Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Có Ai Còn Nhớ Ông Đồ Trong Những Ngày Hội Tết"

27/01/201100:00:00(Xem: 4669)
Có Ai Còn Nhớ Ông Đồ Trong Những Ngày Hội Tết"

chan_que_hat_thien_nguyen-large-contentNhóm Thiện-Nguyện Chân-Quê hằng năm mang không-khí Tết Nguyên-Đán đến các nursing home tại quận Cam, California.

Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc (sưu-tầm & biên soạn)
Trong những ngày mừng Xuân ở Việt-Nam xưa kia, người ta thấy lúc nào cũng tưng-bừng náo nức không-khí hội hè. Nhất là ở miền Bắc:
Mùng bốn là hội Kéo-Co.
Mùng năm hội Ó chẳng cho nhau về
Mùng sáu đi hội Bồ-Đề
Mùng bảy trở về đi hội Đống-Cao
*
Mùng bảy hội Khám, mùng tám hội Dâu
Mùng chín đâu đâu cũng trở về hội Gióng…
Những ngày hội Xuân ấy được tổ-chức ở các Đình, Chùa, Đền, Miếu. Nó thể hiện tình nghĩa xóm làng, tình-yêu thiên-nhiên, yêu nghệ-thuật và người dân lành có dịp tỏ lòng sùng-bái các anh-hùng Việt-Nam.
Hình ảnh ông Đồ nghèo không thể thiếu được vào những ngày Xuân. Trong mười ngày trước Tết; họ thường thuê một góc phố, hoặc họ ngồi ở ngay các vỉa hè để bán những băng giấy đỏ. Đôi khi rắc phấn vàng hay bạc, những tấm biển trang trí hoa mà trên đó họ viết những câu đối hay vẽ những bức hoành-phi. Nói đến năm bắt đầu, đến mùa Xuân đang mở ra, nói về gia-đình hay ý-chí của người gia-chủ. Họ cũng thường viết trên những mảnh giấy của khách hàng đưa cho họ để được trả công bằng một khoản tiền nhỏ.
Nếu trong năm vừa qua; gia-đình nào có người đã mãn-phần thì người ta dùng giấy màu vàng hay màu xanh. Những hiệu-lực được thừa nhận ở các màu sắc và ngôn-ngữ từ bút mực thần-kỳ của ông Đồ già; thúc đẩy mọi hạng người chi tiền. Họ mang về treo lên cửa, lên tường những băng giấy dài và đẹp này nhằm tạo vẻ ngoạn-mục cho những ngày Tết Nguyên-Đán.
Xưa kia, ở miền Bắc giá rét, những ông Đồ nghèo khốn khổ run rẩy trong tấm áo bông dài. Ngồi xổm trên chiếu; bán những chữ Hán cuối cùng của họ. Những chữ mà đối với nhiều người đã trở nên câm lặng, không nói lên được một điều gì cả.
Vào thế-kỷ thứ mười lăm (XV) có Vua Thánh-Tôn nhà Lê, trước ngày Tết Nguyên-Đán, Ngài thân-chinh đi vào các thành-phố của kinh-đô lúc sẩm tối để đánh giá những câu đối thảo bởi bút mực của các ông Đồ dán trên cửa nhà dân. Bỗng Vua thấy cửa nhà của một bà bán nước chè (trà) nghèo khó bên đường không có câu đối. Vua hỏi ra thì được biết chồng bà làm phu khiêng kiệu cho Vua. Ngài bèn đưa tiền cho bà, bảo đi mua giấy đỏ và mượn bút lông cùng mực. Rồi Vua bắt đầu viết câu đối sau đây; mà chữ nghĩa đều lấy từ kinh-điển. Sau đó bảo bà đem dán lên cửa:
“Tam Nhân Đồng-Hành Tất Hữu Ngã
Thiên-Lý Như Lại Diệc Lợi Ngô”
Có nghĩa là:
“Ba Người Cùng Đi Tất Trong Đó Có Tôi
Những Người Từ Ngàn Dặm Tới Chắc-Chắn Điều Đó Lợi cho Tôi”
Được diễn-nghĩa như sau:
Câu thứ nhất tả người chồng với người phu cùng khiêng kiệu đang khiêng người ngồi kiệu tức là nhà Vua.
Câu thứ hai ám-chỉ người vợ bán nước chè cho khách qua đường để mưu-sinh.
Rồi nhà Vua từ-giã ra đi mà không bảo mình là ai. Đi thêm vài bước, Vua thấy một ngôi nhà khác có vẻ nghèo khổ và xem ra chẳng chuẩn bị gì cho ngày Tết. Bước vào trong nhà, Vua thấy một người làm phu hốt rác, chẳng có gì để trang-trí cửa nhà, Thánh-Tôn đặt một thoi bạc vào tay người đàn ông khốn-khổ. Một lát sau người này mang giấy mực về trao cho Vua, Ngài viết đôi câu đối trở thành nổi tiếng như sau:

“Đội Nhất Xung Y Đởm Thế-Gian Tri Nan Sự
Tri Tam Xích Kiếm Thu Thiên-Hạ Tri Nhân Tâm”
Có nghĩa là:
“Khoác Chiến-Bào, Ta Lo Toan Những Việc Khó Trên Đời
Cầm Ba Thước Gươm Ta Thu Vào Tay Tấm Lòng Của Mọi Người Trong Thiên-Hạ”
Câu đối này ám-chỉ người hốt rác làm cái nghề thấp-kém nhất trên đời nhưng lại tạo sự vui lòng cho mọi người bằng cách đi thu-dọn tất cả rác-rưởi bẩn thỉu trên đường phố.
Đã biểu hiện ở tác-giả tình-cảm thầm-kín của một người lãnh thiên-mệnh, chịu trách-nhiệm về cuộc sống của muôn dân trong một chế-độ quân-chủ lập-hiến.
Sáng hôm sau, có một vị đại-thần trong triều đi qua đọc được đôi câu đối này liền vào cung tâu Vua trị tội kẻ khi-quân. Vua Thánh-Tôn đã mỉm cười nhận tội về mình.

Ngoài những câu đối đỏ này, người ta còn dán lên cửa chính nhiều mảnh giấy điều đơn-giản hình chữ nhật hoặc hình vẽ các ông Thần có bộ mặt dữ dằn nhằm xua đuổi lũ ma quỷ tai-ác hại người. Hình ảnh những vị Thần có khuôn mặt hiền-từ cầm hoa quả; tượng trưng cho sự giầu có và vinh-hiển. Ngoài ra họ còn treo những bức tranh có con gà mẹ cùng vô số lũ gà con chung quanh; nói lên điềm lành báo trước một sự phồn-thịnh hiếm có và đông con cháu trong ngày Tết Nguyên-Đán.
Nói đến thơ Xuân trong thi-ca Việt-Nam, ngày nay chúng ta không thể quên được một thi-sĩ thời tiền-chiến qua bài “Ông Đồ” đó là tác-giả Vũ-Đình-Liên. Một bài thơ trầm buồn sâu sắc với khung cảnh thay-đổi của thời-gian, như một lớp sơn vàng trên toà cổ-miếu lần lượt rã rời:
“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông Đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
*
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay
*
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu"
Giấy đỏ buồn không thấm
Mực đọng trong nghiên sầu.
*
Ông Đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài đường mưa bụi bay
*
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông Đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ"
Hình ảnh ông Đồ nghèo cùng những xôn xao, nao nức mừng Xuân đón Tết Nguyên-Đán nơi quê nhà yêu dấu cũ; tưởng rằng đã chìm khuất, tưởng rằng đã đi vào quên lãng nơi xứ người của thân-phận tỵ-nạn tha-phương. Nhất là đối với các bệnh-nhân đang trị liệu tại những trung-tâm điều dưỡng (Nursing-Home) thuộc quận Cam, Hoa-Kỳ.
Nhưng không! Tất cả được nhắc nhở lại khi nhóm thiện-nguyện Chân-Quê hơn mười năm qua đã mang không khí Tết đến thắp sáng rạng ngời; trong màu sắc rực rỡ của khăn đống, áo dài truyền thống Việt-Nam. Có cả pháo Tết nổ vang trời, xen lẫn tiếng nhạc, lời ca Xuân rộn rã, như truyền sức sống kỳ-diệu đến muôn người.
Xin cầu mong Chúa Xuân rọi tình nhân-ái khắp chốn nhân-gian. Cho cuộc sống hôm nay đẹp như bài thơ “Xuân” của thi-sĩ tài-hoa Huy-Cận:
“Luống đất thơm hương mùa mới dậy
Bên đường chân rộn bước trai tơ
Cây xanh cành đẹp xui tay với
Sông mát tràn Xuân nước đậm bờ
*
Ồ những người ta đi hóng Xuân
Cho tôi theo với! Kéo tôi gần
Rộn ràng bước nhịp hương vương gót,
Nhựa mạnh tuôn trào tưởng dính chân
*
Bắt gặp mùa tươi lên rún rẩy
Trong cành hoa trẻ, cổ chim non.
-Có ai gửi ý trong Xuân cũ,
Đất nở muôn Xuân vẫn chẳng mòn.”
(http://www.diamondbichngoc.com)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
Và cũng có thể biết thêm rằng, nếu tổng thống Franklin Roosevelt từng ngồi xe lăn để lãnh đạo nước Mỹ suốt 12 năm và bảo vệ thế giới tự do, mang lại chiến thắng cho phe đồng minh trong Đệ Nhị Thế Chiến thì thể chất của tổng thống Joe Biden không phải là điều để người ta bàn luận nhiều như vậy.
Người thanh niên da trắng vội vã bước ra khỏi tiệm massage thì chạm mặt Elcias đang đi tới. Ngó anh, hắn chẳng nói lời nào, chĩa thẳng khẩu súng nổ ba hay bốn phát đạn, không biết đang còn cầm trên tay hay vừa móc ra. Elcias thấy chẳng còn điều khiển được cơ thể, mơ màng, như muốn bay lên cao tựa cái bong bóng rực rỡ màu sắc mà mẹ anh đã treo trong ngày sinh nhật đầu tiên và duy nhất mà anh từng có khi tròn mười tuổi. Rồi anh cảm thấy như vợ con anh đang nắm tay mình kéo lại, không để anh bay lên.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.