Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tâm Sự Một Giáo Sư Da Đen Trước Sự Thắng Bại Của Thượng Nghị Sĩ Barack Obama

30/09/200800:00:00(Xem: 13176)
Lời giới thiệu: Sau đây là tâm sự của một giáo sư da đen, ông Randall Kennedy (1) trước sự tranh cử tổng thống của Thượng nghị sĩ Barack Obama. Phỏng dịch bài báo: “A Big ‘What If’” đăng tải trên tờ The Washington Post National Weekly Edition số Sept. 22-28, 2008.

Tôi là một người da đen sinh năm 1954 tại bang South Carolina, năm xẩy ra vụ án Brown versus Board of Education (2). Sợ hãi không khí kỳ thị bởi các luật lệ Jim Crow bố mẹ tôi dọn về Hoa Thịnh Đốn vào cuối thập niên đó, khi tôi vừa 5 hay 6 tuổi.

Trong gia đình tôi chuyện kỳ thị đen trắng và phản ứng chống đối của người da đen được nói đến hằng ngày. Cha tôi thuật lại cho chúng tôi nghe luật sư  Thurgood Marshall đã cãi trước tòa như thế nào trong vụ kiện Rice versus Elmore để hủy bỏ luật chỉ cho phép cử tri da trắng đi bầu trong cuộc tranh cử sơ bộ của đảng Dân chủ tại South Carolina.

Hôm đại hội Dân chủ (cuối tháng 8/2008) khi thấy Thượng nghị sĩ Barack Obama nhận sự đề cử của đảng Dân chủ ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ tôi không cầm được nước mắt khi nhớ lại chỉ mấy chục năm trước đây tôi đã đến một nhà quàn tại D.C. để tiễn đưa lần cuối ông Medgar Evers, chủ tịch chi nhánh NAACP (National Association for the Advancement of Colored People) bị một kẻ da trắng quá khích giết.

Chưa có một cuộc tranh cử nào làm tôi quan tâm và xúc động như cuộc tranh cử này. Chưa từng có một ứng cử viên nào đủ can đảm vượt qua bao nhiêu rào cản không cho người thiểu số, trong đó có người da đen, giành chức vụ tổng thống Hoa Kỳ, được hiểu ngầm chỉ dành cho một người Mỹ da trắng. Với sự thông minh, dũng cảm, hoạt bát Thượng nghị sĩ Obama đã lớn tiếng truyền rao thông điệp: một người da đen có thể trở thành tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

Tôi phấn khởi ủng hộ Thượng nghị sĩ Obama, và trước khí thế như nước dâng tôi hồi hộp chờ ngày ông thắng cử. Tuy nhiên tôi đang cùng với sinh viên của tôi tìm hiểu cuộc bầu cử này nên tôi có cơ hội nhìn vào những khía cạnh tế nhị của vấn đề, và do đó tôi biết sự thắng cử của Thượng nghị sĩ Obama không phải là một chuyện đương nhiên như nhiều người tưởng. Mặc dù đảng Cộng hòa cầm quyền đã 8 năm, uy tín tổng thống Bush đang xuống rất thấp, Thượng nghị sĩ Obama vẫn có thể thất cử.

Nếu việc đó xẩy ra thì sao " Tôi sẽ nghĩ thế nào " Những người da đen khác sẽ nghĩ như thế nào "

 Nghĩ như thế nào còn tùy vào cách nhìn của mỗi người vào những yếu tố làm cho Thượng nghị sĩ Obama thất cử. Năm 1960 Thượng nghị sĩ John F. Kennedy, một người Mỹ theo đạo Công giáo La Mã ra tranh cử tổng thống và yếu tố tôn giáo là điều làm ông luôn luôn suy nghĩ. Trong một cuộc nói chuyện vận động phiếu của người Tin Lành tại Texas, Thượng nghị sĩ Kennedy nói: “Nếu tôi thất cử vì vấn đề lập trường tôi sẽ trở về nhiệm vụ của một Thượng nghị sĩ và tin rằng dân chúng Hoa Kỳ đã công bình với tôi. Tuy nhiên nếu tôi thất cử chỉ vì tôi là người theo đạo Công giáo La Mã thì tôi nghĩ quần  chúng đã tước mất quyền có thể làm tổng thống của 40 triệu người Công giáo tại Hoa Kỳ khi họ mới sinh ra. Như vậy quốc gia chúng ta sẽ là kẻ thua thiệt … trước lịch sử và trước mắt của người dân.”

Nếu Thượng nghị sĩ Obama thất cử thì làm sao để biết ông ta thất cử vì lập trường hay vì ông ta là một người da đen" Sự việc sẽ tùy theo mầu sắc của cuộc tranh cử trong vài ba tuần lễ cuối cùng, và tùy theo sự phân tích phiếu bầu. Giả sử xem khối cử tri thường bầu cho ứng cử viên Dân chủ lần này có chạy trốn Thượng nghị sĩ Obama và dồn phiếu cho ông John McCain không.

Tôi nghĩ rằng nếu Thượng nghị sĩ Obama thất cử đa số người da đen sẽ cho rằng ông ta bị kỳ thị. Và họ sẽ tin như đinh đóng cột rằng nếu hai ứng của viên thay đổi mầu da – John McCain đen, Barack Obama trắng – thì Obama đã đắc cử dễ dàng.

Suy nghĩ này sẽ làm cho người da đen thất vọng và nổi giận. Nhớ lại trong những ngày đầu tranh cử, thăm dò dư luận cho thấy cử tri da đen ủng hộ bà Hillary Clinton hơn. Vì sao " Vì cử tri người da đen không nghĩ ông Obama có hy vọng gì. Nhưng rồi ông ta thắng ở Iowa, và xuýt thắng tại New Hampshire đã thắp lên niềm hy vọng ông ta có thể thắng, và cử tri người da đen đã nhiệt tình ủng hộ ông.

Tuần lễ Thượng nghị sĩ Obama được chính thức đề cử cũng trùng với tuần lễ cách đây 45 năm mục sư Martin Luther King Jr. đọc bài diễn văn “Tôi có một ước mơ – I have a dream”. Ông Obama trở thành nguồn hy vọng nghìn năm một thuở của người Mỹ da đen. Một sinh viên trong lớp của tôi viết: “Bỗng chốc, có một người da đen mang đến một niềm hy vọng độc đáo có lẽ cho cả thế hệ của tôi, mà cha mẹ và ông bà nội ngoại tôi không bao giờ mơ ước có thể có được. Tôi đặt hết tin tưởng vào Thượng nghị sĩ Obama.” Bạn hãy tượng tượng người sinh viên này sẽ thất vọng như thế nào nếu Thượng nghị sĩ Obama thất bại"

Lẽ dĩ nhiên cũng có những người da đen nghĩ khác. Như nhà bình luận bảo thủ Thomas Sowell hay Ken Balckwell, nguyên bộ trưởng ngoại giao bang Ohio chắc hẵn muốn thấy ông Obama đắc cử vì khác biệt chính kiến. Cũng có nhiều người da đen bên cánh tả không thích ông Obama. Giáo sư Adolph Reed tại đại học Pennsylvania từng kêu gọi cử tri đừng bỏ phiếu cho ông Obama (và John McCain) vì cả hai đều thuộc thành phần bảo thủ trong cánh tả không khác gì ông Bill Clinton. Một thành phần không nhỏ sợ rằng ông Obama thắng làm cho mọi người nghĩ rằng không cần phải làm gì nữa để cải tiến quan hệ chủng tộc trong xã hội Hoa Kỳ. Còn nữa, một thành phần cho rằng Thượng nghị sĩ Obama chọn con đường chính trị trung tả chưa dứt khoát chọn chính sách đối lập hoàn toàn với đường lối bảo thủ của liên danh Cộng hòa, nên họ cũng không thương tiếc gì nếu ông Obama thất cử.

Ngoài ra cần phải nói rằng một số người da đen sẽ bình thản nếu ông Obama thất bại vì họ cho rằng ông Obama thắng cũng không làm cho đời sống khó khăn của họ thay đổi gì. Một số khác không muốn đặt nhiều hy vọng vào ông Obama vì sợ thất vọng khi ông thất cử. Mẹ tôi sẽ buồn nếu ông Obama thất cử nhưng Mẹ tôi sẽ không vì thế mà thất vọng. Mẹ tôi thường nói: “Người da trắng sẽ có trăm phương nghìn kế để làm cho ông Obama không thể trở thành tổng thống Hoa Kỳ”. Quý vị đừng quên Mẹ tôi đã nuôi dưỡng thành công ba anh em chúng tôi trong xã hội kỳ thị Hoa Kỳ. Cả ba đều tốt nghiệp tại đại học Princeton, trở thành luật sư và một người là chánh án của tòa án liên bang. Mẹ tôi tuy từng bị kỳ thị nhưng cũng từng thấy các rào cản của người da đen dần dần được cất bỏ. Nhưng không vì thế bà để cho hiện tượng Obama làm cho bà mơ tưởng hảo huyền.

Nếu ông Obama thất cử tôi sẽ cảm thấy bị tổn thương và vô cùng thất vọng. Tôi sẽ kết luận rằng cơ may nghìn năm một thuở đã vuột khỏi tầm tay. Tôi  sẽ cho rằng cử tri người Mỹ đã phạm một sai lầm to lớn vì còn tinh thần kỳ thị, một thứ kỳ thị lảng đảng không dữ tợn và bạo hành như biểu hiện kỳ thị của nửa thế kỷ trước, nhưng vẫn còn khả năng cản không cho họ vượt qua cái rào cản tâm lý cần thiết.

Nếu Thượng nghị sĩ Obama thất cử, trong thời gian đầu tôi sẽ hoảng hốt cảm thấy mình bị ruồng bỏ, tức giận và chán chường vì thế tất thắng của cuộc tranh cử rõ ràng ở trong tay của đảng Dân chủ, một cuộc tranh cử đảng Cộng hòa không thể thắng và vì Thượng nghị sĩ  Obama chứng tỏ có khả năng trội hơn Thượng nghị sĩ McCain.

Tuy nhiên tôi cũng hy vọng rằng nổi buồn phiền của tôi không kéo dài lâu khi nghĩ đến những gì đã xẩy ra cũng đã là những diễn biến thuận lợi cho cuộc tranh đấu của người da đen: một đảng chính trị lớn đã đề cử một ứng cử viên da đen ra tranh cử chức vụ cao nhất nước Mỹ, và người ứng cử viên đó đã tỏ ra xứng đáng, thu phục được cảm tình của hằng triệu người Mỹ thuộc mọi chủng tôc.

Tôi hy vọng tôi sẽ chia sẽ sự lạc quan của hai người học trò của tôi. Một người viết: “Ông Obama thất cử dù là một việc đau lòng cũng là một báo hiệu bánh xe đã chuyển … sự thay đổi đã lên đường”. Người sinh viên thứ hai viết: “Để có sự thay đổi chúng ta phải tin vào sự thay đổi trước khi nó tới dù đang đối diện với sự thất bại.”

Cho nên nếu Thượng nghị sĩ Obama không thành công vào tháng 11 này, ông ta cũng đã hiến cho nhân dân Mỹ - kể cả những người thất vọng nhất - một món quà mang lại sự an tâm và sự tự hào. Ông Obama đã đạt đến đỉnh cao và chứng tỏ có thể đứng tại đó … nếu lần này không phải là ông thì lần khác sẽ là một người da đen nào đó.

Trần Bình Nam (phỏng dịch)

Sept. 29, 2008

binhnam@sbcglobal.net

www.tranbinhnam.com

(1)  Randall Kennedy là giáo sư luật học tại đại học Harvard.

(2)  Vụ án do Oliver L. Brown kiện Hội đồng giáo dục Topeka, bang Kansas vi phạm Hiến Pháp vì phân biệt chủng tộc tại trường học. Oliver Brown thắng vụ kiện, và sự kiện này làm căn bản cho cuộc tranh đấu cho nhân quyền và dân quyền của người da đen sau này.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.