ như bạn và tôi. Xin đừng “thần thánh hóa” hoặc đòi hỏi những điều mà người lính Mỹ không thể thực hiện được; vì người lính Mỹ còn phải chu toàn bổ phận đối với người hôn phối, gia đình và người thân. Xin hãy nghĩ đến những trái tim tan vỡ trong mỗi gia đình, khi một người lính Mỹ gục ngã!
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.