Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Lại Một 30 Tháng Tư...

28/04/200700:00:00(Xem: 6928)

Nhưng lần này ở Iraq"

Lịch sử vốn thính mỉa mai - hay những người ưa mỉa mai thì thường trích dẫn lịch sử" - Thượng viện Mỹ trong tay đảng Dân chủ chọn đúng ngày Tổng thống Bush mặc áo hoa trận lên chiến hạm huênh hoang ngoài khơi San Diego "Hoàn tất nhiệm vụ" đúng bốn năm trước để tung ra dự luật ngân sách nhằm cột tay ông Bush tại Iraq với tỷ số 51-46.

Cũng trong tinh thần ấy, khi cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ chuẩn bị tổ chức các sinh hoạt tưởng niệm ngày 30 tháng Tư 1975 thì chính trường Mỹ lại ồn ào những vận động nhằm tái diễn một bi hài kịch tháo chạy khỏi Iraq y hệt như bi kịch Việt Nam hơn ba chục năm trước. Iraq sẽ lại là một Việt Nam thứ hai của Hoa Kỳ"

Vốn chẳng che giấu gì tinh thần chống Mỹ cao độ, giới quan sát quốc tế thì dự đoán là Mỹ sẽ rút khỏi Iraq còn nhục nhã hơn Liên Xô khi phải tháo chạy khỏi Afghanistan. Chẳng khác gì Việt Nam 75...

Trên toàn cảnh, chúng ta lại thấy tái diễn thảm kịch Việt Nam của Hoa Kỳ khi Quốc hội Mỹ muốn cột tay Hành pháp để rút quân, sau khi nhục mạ đồng minh (Chính quyền Iraq) và liên hồi đổ lỗi cho nhau. Đây là một truyền thống Mỹ khiến 1) thế giới đừng sợ đế quốc Hoa Kỳ, 2) đồng minh đừng tin vào hậu thuẫn hay lời hứa hẹn của Mỹ; 3) kẻ thù của Mỹ thì nên đánh Mỹ theo lịch bầu cử Hoa Kỳ là có cái thế tất thắng, nếu như dám tàn sát không ghê tay...

Tuy nhiên, lịch sử không nhất thiết là một sự tái diễn và chuyện Iraq chưa hẳn đã là một sao bản của Việt Nam 75.

Vấn đề nó phức tạp hơn vậy, và người ta có thể thấy ra điều ấy khi theo dõi cuộc tranh luận sơ bộ giữa tám ứng viên Dân chủ vào tối Thứ Năm 26 tháng Tư trong cuộc chạy đua việt dã - một thứ cross country marathon - vào tòa Bạch Ốc.

Như một ấn bản khôi hài của truyện cổ tích "Bạch tuyết và bảy chú lùn", cuộc tranh luận ấy phơi bày ra những phân vân bất nhất của các ứng viên Dân chủ - giữa nàng Bạch Tuyết rất Lọ lem Hillary Clinton và bảy chú lùn kia - về đề tài chiến lược nhất: chuyện Iraq trong khung cảnh của cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo cực đoan.

Người viết xin tưởng niệm biến cố 30 tháng Tư từ một giác độ khác, là phân tách cái thế tất thắng của đảng Dân chủ trong hồ sơ Iraq. Trong việc níu áo nhau tháo chạy khỏi Iraq. Chuyện này không mấy đơn giản cho đảng Dân chủ đâu...

Trước hết, xin hãy điểm quân tính số...

Trong cuộc bầu cử Quốc hội năm ngoái, đảng Dân chủ đã chiếm được đa số tại cả hai viện, nhưng một đa số không có kích thước lịch sử như dư luận thường nghĩ hay đảng Dân chủ thường nói.

Đảng Dân chủ đạt đa số tại Hạ viện nhờ lấy thêm được 31 ghế - con số bình thường của lịch sử Mỹ trong một cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ khi đối thủ đang kiểm soát Hành pháp.Tại Thượng viện, đảng Dân chủ chỉ ngang tài với Cộng hoà theo tỷ lệ 49-49 và chiếm đa số nhờ hai Nghị sĩ độc lập nhưng đứng về phe Dân chủ. Và một trong hai Nghị sĩ này là Joe Lieberman tại tiểu bang Connecticut lại thuộc phe chủ chiến. Ông bị đảng Dân chủ bỏ rơi mà vẫn thắng với tư cách độc lập tại một tiểu bang có truyền thống Dân chủ.

Mà tỷ lệ 49-49 của đảng Dân chủ thật ra tùy thuộc vào có vài ngàn phiếu của những tiểu bang xôi đậu như Pennsylvania, Ohio hay nhất là Virginia (do lỗi lầm thô bỉ của George Allen hơn là nhờ bản lãnh của Jim Webb).

Nói cách khác, đa số Dân chủ sau cuộc bầu cử năm ngoái không có kích thước long trời lở đất (landslide) và cử tri không mãnh liệt dồn phiếu Dân chủ như một sự chọn lựa quyết định, một sứ mạng thiêng liêng được khoán trắng.

Chuyện điểm quân tính số ấy là cần thiết để chúng ta lượng định đặc tính "chiến-hòa" của hai đảng đối với hồ sơ Iraq.

Với đa số thật ra mỏng như tờ giấy quyến thuốc lá, đảng Dân chủ sở dĩ mạnh miệng nói về việc định ngày triệt thoái khỏi Iraq là nhờ... Chính quyền Bush. Chính quyền này có biệt tài tự bắn vào chân và tự vả vào miệng trong vấn đề Iraq, từ chiến lược đến chiến thuật, từ kế hoạch dồn quân đánh tới cho đến vụ các chiến binh Tillman hay Lynch chỉ là anh hùng dỏm do tài đạo diễn rất tồi của bộ Quốc phòng.

Vì những thất bại và sơ xuất cực đáng trách của Chính quyền Bush mà dân Mỹ ngày càng thoái chí về lẽ thắng bại tại Iraq và chính là tâm lý chủ bại ấy của dân Mỹ - sau chứ không phải là trước cuộc bầu cử tháng 11 năm ngoái - mà đa số Dân chủ mới nương theo dấn tới. Và càng trở thành phản chiến hay chủ hoà hơn. Đây là lập trường ăn khách. Nghĩa là ý dân đã khiến Quốc hội Dân chủ ngang nhiên đòi tháo chạy ngay giữa cuộc chiến.

Nhưng, khi Thượng viện Mỹ bỏ phiếu cho dự luật ngân sách với điều kiện phải lập ra lịch trình rút quân mà chỉ đạt có đa số 51-46, chúng ta biết rằng lập trường tháo chạy ấy chưa là lập trường phổ biến. Thiếu 16 phiếu nữa - vô vọng - mới vượt qua rào cản của quyền phủ quyết của Hành pháp theo tỷ lệ hai phần ba. Tại Hạ viện cũng thế mà thôi. Cho nên, dự luật thống nhất của cả hai viện trên dưới chưa thể cột tay Tổng thống được.

Nôm na là Quốc hội khoá 110 của Hoa Kỳ chưa thể tái diễn thành tích 30 tháng Tư được.

Nhưng, mai sau thì sẽ thế nào"

Mai sau là chuyện bầu cử 2008 và đây là lúc ta cần xét tới cốt lõi của vấn đế, về sức mạnh của phe phản chiến trong đảng Dân chủ.

Dân chủ Phản chiến hay Chủ chiến"

 Ngược với sự tường thuật hay lý luận của truyền thông Mỹ, đảng Dân chủ thật ra thiếu thống nhất về Iraq. Trong chuyện chiến hay hoà, dấn tới hay rút lui khỏi Iraq, mẫu số chung duy nhất của đảng này là ưu tiên đánh Bush và qua đó kéo đảng Cộng hoà xuống bùn trong mùa tranh cử tới để chiếm một đa số dày hơn.

Nhưng khi đánh Bush, đảng Dân chủ có nhiều góc tấn công khác nhau.

Sau đây là vài góc cạnh đáng chú ý. Bush nói láo làm lính chết oan tại Iraq vì Saddam Hussein không hề có kế hoạch chế tạo hay sử dụng võ khí tàn sát WMD, hoặc có liên hệ đến al-Qeda. Bush tiến hành chiến tranh sai khiến Hoa Kỳ bị tản lực tại Iraq mà không ứng phó nổi với mối nguy thật là "khủng bố Hồi giáo". Vì chủ trương can thiệp đơn độc và hung hăng, Bush làm Hoa Kỳ mất uy tín và đồng minh nên đang bị tự cô lập. Bush chỉ biết đánh mà không biết đàm, chứ đáng lẽ có thể tìm ra giải pháp cho Iraq nếu trực tiếp nói chuyện với các nước liên hệ khác, như Iran hay Syria. Bush là người khát máu nên đáng trách về mọi mặt, vì Hoa Kỳ thật ra chẳng nên gây chiến hay tham chiến ở bất cứ nơi đâu và hoà bình phải là mục tiêu của mọi chiến lược đối ngoại. Vân vân...

Xin lấy vài thí dụ minh diễn các lập trường này. Giữa hai ứng viên chống Iraq bằng mọi giá như Nghị sĩ Barack Hussein Obama hay John Edwards thì đã có dị biệt. Obama bỏ phiếu chống từ đầu, còn Edwards thì đã từng biểu quyết ủng hộ chiến dịch Iraq sau mới tỏ ý ân hận. Hai Nghị sĩ Hillary Clinton và Joe Biden thì đả kích chính quyền Bush về cách thi hành chiến dịch - mà họ đã từng ủng hộ - nhưng mâu thuẫn với nhau về phương thức cứu vãn và bà Clinton bị tấn công mạnh từ cánh tả phản chiến vì lập trường này.

Và cả Biden, Obama, lẫn Clinton hay Thống đốc Bill Richardson của New Mexico đều "không chủ hoà" trên đại thể khi đề cập tới mối nguy khủng bố toàn cầu của các xu hướng Hồi giáo cực đoan. Họ không kết án ông Bush là gây chiến mà là gây phương hại cho mục tiêu chiến lược là ngăn chặn khủng bố. Nôm na là chủ hoà về chiến thuật chứ về sách lược thì vẫn là chủ chiến, theo một tỷ lệ quá bán (hơn phân nửa của tám ứng viên!) Obama còn mạnh dạn đòi hỏi là Mỹ phải có quân lực mạnh và tuyển dụng thêm sáu vạn bộ binh và ba vạn Thủy quân Lục chiến!

  Xuyên qua ngần ấy lời phê phán của các nhân vật tiêu biểu nhất, dư luận đều thấy Chính quyền Bush đáng trách nhưng lại chưa nhìn ra những mâu thuẫn hay dị biệt trong đảng Dân chủ về chuyện Iraq. Mà những mâu thuẫn ấy mới sẽ quyết định về 1) cuộc bầu cử 2008 và 2) sự an nguy của Hoa Kỳ sau 2008. Đấy là chuyện trên thượng tầng của các lãnh tụ Dân chủ.

Dưới cơ sở đảng thì tình hình cũng lại khác.

Trong nội bộ đảng và trên các phương tiện truyền thông tân kỳ (chưa có trước đây, là Internet và các trang tọa đàm, diễn đàn góp ý, v.v...) ta thấy sự xuất hiện ồn ào của phe chủ hòa, mà đảng Cộng hoà gọi là "chủ bại". Nhưng các nhân vật hay nhóm vận động như John Murtha, Michael Moore hay Cindy Sheehan, Code Pink, International ANSWER, MoveOn.com, v.v.... đều không có sức kéo, hay lập được một chương trình hành động thống nhất và bao quát để là chương trình tranh cử cho toàn đảng. Dù ồn ào như vậy, họ không có thế lực trong cuộc bầu cử 2008. Bề nào thì họ cũng chẳng thể dồn phiếu cho Cộng hoà, không thể ra khỏi đảng để lập một đảng thứ ba, hoặc cầm cờ cho nhân vật đã lỗi thời là Ralph Nader. Vì vậy, không nên hùa theo truyền thông thiên lệch Mỹ mà cho rằng Dân chủ là chủ bại hay chủ hoà. Sự thật nó rắc rối hơn thế.

Dân chủ và chân trời 2008

Nói chung, chính trường Hoa Kỳ có sự chuyển dịch về cánh tả, với những lập trường xã hội cổ điển của đảng Dân chủ đang trở thành ăn khách hơn, như bảo vệ môi sinh, phát huy quyền phá thai, đồng tính, mở rộng mạng lưới bảo hiểm sức khoẻ, hoặc lập trường hoài nghi thành quả của toàn cầu hoá hay tự do mậu dịch, v.v..

Nhưng, trong bối cảnh thuận lợi chung như vậy, nếu chỉ lấy lập trường chiến hoà làm nền tảng vận động và đoàn kết, đảng Dân chủ sẽ tự bắn vào chân, vốn không là một độc quyền của Chính quyền Bush hay đảng Cộng hoà. Trong quá khứ, đảng Dân chủ đã từng mất đa số thì những mâu thuẫn về lập trường ưu tiên. Lý do là hầu như nhóm vận động hay trung tâm quyền lực nào (nghiệp đoàn, công chức, giới ủng hộ phá thai hay phóng túng về đạo đức xã hội, diễn viên kiêm cán bộ đấu tranh, v.v... ) cũng coi chủ trương của mình là ưu tiên và gây ra cảnh "quân mình đánh quân ta". Đây là "Hội chứng Đào cốc Lục tiên" rất tiêu biểu của nền dân chủ đa nguyên Hoa Kỳ! Sáu anh liên thủ thì võ công trùm đời và ăn đứt thiên hạ, nhưng lại cãi nhau như mổ bỏ về những chuyện vặt và khi lâm trận thì bỏ chạy theo sáu hướng!

Ý thức được nhược điểm ấy, trong sáu năm hậm hực vì Bush vừa qua, đảng Dân chủ đã ít nhiều thành công để kết hợp đấu tranh, tức là nhường nhau về ưu tiên cục bộ để đạt thành quả chung, thí dụ như về môi sinh, bảo hiểm y tế, bảo vệ lao động và dân quyền.

Nhưng lần này, nếu lấy chuyện Iraq làm ưu tiên tranh cử thì đảng này sẽ có thể thắng trận nhỏ mà thua trận lớn - và không thể vào tòa Bạch Ốc được.

Lý do khách quan là chuyện chiến-hòa không thuộc ông Bush mà nằm trong thế giới Hồi giáo, trong các hệ phái hay lực lượng khủng bố. Dù có thất trận tại Việt Nam, Hoa Kỳ cũng không bị đặc công cộng sản Bắc Việt tấn công vào New York hay Los Angeles. Chứ nếu ùa nhau chạy khỏi Iraq thì Hoa Kỳ để lại nhiều vùng oanh kích tự do cho quân khủng bố, từ Trung Đông tới Viễn Đông, từ Bắc Phi vào Nam Mỹ và Bắc Mỹ...

Cho nên, lập trường chủ hòa cực đoan của một số thành phần rất om xòm trong đảng lại là một mối nguy cho đảng Dân chủ.

Người ta hay so sánh Việt Nam và Iraq, đảng Dân chủ biết vậy mà thực ra muốn tránh. Thảm bại Việt Nam là một thành tích Dân chủ, xuất phát từ thời Kennedy và Johnson và kết thúc với lá phiếu phản chiến Dân chủ năm 1974 để cột tay Việt Nam Cộng Hoà.

Sai lầm của lãnh đạo Dân chủ trong bốn tháng qua là ngả theo dư luận phản chiến mà chống Bush từ giác độ chủ bại (Nghị sĩ Harry Reid và lời phát biểu tuần qua rằng Mỹ đã thua tại Iraq), thậm chí còn tái diễn thành tích "đi đêm với kẻ thù" của John Kerry khi Dân biểu Nancy Pelosi qua đàm phán tại Trung Đông. Họ có thấy sai lầm ấy và đang cố điều chỉnh lại, và càng gần ngày bầu cử (18 tháng nữa cơ) thì càng điều chỉnh mạnh hơn.

Ngay cả trong màn đấu võ với Bush về điều kiện triệt thoái lồng trong ngân sách, đảng Dân chủ cũng đang cố chứng minh là mình có tinh thần trách nhiệm, không đâm sau lưng chiến sĩ và mọi việc là do Chính quyền Bush mà ra.

Cho nên, kết luận ngược ngạo ở đây là đảng Dân chủ sẽ không gây ra một vụ 30 tháng Tư thứ nhì vì... không đủ sức.

Nếu thảm kịch có xảy ra thì chính là do những lầm lẫn chồng chất của Chính quyền Bush tại Iraq. Việc Iran bỗng nói giọng ôn hoà và tình hình Iraq có cải tiến trong thực tế là điều dư luận Mỹ chưa nhìn ra, và Chính quyền Bush thất bại nặng trong lãnh vực thông tin và tuyên truyền ấy cho dư luận. Đổ lỗi cho phe Dân chủ không là giải pháp cứu nguy nước Mỹ.

Nhưng, nhìn trên quan điểm quyền lợi của Hoa Kỳ, đảng Dân chủ có đổ lỗi cho ông Bush thì cũng chẳng là giải pháp. Quân khủng bố đang điểm quân tính số, theo kiểu của họ, và triệt để khai thác lợi thế khách quan là lập trường chủ hoà ồn ào của đảng Dân chủ.

Cử tri sẽ thấy ra điều ấy khi vào phòng phiếu năm 2008.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.