Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Về Thăm Bidong, Galang 5-6/2012

21/04/201200:00:00(Xem: 12355)
Nhân kỷ niệm 37 năm Ngày Saigon thất thủ, Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam sẽ tổ chức 2 chuyến đi “Về Bến Tự Do” để thăm lại các Trại Tị Nạn xưa và thu thập kỷ vật cho Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân.

Thấm thoát mà đã 37 năm kể từ khi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Như thông lệ hàng năm, cộng đồng người Việt ở nước ngoài tổ chức nhiều Lễ Kỷ Niệm và meeting phản đối. Ngoài việc tham gia vào các sinh hoạt đó, Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (một tổ chức bất vụ lợi, đặt cơ sở tại Melbourne, Australia) còn tổ chức 2 chuyến đi trở về Malaysia và Indonesia vào giữa tháng 5 cho đến đầu tháng 6 – gọi là Về Bến Tự Do – để thăm lại các trại tị nạn xưa, trùng tu nghĩa trang cho những thuyền nhân xấu số – và hi vọng tìm kiếm thêm những di tích, kỷ vật, hình ảnh cho một Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân Việt Nam trong tương lai.

thuyen_nhan_traihe2012-web_medium

Bích chương.
Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam được thành lập hồi năm 2005. Theo ông Trần Đông, Giám Đốc của Tổ Chức, sinh hoạt của VKTNVN được chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là 6 năm đầu tiên và giai đoạn thứ 2 là từ nay đến năm 2015, khi cộng đồng người Việt ở nước ngoài kỷ niệm 40 năm định cư.

Mục tiêu của VKTNVN trong 10 năm đầu tiên là trùng tu các khu nghĩa trang và mộ phần Thuyền nhân VN ở các quốc gia Đông Nam Á và công tác nầy sẽ chấm dứt vào năm 2015. Cùng lúc đó, VKTNVN cũng sưu tập những di tích lịch sử, kỷ vật, hình ảnh cho mục tiêu dài hạn là xây dựng Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân Việt Nam.

Ngọc Hân phỏng vấn ông Trần Đông về các sinh hoạt trung hạn và dài hạn nầy.

Ngọc Hân: Thưa anh Trần Đông, Văn Khố Thuyền Nhân VN sắp tổ chức 2 chuyến đi từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 6 năm 2012, gọi là “Về Bến Tự Do”. Ngoài mục đích trùng tu nghĩa trang của các thuyền nhân, chuyến đi nầy có hi vọng làm được gì khác hay không?

Trần Đông: Thưa chị Ngọc Hân và tất cả quý vị, một trong những công việc quan trọng trong năm 2012 nầy của VKTNVN là tổ chức hai chuyến đi về thăm di tích tị nạn Việt Nam. Chuyến thứ nhất đi về vùng quần đảo Anambas, tức đến các trại Kuku, Air Raya và Galang ở Indonesia. Chuyến thứ nhì là đi về thăm một số di tích tị nạn Việt Nam tại Malaysia, trong đó điểm dừng chính là đảo Bidong . Mục đích chính của hai chuyến đi là để tảo mộ. Song song với vấn đề trùng tu mộ thuyền nhân, chúng tôi cũng đi thăm và tìm hiểu về di tích thuyền nhân Việt Nam ở tất cả các nơi nói trên và đồng thời cũng sưu tập về hình ảnh và kỷ vật cũng như tài liệu liên quan đến vấn đề thuyền nhân. Công tác tìm kiếm và sưu tập tài liệu cũng sẽ được tiếp tục thực hiện trong giai đoạn 2, tức là từ 2012 đến 2015.

thuyen_nhan_galang_memorial_medium

Tượng đàì bị đập bể ở Galang, Indonesia.
Ngọc Hân: Như vậy, ý định lâu dài của VKTNVN là gì? Thành lập một Bảo Tàng Viện Lịch Sử Thuyền Nhân phải không?

Trần Đông: Hiện giờ thì chúng tôi chỉ nghĩ đến nỗ lực tìm kiếm thật nhiều, càng nhiều càng tốt, các chứng từ cũng như hồ sơ, di vật liên quan đến biến cố thuyền nhân. Chúng tôi chỉ nghĩ đến việc sưu tập (collect) và chuyển những hồ sơ đó sang dạng kỹ thuật số (digitalize) có thể giữ lại được trong máy điện toán để đưa vào trong các hệ thống văn khố (archive). Tuy nhiên, cũng không loại bỏ trường hợp là sau năm 2015 thì chúng ta tiến đến giai đoạn thực hiện một Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân VN, có thể tại Úc hay một nơi nào đó, để trưng bày những hình ảnh, di vật về thuyền nhân. Đồng thời cũng là nơi giúp mọi người – không riêng gì người Việt - mà kể cả người bản địa (như Úc, Mỹ, Pháp…) – có thể biết được về giai đoạn gian khổ của người Việt và lịch sử hình thành của cộng đồng người Việt tại các quốc gia nầy.

Ngọc Hân: Ngoài công tác quan trọng và dài hạn như anh vừa nói, Tổ chức VKTNVN có xây dựng tượng đài kỷ niệm không? Chẳng hạn như tại Úc hay tại các nơi khác?

Trần Đông: Trong giai đoạn đầu tiên vừa qua, cũng là giai đoạn mà VKTNVN tổ chức chuyến đi đầu tiên năm 2005 trở về thăm di tích tị nạn ở Indonesia và Malaysia. Trong chuyến đi đó chúng tôi đã dựng lên hai tấm bia tưởng niệm ở tại hai đảo Bidong và Galang. Hai tấm bia này ở Galang và Bidong về sau đã bị đập vỡ, bị phá hoại…

thuyen_nhan_melbourne_memorial_medium

Tượng đaì thuyền nhân ở Melbourne.
Ngọc Hân: Vì lý do gì mà hai tấm bia tưởng niệm thuyền nhân tại Galang và Bidong bị đập vỡ, bị phá hoại, thưa anh?

Trần Đông: Do áp lực của Hà Nội, hai tấm bia tưởng niệm thuyền nhân tại Galang và Bidong bị đập bỏ. Sau sự đập bỏ đó thì đồng bào của mình ở khắp nơi cảm thấy rất phẩn uất vì sự tàn bạo của nhà cầm quyền Hà Nội cho nên đã có nhiều tượng đài thuyền nhân khác được xây dựng lên ở nhiều nơi; thí dụ như là ở tại Nam Cali, như ba tượng đài thuyền nhân ở tại nước Đức, rồi tượng đài thuyền nhân ở tại Bỉ, tại Pháp và tại Thụy Sĩ. Đó là những tượng đài thuyền nhân được đồng bào mình dựng lên ở các nơi sau khi hai bia tưởng niệm ở Bidong và Galang bị đập vỡ. 

thuyen_nhan_bidong_jetty_medium

Cầu tàu ở Bidong.
Ngọc Hân: Còn tại Úc, thưa anh?

Trần Đông: Hiện nay tại Úc, có Tượng đài do VKTNVN dựng lên ở Melbourne, bên cạnh đó cũng có Tượng đài Thuyền Nhân của Cộng Đồng Người Việt Tự Do NSW dựng lên ở Sydney. Trong tương lai cũng sẽ có một số tượng đài khác dựng lên ở vài nơi khác tại nước Úc nữa.

Ngọc Hân: Xin cảm ơn anh Trần Đông, Giám đốc VKTNVN, về cuộc phỏng vấn ngắn này.

Ý kiến bạn đọc
21/04/201222:29:49
Khách
Sao lại "kỷ niệm" ngày 30-04-1975?
Chỉ có VC mới kỷ niệm ngày này , còn chúng ta phải dùng "TƯỞNG NIỆM" mới nghe hợp nhĩ hơn vì đây là ngày đau buồn của tất cả Quân Dân miền Nam Viêt Nam. NGÀY QUỐC HẬN.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Không chỉ thường xuyên xua quân đi canh cửa, an ninh Thanh Hóa còn liên tục gửi giấy mời, giấy triệu tập như là một thủ trấn áp tinh thần bà Nguyễn Thị Lành - vợ của Mục sư, TNLT Nguyễn Trung Tôn. Chồng bị bỏ tù, một mình bà Nguyễn Thị Lành phải vất vả gánh vác gia đình. Những ngày qua càng thêm vất vả bởi chăm mẹ chồng lớn tuổi mắc bệnh phải nhập viện, và con bị tật nguyền. Nhưng bà Lành vẫn liên tục bị an ninh tỉnh Thanh Hóa sách nhiễu, đe dọa…
Những người Mỹ gốc Việt bênh hay chống ông là điều bình thường, vì những quyết định cũng như cách hành xử của ông sẽ ảnh hưởng lên đời sống của họ và tương lai con cháu họ, và ngược lại, là công dân HK, họ có trong tay lá phiếu để ảnh hưởng khiến ông Trump có được tiếp tục làm tổng thống nữa không. Do đó, lưu tâm và tham dự vào những đánh giá đúng sai, khen chê, tâng bốc, hay moi móc thói hư tật xấu của người đang ứng cử điều khiển vận mạng quốc gia của họ thêm 4 năm nữa (và sẽ để lại những hậu quả lâu hơn) là hiện tượng bình thường .
Tôi thì trộm nghĩ hơi khác FB Đoan Trang chút xíu: Việt Nam có hàng ngàn Tiên Lãng, Đồng Tâm, Dương Nội. Những thôn ổ này luôn là nơi sản sinh ra những nông dân (“vài ngàn năm đứng trên đất nghèo”) Lê Đình Kình, Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Qúy, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn Thùy Dương, Trịnh Bá Khiêm, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư ... Hàng hàng/lớp lớp, họ sẵn sàng nối tiếp tiền nhân – không bao giờ dứt – để gìn giữ và bảo vệ quê hương. Quyết định đối đầu với sức mạnh của cả một dân tộc là một lỗi lầm chí tử của những kẻ đang nắm giữ quyền bính hiện nay.
Người Pháp gặp nhau, bắt tay, hoặc ôm hun ở má, tay vừa vỗ lưng vài cái nếu thân mật lắm, buông ra, nhìn nhau và hỏi «Mạnh giỏi thế nào?». Người Pháp mang tâm lý sợ sệt, nhứt là sợ chết sau nhiều trận đại dịch, từ dịch Tây-ban-nha giết chết gần phân nửa dân số âu châu. Người Tàu, gặp nhau, chào và hỏi ngay «Ăn cơm chưa?». Ăn cơm rồi là hôm đó sống hạnh phúc vì phần đông người Tàu đói triền miên. Trốn nạn đói, chạy qua Việt nam tỵ nạn, vẫn còn mang nỗi ám ảnh nạn đói. Còn người Việt nam xứ Nam kỳ chào nhau và hỏi thăm «Mần ăn ra sao?». Gốc nghèo khó ở ngoài Bắc, ngoài Trung, đơn thân độc mã, vào Nam sanh sống giữa cảnh trời nước mênh mông, đồng hoang lau sậy, thoát cái nghèo là niềm mong ước từ lúc rời người làng, kẻ nước.
Thiệt đọc mà muốn ứa nước mắt luôn. Sao mà xui xẻo dữ vậy Trời? Tôi sống theo kiểu check by check, có đồng nào xào đồng đó, chưa bao giờ dư ra được một xu. Hai tháng trước, vì (hay nhờ) dịch Vũ Hán, nhà nước Hoa Kỳ thương tình gửi phụ thêm cho 1,200.00 USD. Trộm nghĩ mình cũng đã đến lúc gần đất xa trời rồi nên lật đật bỏ số tiền này vô ngân hàng, dành vào việc hoả táng. Vụ này tui đã dọ giá rồi, tốn đâu cỡ gần ngàn. Vài trăm còn lại để con cháu mua chút đỉnh hương hoa, cho nó giống với người ta, ngó cũng phần nào đỡ tủi.
Có vẻ như con người thời nay càng lúc càng trở nên lười biếng, thụ động; nhất là từ khi nhân loại bước vào kỷ nguyên tin học, truyền thông liên mạng. Tin học đã đem con người khắp hành tinh gần lại với nhau, nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn, chính nó bị con người lạm dụng để bóp méo, biến dạng sự thực cho những mục tiêu bất chính của cá nhân, bè phái.
Sau 95 năm gào cùng một giọng nền Báo chí gọi là “cách mạng” của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) vẫn trơn tru uốn lưỡi phóng ra câu giả dối rằng:”Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người đã được Việt Nam cam kết thực hiện theo những nguyên tắc chung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền.” (báo Quân đội Nhân dân (QĐND), ngày 15/6/2020). Điều không thật này đã được Ban Tuyên giáo, tổ chức tuyên truyền và chỉ huy báo chí-truyền thông sử dụng từ lâu, nay được lập lại để kỷ niệm 95 năm ngày gọi là “Báo chí cách mạng Việt Nam” (21/6/1925-21/6/2020).
“Muốn chỉ một cá nhân nào đó, tùy theo giai cấp, tín ngưỡng, tùy theo lúc sống hay chết, tùy theo già hay trẻ, người Việt Nam có rất nhiều tên để gọi. Ngôn ngữ Việt có những từ sau đây chỉ các loại tên: bí danh, bút hiệu, nhũ danh, nghệ danh, pháp danh, pháp tự, pháp hiệu, tên, tên cái, tên đệm, tên họ, tên gọi, tên chữ, tên cúng cơm, tên hèm, tên hiệu, tên húy, tên riêng, tên thánh, tên thụy, tên tục, tên tự, thương hiệu.” (Ngưng trích: Nguyễn Long Thao- DANH XƯNG ĐẶC BIỆT CỦA THƯỜNG DÂN VIỆT NAM)
Các cuộc khủng hoảng lớn lao có các hậu quả trầm trọng, thường không tiên đoán được. Cuộc Đại Khủng hoảng trong thập niên 1930 đã thúc đẩy trào lưu cô lập, tinh thần dân tộc, chủ nghĩa phát xít và Đệ nhị Thế chiến, nhưng cũng dẫn đến biện pháp hồi phục kinh tế New Deal, sự trỗi dậy của Hoa Kỳ như một siêu cường toàn cầu, và cuối cùng là tiến trình xoá bỏ thực dân. Các cuộc tấn công trong ngày 11 tháng 9 đã tạo ra cho Mỹ hai sự can thiệp thất bại, sự trỗi dậy của Iran và các hình thức mới của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã tạo ra một sự đột biến trong trào lưu dân tuý chống các định chế chính trị lâu đời để thay thế cho các nhà lãnh đạo trên toàn cầu. Các nhà sử học trong tương lai sẽ theo dõi và so sánh những ảnh hưởng lan rộng đến cơn đại dịch virus corona hiện nay; thách thức cho họ là hình dung ra trước được các ảnh hưởng.
Bác sỹ Tom Dooley qua đời năm 1961. Mãi đến vài chục năm sau, tôi mới biết đến tác phẩm đầu tay của ông (Deliver Us from Evil) do Farrar, Straus & Cudahy xuất bản từ 1956. Đây là một tập bút ký, có hình ảnh minh hoạ đính kèm, về cuộc di cư ồ ạt (vào giữa thế kỷ trước) của hằng triệu người dân Việt. Họ ra đi chỉ với hành trang duy nhất là niềm tin vào tình người, và không khí tự do, ở bên kia vỹ tuyến. Rồi họ đã được tiếp đón, hoà nhập và sinh sống ra sao nơi miền đất mới? Câu trả lời có thể tìm được – phần nào – qua một tác phẩm khác (Sài Gòn – Chuyện Đời Của Phố) của Phạm Công Luận, do Hội Nhà Văn xuất bản năm 2013.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.