Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Có Ai Còn Nhớ Ông Đồ Trong Những Ngày Hội Tết"

27/01/201100:00:00(Xem: 4673)
Có Ai Còn Nhớ Ông Đồ Trong Những Ngày Hội Tết"

chan_que_hat_thien_nguyen-large-contentNhóm Thiện-Nguyện Chân-Quê hằng năm mang không-khí Tết Nguyên-Đán đến các nursing home tại quận Cam, California.

Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc (sưu-tầm & biên soạn)
Trong những ngày mừng Xuân ở Việt-Nam xưa kia, người ta thấy lúc nào cũng tưng-bừng náo nức không-khí hội hè. Nhất là ở miền Bắc:
Mùng bốn là hội Kéo-Co.
Mùng năm hội Ó chẳng cho nhau về
Mùng sáu đi hội Bồ-Đề
Mùng bảy trở về đi hội Đống-Cao
*
Mùng bảy hội Khám, mùng tám hội Dâu
Mùng chín đâu đâu cũng trở về hội Gióng…
Những ngày hội Xuân ấy được tổ-chức ở các Đình, Chùa, Đền, Miếu. Nó thể hiện tình nghĩa xóm làng, tình-yêu thiên-nhiên, yêu nghệ-thuật và người dân lành có dịp tỏ lòng sùng-bái các anh-hùng Việt-Nam.
Hình ảnh ông Đồ nghèo không thể thiếu được vào những ngày Xuân. Trong mười ngày trước Tết; họ thường thuê một góc phố, hoặc họ ngồi ở ngay các vỉa hè để bán những băng giấy đỏ. Đôi khi rắc phấn vàng hay bạc, những tấm biển trang trí hoa mà trên đó họ viết những câu đối hay vẽ những bức hoành-phi. Nói đến năm bắt đầu, đến mùa Xuân đang mở ra, nói về gia-đình hay ý-chí của người gia-chủ. Họ cũng thường viết trên những mảnh giấy của khách hàng đưa cho họ để được trả công bằng một khoản tiền nhỏ.
Nếu trong năm vừa qua; gia-đình nào có người đã mãn-phần thì người ta dùng giấy màu vàng hay màu xanh. Những hiệu-lực được thừa nhận ở các màu sắc và ngôn-ngữ từ bút mực thần-kỳ của ông Đồ già; thúc đẩy mọi hạng người chi tiền. Họ mang về treo lên cửa, lên tường những băng giấy dài và đẹp này nhằm tạo vẻ ngoạn-mục cho những ngày Tết Nguyên-Đán.
Xưa kia, ở miền Bắc giá rét, những ông Đồ nghèo khốn khổ run rẩy trong tấm áo bông dài. Ngồi xổm trên chiếu; bán những chữ Hán cuối cùng của họ. Những chữ mà đối với nhiều người đã trở nên câm lặng, không nói lên được một điều gì cả.
Vào thế-kỷ thứ mười lăm (XV) có Vua Thánh-Tôn nhà Lê, trước ngày Tết Nguyên-Đán, Ngài thân-chinh đi vào các thành-phố của kinh-đô lúc sẩm tối để đánh giá những câu đối thảo bởi bút mực của các ông Đồ dán trên cửa nhà dân. Bỗng Vua thấy cửa nhà của một bà bán nước chè (trà) nghèo khó bên đường không có câu đối. Vua hỏi ra thì được biết chồng bà làm phu khiêng kiệu cho Vua. Ngài bèn đưa tiền cho bà, bảo đi mua giấy đỏ và mượn bút lông cùng mực. Rồi Vua bắt đầu viết câu đối sau đây; mà chữ nghĩa đều lấy từ kinh-điển. Sau đó bảo bà đem dán lên cửa:
“Tam Nhân Đồng-Hành Tất Hữu Ngã
Thiên-Lý Như Lại Diệc Lợi Ngô”
Có nghĩa là:
“Ba Người Cùng Đi Tất Trong Đó Có Tôi
Những Người Từ Ngàn Dặm Tới Chắc-Chắn Điều Đó Lợi cho Tôi”
Được diễn-nghĩa như sau:
Câu thứ nhất tả người chồng với người phu cùng khiêng kiệu đang khiêng người ngồi kiệu tức là nhà Vua.
Câu thứ hai ám-chỉ người vợ bán nước chè cho khách qua đường để mưu-sinh.
Rồi nhà Vua từ-giã ra đi mà không bảo mình là ai. Đi thêm vài bước, Vua thấy một ngôi nhà khác có vẻ nghèo khổ và xem ra chẳng chuẩn bị gì cho ngày Tết. Bước vào trong nhà, Vua thấy một người làm phu hốt rác, chẳng có gì để trang-trí cửa nhà, Thánh-Tôn đặt một thoi bạc vào tay người đàn ông khốn-khổ. Một lát sau người này mang giấy mực về trao cho Vua, Ngài viết đôi câu đối trở thành nổi tiếng như sau:

“Đội Nhất Xung Y Đởm Thế-Gian Tri Nan Sự
Tri Tam Xích Kiếm Thu Thiên-Hạ Tri Nhân Tâm”
Có nghĩa là:
“Khoác Chiến-Bào, Ta Lo Toan Những Việc Khó Trên Đời
Cầm Ba Thước Gươm Ta Thu Vào Tay Tấm Lòng Của Mọi Người Trong Thiên-Hạ”
Câu đối này ám-chỉ người hốt rác làm cái nghề thấp-kém nhất trên đời nhưng lại tạo sự vui lòng cho mọi người bằng cách đi thu-dọn tất cả rác-rưởi bẩn thỉu trên đường phố.
Đã biểu hiện ở tác-giả tình-cảm thầm-kín của một người lãnh thiên-mệnh, chịu trách-nhiệm về cuộc sống của muôn dân trong một chế-độ quân-chủ lập-hiến.
Sáng hôm sau, có một vị đại-thần trong triều đi qua đọc được đôi câu đối này liền vào cung tâu Vua trị tội kẻ khi-quân. Vua Thánh-Tôn đã mỉm cười nhận tội về mình.

Ngoài những câu đối đỏ này, người ta còn dán lên cửa chính nhiều mảnh giấy điều đơn-giản hình chữ nhật hoặc hình vẽ các ông Thần có bộ mặt dữ dằn nhằm xua đuổi lũ ma quỷ tai-ác hại người. Hình ảnh những vị Thần có khuôn mặt hiền-từ cầm hoa quả; tượng trưng cho sự giầu có và vinh-hiển. Ngoài ra họ còn treo những bức tranh có con gà mẹ cùng vô số lũ gà con chung quanh; nói lên điềm lành báo trước một sự phồn-thịnh hiếm có và đông con cháu trong ngày Tết Nguyên-Đán.
Nói đến thơ Xuân trong thi-ca Việt-Nam, ngày nay chúng ta không thể quên được một thi-sĩ thời tiền-chiến qua bài “Ông Đồ” đó là tác-giả Vũ-Đình-Liên. Một bài thơ trầm buồn sâu sắc với khung cảnh thay-đổi của thời-gian, như một lớp sơn vàng trên toà cổ-miếu lần lượt rã rời:
“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông Đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
*
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay
*
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu"
Giấy đỏ buồn không thấm
Mực đọng trong nghiên sầu.
*
Ông Đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài đường mưa bụi bay
*
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông Đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ"
Hình ảnh ông Đồ nghèo cùng những xôn xao, nao nức mừng Xuân đón Tết Nguyên-Đán nơi quê nhà yêu dấu cũ; tưởng rằng đã chìm khuất, tưởng rằng đã đi vào quên lãng nơi xứ người của thân-phận tỵ-nạn tha-phương. Nhất là đối với các bệnh-nhân đang trị liệu tại những trung-tâm điều dưỡng (Nursing-Home) thuộc quận Cam, Hoa-Kỳ.
Nhưng không! Tất cả được nhắc nhở lại khi nhóm thiện-nguyện Chân-Quê hơn mười năm qua đã mang không khí Tết đến thắp sáng rạng ngời; trong màu sắc rực rỡ của khăn đống, áo dài truyền thống Việt-Nam. Có cả pháo Tết nổ vang trời, xen lẫn tiếng nhạc, lời ca Xuân rộn rã, như truyền sức sống kỳ-diệu đến muôn người.
Xin cầu mong Chúa Xuân rọi tình nhân-ái khắp chốn nhân-gian. Cho cuộc sống hôm nay đẹp như bài thơ “Xuân” của thi-sĩ tài-hoa Huy-Cận:
“Luống đất thơm hương mùa mới dậy
Bên đường chân rộn bước trai tơ
Cây xanh cành đẹp xui tay với
Sông mát tràn Xuân nước đậm bờ
*
Ồ những người ta đi hóng Xuân
Cho tôi theo với! Kéo tôi gần
Rộn ràng bước nhịp hương vương gót,
Nhựa mạnh tuôn trào tưởng dính chân
*
Bắt gặp mùa tươi lên rún rẩy
Trong cành hoa trẻ, cổ chim non.
-Có ai gửi ý trong Xuân cũ,
Đất nở muôn Xuân vẫn chẳng mòn.”
(http://www.diamondbichngoc.com)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Với phần lớn dân Việt tị nạn vẫn còn sống sót từ thế kỷ qua thì quên vẫn thường dễ chịu hơn là nhớ, kể cả những kẻ đang cầm quyền ở đất nước này. Những dịch vụ “bán bãi thu vàng” của người vuợt biên, tuy có mang lại lợi nhuận không nhỏ nhưng lại không phải là kỳ tích kinh tế để họ có thể tự hào. Đó là lý do mà nhà nước hiện hành vận động mọi phương thức ngoại giao để yêu cầu các nước Á Châu “đục bỏ bỏ những bia tưởng niệm thuyền nhân.” Chối bỏ quá khứ, tuy thế, không phải là phương cách tích cực để tiếp cận với hiện tại hay hướng đến tương lai. Vết thương của những thuyền nhân vào cuối thế kỷ hai mươi vẫn chưa kịp khép thì đầu thế kỷ này lại phát sinh ra những thuyền nhân mới. Tuy có tên gọi là nouveaux boat people nhưng họ không di tản bằng đường thủy.
Diệt chủng người Duy Ngô Nhĩ là hàng loạt các vi phạm nhân quyền đang diễn ra đã được thực hiện bởi chính quyền TQ chống lại người Duy Ngô Nhĩ và các nhóm dân tộc và tôn giáo thiểu số trong và chunh quanh Vùng Tự Trị Duy Ngô Nhĩ ở tỉnh Tân Cương (XUAR) của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, theo bản tin “Uighurs: 'Credible Case' China Carrying Out Genocide” được đăng trên BBC News tiếng Anh vào ngày 8 tháng 2 năm 2021.
Nhiều năm sau, mỗi năm đến ngày 30 tháng 4, nhớ lại những ngày chinh chiến trên quê hương, những trang chiến sử Bảo Quốc An Dân oai hùng của người lính quốc gia được lần lượt lật qua cùng với những đoạn đường khổ nạn của dân tộc mà đoàn quân Mũ Đỏ đã kinh qua, câu nói của vị cựu Tư lệnh "Nhảy Dù là phải như vậy" cũng là câu nói của các thế hệ người lính Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa, một đời tận trung báo quốc
Các cuộc khảo sát và nghiên cứu từ chính phủ, các tổ chức dân sự cho đến đại học đều cho thấy, dù có những bước tiến bộ to lớn cũng như được luật pháp bảo vệ, trên thực tế thì các phân biệt đối xử dựa trên sắc tộc, giới tính, tuổi tác... vẫn còn hiện hữu trong xã hội Mỹ. Riêng trong vấn đề bạo lực cảnh sát thì rủi ro một người da đen hay da màu bị cảnh sát bắn chết hay đối xử bất công đều cao hơn người da trắng.
Tỉnh thức thân phận là vấn đề kiến thức; xác định ý muốn để thay đổi là vấn đề quyết tâm. Nếu còn sống trong vô cảm, mang tâm trạng nô lệ tự nguyện hay còn Đảng còn mình và chờ đợi hạnh phúc giả tạo do Đảng, Trung Quốc, Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế ban phát, thì người dân sẽ còn tiếp tục thua trong đau khổ. Không ai có phép lạ để chuyển hoá đất nước thay cho chúng ta. Vấn đề là sự chọn lựa.
Người già nghĩ về quá khứ, còn người trẻ nghĩ đến tương lai. Người trẻ Việt Nam đã có mặt trong chính quyền, làm việc ở phủ Tổng Thống, ở Quốc Hội, là Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ, Chánh Án của liên bang, của tiểu bang, làm Tướng và giữ những chức vụ quan trọng ở Bộ Quốc Phòng. Tuổi trẻ Việt Nam là khoa học gia, là thương gia, là giáo sư đại học. Người trẻ có mặt khắp nơi, ở Mỹ, Úc, Á, Âu Châu. Người trẻ Việt Nam tiến rất nhanh.
Ở Việt Nam, người dân không hiểu tại sao công tác phòng, chống Quốc nạn tham nhũng cứ “vẫn còn nghiêm trọng và tinh vi” mãi sau 16 năm có Luật phòng, chống tham nhũng đầu tiên (2005), 3 năm sau có Luật thứ nhì (2018) và sau 9 năm (2012) Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được chuyển từ Chính phủ sang Bộ Chính trị do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng Ban.
Trong chiến tranh 1954-1975 vừa qua trên đất nước chúng ta, cả Bắc Việt Nam (BVN) và Nam Việt Nam (NVN) đều không sản xuất được võ khí và đều nhờ nước ngoài viện trợ. Nước viện trợ chính cho NVN là Hoa Kỳ; và một trong hai nước viện trợ chính cho BVN là Liên Xô. Những biến chuyển từ hai nước nầy ảnh hưởng rất lớn đến tình hình chiến tranh Việt Nam.
Nói một cách tóm tắt, hiểm hoạ lớn nhất của Việt Nam không phải là chế độ độc tài trong nước hay âm mưu xâm lấn biển đảo của Trung Quốc mà là sự dửng dưng của mọi người. Chính sự dửng dưng đến vô cảm của phần lớn dân chúng là điều đáng lo nhất hiện nay.
Bà Vivien Tsou, giám đốc Diễn đàn Phụ nữ Mỹ gốc Á Thái Bình Dương, cho biết: “Mặc dù trọng tâm là sự thù ghét người gốc Á, nhưng tất cả đều bắt nguồn từ quan điểm da trắng thượng đẳng, và bất cứ ai cũng có thể trở thành “Con dê tế thần bất cứ lúc nào”.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.