Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Vài Suy Nghĩ Nhân Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương

24/04/200700:00:00(Xem: 5603)

Kính thưa các bậc Trưởng thượng,

Thưa quý vị Quan khách,

Hôm nay, chúng ta tề tựu về đây để cùng nhau cử hành lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, tưởng nhớ công đức mở nước và dựng nước của tổ tiên chúng ta.  Ngày nay, nhất là ở hải ngọai, với tinh thần khoa học thực nghiệm, nhiều người cho rằng Hùng Vương chỉ là một truyền thuyết chứ không có thật trong lịch sử, vì người không thể sinh ra trứng, và trứng không thể nở thành người… Tuy thế, không thể quá đơn giản đánh giá truyền thuyết Hùng Vương chỉ bằng khoa học thực nghiệm.

Truyền thuyết Hùng Vương chính thức xuất hiện trong bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên vào thế kỷ 15.  Lúc đó, nhà Minh bên Trung Hoa vừa mới xâm chiếm nước ta từ năm 1407 đến năm 1428.  Tuy chỉ chiếm đóng trong khoảng thời gian trên 20 năm, nhưng chính sách đô hộ của nhà Minh rất thâm hiểm, nhất là chính sách văn hóa.  Vua Minh đã ra lệnh tịch thu và tiêu hủy toàn bộ sách vở của người Việt, kể cả các bia đá ghi lại công đức của tiền nhân.  Nhà Minh áp đặt văn hóa và phong tục Trung Hoa, phát hành rộng rãi sách vở kinh điển Trung Hoa.  Nếu sách vở của người Việt hoàn toàn bị tiêu hủy, thì người Việt phải sử dụng sử sách Trung Hoa, từ đó dần dần người Việt quên đi quá khứ của chính dân tộc mình.  Nhà Minh muốn đồng hóa người Việt và muốn biến nước Việt thành một quận huyện của Trung Hoa.  Âm mưu đen tối nầy cuối cùng thất bại trước sức đề kháng mạnh mẽ của người Việt lúc bấy giờ, do anh hùng Lê Lợi lãnh đạo.  Cuối cùng quân Minh phải về nước năm 1428, nước Việt lại độc lập.

Kính thưa quý vị,

Đặt lại xuất xứ của truyền thuyết Hùng Vương để hiểu vì sao truyền thuyết nầy xuất hiện trong dòng chính sử.  Để phản biện lại chính sách văn hóa thâm độc của nhà Minh, Ngô Sĩ Liên đưa truyền thuyết Hùng Vương vào chính sử sau thời kỳ Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, nhắm mục đích khẳng định lại căn cước của người Việt, bắt nguồn từ nhiều ngàn năm trước, với nền tảng vua Hùng lập quốc, độc lập ngay từ lúc con người mới tập hợp thành xã hội, với những vị vua Hùng cai trị lâu dài, không thua kém gì thuở ban đầu của lịch sử Trung Hoa.

Tuy nhiên, cho đến nay, có hai vấn đề mà sử sách vẫn chưa làm sáng tỏ về âm mưu của người Bắc phương nói chung.  Thứ nhất là phong tục cưới hỏi, và thứ hai là việc trồng lúa gạo của người Việt.  Cả hai vấn đề nầy đều xuất phát từ bộ sách Hậu Hán thư, viết vào thế kỷ thứ 5 bên Trung Hoa.  Sách nầy nói rằng người Trung Hoa đã dạy cho dân Việt phép cưới hỏi, và người Trung Hoa đã dạy cho dân Việt dùng điền khí để cày cấy.

Về vấn đề phép cưới hỏi, cho đến nay chưa có tài liệu cụ thể nào về phong tục cưới hỏi của người cổ Việt.  Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, trước thời Triệu Nữ Vương tức trước thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên (CN), có thể người cổ Việt theo mẫu hệ.(Nguyễn Ngọc Huy, Quốc triều hình luật, Viet Publisher, 1989, tr. 19.)  Như thế phải chăng Trung Hoa muốn áp đặt chế độ phụ hệ vào xã hội cổ Việt" 

Dầu xã hội cổ Việt theo mẫu hệ hay theo phụ hệ, những nhà đô hộ Trung Hoa thời cổ sử đã buộc dân Việt theo cách thức cưới hỏi của Trung Hoa, nghĩa là không phải tự do cưới hỏi như trước, mà dân Việt phải theo thủ tục hộ tịch của nhà cầm quyền Trung Hoa.  Làm như thế, những nhà cai trị Trung Hoa nhắm hai mục đích:  Thứ nhất kiểm soát dân số và an ninh xã hội cổ Việt.  Thứ hai đánh thuế người Việt theo từng hộ.  Thời xa xưa chưa có thuế thân, chỉ có thuế hộ.

Về vấn đề người Trung Hoa đã dạy cho dân Việt dùng điền khí để cày cấy, là một bóp méo lịch sử Việt của người Trung Hoa.  Một câu hỏi được đặt ra là:  người Trung Hoa thời xưa lập nghiệp ở vùng sông Hoàng (Hoàng hà), trồng lúa mì và lúa mạch trên ruộng khô, làm sao giỏi kỹ thuật trồng lúa gạo ở ruộng nước hơn người Việt mà dạy người Việt"

Gần đây, những kết quả khảo cứu của các học giả Hoa Kỳ, Nga, Trung Hoa và cả Việt Nam, cho thấy rằng trung tâm đầu tiên của nền văn minh lúa nước trên thế giới là Đông nam Á.  Cũng theo các tác giả trên, tâm điểm của trung tâm văn minh lúa nước ở Đông nam Á là khu vực Hòa Bình, Bắc Việt. (Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. TpHCM, 1997, tt. 75-86.)  Hòa Bình nằm trong vùng uốn khúc sông Đà đổ lên sông Hồng, gần huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc, Phú Thọ) quận Giao Chỉ thời cổ Việt.

Trong sách Ancient China, tác giả Edward H. Schafer viết rằng: “ Thuật trồng lúa gạo và thuần hóa gia súc chắc chắn [Trung Hoa] đã tiếp thu từ các sắc dân tầm thường ở miền nam xa xôi hẻo lánh [nam Man].” (Nguyên văn: “The art of cultivating rice and domesticating cattle were doubtless adopted from the despised races of the remote south.” (Edward H. Schafer, Ancient China, New York: Time-Life Books, 1967, p. 16.)

Cũng nhà nghiên cứu nầy cho rằng Đức Khổng Tử (551-478 TCN) “sống chủ yếu bằng lọai bánh làm bằng kê”. (nguyên văn: “Confucius have subsisted chiefly on millet cakes.”.  Ngòai ra, “Khổng Tử chưa bao giờ thưởng thức trà, và cũng đáng ngờ rằng Vương Xung, sáu thế kỷ sau cũng thế.” (nguyên văn: “Conficius never tasted tea, and it is doubtful that Wang Ch’ung, six centuries later, did either.”(Edward H. Schafer, sđd. tt. 37-38.)

Theo những tài liệu mới được phát hiện, tại Mê Linh, quận Giao Chỉ, người ta tìm thấy những bộ xương trâu đã có mặt tại đây khoảng 2,000 năm TCN, và hai lưỡi cày bằng đồng theo mô thức Đông Sơn (thế kỷ thứ 5 TCN đến thế kỷ 1 SCN), dùng cho trâu cày. (Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam, University of California Press, 1983, p. 35.)

Điều đó có nghĩa là dân Lạc Việt đã biết làm ruộng lúa nước và biết sử dụng điền khí trước khi người Trung Hoa xâm lăng cổ Việt.  Lúc đó, dân Lạc Việt dùng lưỡi cày bằng đồng vì đồ đồng là nghề luyện kim chính của dân Lạc Việt, vốn nổi tiếng về trống đồng, và nhất là đồ sắt bị hạn chế, do việc bà Lữ hậu nhà Hán đã ra lệnh cấm xuất cảng sắt xuống phía nam Trung Hoa từ năm 183 TCN. 

Như thế, không phải người Trung Hoa đã khai tâm dân Việt trong việc trồng lúa nước, mà người Việt đã tự mình biết cách canh tác để sản xuất nông phẩm cho cuộc sống của chính mình. Chẳng những thế, người Trung Hoa còn học trồng lúa nước từ những người ở phương Nam, trong đó có dân Lạc Việt.

Hai câu chuyện trên đây cho thấy, ngay từ đầu, sử sách Trung Hoa cố tình cho rằng chính Trung Hoa đã khai hóa dân Việt, trong khi như Nguyễn Trãi đã viết: “Sơn hà cương vực đã chia; phong tục bắc nam cũng khác.” (Bình Ngô đại cáo).  Đó là lý do tại sao vào thế kỷ 15, sau thời Minh thuộc, truyền thuyết Hùng Vương được Ngô Sĩ Liên trình bày thành một triều đại mở đầu quốc thống của dân tôc Việt.  Truyền thuyết nầy nhắm khẳng định một điều, là ngay từ thuở bình minh của lịch sử loài người, người Việt đã đứng ra hùng cứ một phương, với triều đại Hùng Vương, truyền được hơn hai ngàn năm lịch sử.

Từ đó, truyền thuyết Hùng Vương trở thành niềm tự hào của dân tộc Việt, kiến tạo niềm tin tinh thần và tâm linh vững mạnh vào truyền thống cao cả và anh hùng của dân tộc, để mọi người hăng hái, hy sinh bảo vệ và xây dựng đất nước.  Chính nhờ niềm tự hào dân tộc trên đây, người Việt đã đứng vững suốt mấy ngàn năm qua, vượt thóat bao nhiêu gian nan thử thách, nhất là những cuộc xâm lăng của ngọai bang. 

Hiện nay, Trung Hoa Cộng Sản vẫn tiếp tục thái độ bá quyền của vua chúa Trung Hoa ngày trước, uy hiếp biên giới Bắc Việt và uy hiếp Trường Sa, hải đảo của đất nước chúng ta.  Đáng lẽ phải tập trung tổng lực dân tộc để đối phó với ngoại bang theo truyền thống Phù Đổng thời Hùng Vương, nhà nước Cộng Sản Việt Nam lại quay qua đàn áp các nhà tranh đấu dân chủ trong nước, mà hình ảnh tiêu biểu nhất là hình ảnh linh mục Nguyễn Văn Lý bị bóp miệng tại phiên tòa ở Huế ngày 30-3- vừa qua.

Kính thưa quý vị,

Hôm nay, nhân lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, ôn lại lịch sử nước ta thời cổ đại để hiểu rõ thêm giá trị của truyền thuyết Hùng Vương, nhớ ơn công đức mở nước và dựng nước của tổ tiên, những người Việt ở hải ngọai chúng ta hãy lắng lòng nhìn về quê hương yêu dấu, cùng nhau đoàn kết, ủng hộ những nhà tranh đấu dân chủ, dân quyền ở trong nước, chống lại cường quyền cộng sản toàn trị.  Hy vọng hào khí dân tộc bắt nguồn từ truyền thuyết Hùng Vương, là ngọn lửa thiêng dẫn dắt người Việt một lần nữa, chiến thắng nghịch cảnh, và xây dựng một ngày mai tươi sáng cho đất nước chúng ta. 

Xin trân trọng cảm tạ quý vị đã lắng nghe, và xin kính chào quý vị.

Mississauga, 22-4-2007

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
TÓM TẮT Thị trường hữu hiệu vì tổng hợp mọi quyết định trong xã hội để đạt đến mức giá chung phù hợp nhất với các dữ kiện đang có (efficient market theory.) Ngược lại nếu giá cả do nhà nước đơn phương quyết định sẽ sai lệch. Giá cả trong thị trường, giống như bãi đấu thầu, không phải lúc nào cũng hợp lý do mỗi người dự đoán giá sẽ còn tăng hay giảm. Tâm lý hùa theo đám đông và tên khờ cuối cùng (Last Fool Theory) rất tai hại trong Kinh Tế Hành Vi (Behavioral Economics) Kinh Tế Phức Tạp (Complexity Economics) tìm hiểu những tác động từ bên ngoài như đại dịch, chiến tranh, phát minh…lên nền kinh tế.
Trước những nghi ngại “Hoa Kỳ có còn là đồng minh đáng tin cậy hay không?” thì chúng ta có thể khẳng định rằng Mỹ hay bất kỳ quốc gia nào trong khối tự do đều vẫn là những người bạn đồng hành tốt trong hành trình đi tìm tự do và canh tân đất nước, miễn là chúng ta không quên những bài học đã nêu để phát huy tiềm năng của chính mình, bảo vệ quyền lợi quốc gia, và đạt tới mục tiêu tự do, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc.
Bằng chứng: ”Sự bùng phát mạnh của làn sóng Covid-19 lần thứ tư cùng với các đợt giãn cách liên tiếp khiến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (DN) bị ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt là các địa phương phía Nam. Theo Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 8/2021 là 85,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2020.
Mặc dù rõ ràng là Hoa Kỳ có thể điều hành công việc ra khỏi Afghanistan tốt đẹp hơn, nhưng thảm kịch xảy ra vào tháng này đã kéo dài trong 20 năm. Ngay từ đầu, Mỹ và các đồng minh đã chấp nhận - và không bao giờ xem lại - một chiến lược xây dựng nhà nước từ trên xuống dưới luôn được xem là thất bại như do định mệnh đã an bài. Hoa Kỳ đã xâm chiếm Afghanistan 20 năm trước với hy vọng tái thiết đất nước, nay đã trở thành một tai họa cho thế giới và chính người dân của họ. Trước đợt tăng quân năm 2009, Tướng Stanley McChrystal giải thích, mục tiêu là “chính phủ Afghanistan kiểm soát toàn vẹn lãnh thổ để hỗ trợ ổn định khu vực và ngăn chặn việc sử dụng này cho chủ nghĩa khủng bố quốc tế.“ Hiện nay, với việc thiệt mạng hơn 100.000 và thất thoát khoảng 2 nghìn tỷ đô la, tất cả nước Mỹ phải thể hiện cho nỗ lực của mình là cảnh của một cuộc tranh giành tuyệt vọng để chạy ra khỏi đất nước trong tháng này - một sự sụp đổ nhục nhã gợi nhớ đến sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975. Điều sai lầ
Gặp gỡ và nói chuyện nhiều với những người thông dịch viên Afghanistan, tôi mới hiểu thêm rất nhiều về dân tộc họ và biết rằng chính phủ Afghanistan là một chính phủ tham nhũng lan tràn từ cấp thấp cho đến cấp cao, mức độ nào họ cũng có thể ăn hối lộ được, chỉ có người dân thấp cổ bé miệng là khổ. Người Mỹ biết rất rõ nhưng vẫn không làm gì hết. Bản thân chúng tôi khi ra vào đất nước này, cũng phải đóng cho những nhân viên hải quan đủ thứ tiền, mà phải bằng tiền đô la Mỹ, mệnh giá 100 đồng mới tinh, cũ hoặc dính 1 vết mực, họ không nhận và không chịu ký giấy và đóng mộc. Nói để thấy rằng chúng ta, người Mỹ, hy sinh tiền bạc, xương máu cho họ, thật không đáng chút nào. Rút ra khỏi đất nước này là đúng và là một việc phải làm ngay.
Cứ tới cuối tuần, dân Tây réo nhau xuống đường biểu tình chống chương trình chích ngừa dịch vũ hán và, tiếp theo, chống biện pháp kiểm soát có chích hay không bằng «thông hành y tế» (pass-sanitaire), tờ giấy có dấu hiệu đã chích ngừa của Cơ quan Bảo hiểm sức khỏe cấp qua Cơ quan tổ chức chích hoặc y sĩ gia đình hay dược sĩ.
Đầu năm 70, bạn đồng minh Huê kỳ quyết định bỏ rơi VNCH, không thực hiện cam kết rút quân, Việt-nam hóa chiến tranh, mặc nhiên giao Miền nam cho Hà nội. Ngày 30/04/75, quân Bắt Việt tiến vào Sài gòn, ngỡ ngàng. Dân chúng hoảng loạn bỏ chạy. Nhưng 14 năm sau thất bại nhục nhã ở Việt nam, bức tường Bá-linh bổng sụp đổ, kéo theo cộng sản Liên xô xuống hố, giúp Huê kỳ kết thúc cuộc chiến tranh lạnh làm kẻ chiến thắng.
Người Mỹ nói “Nothing is certain but tax and death” (Không ai tránh khỏi thuế và chết). Thuế mang ý nghĩa đặc biệt vì lịch sử nước Mỹ được thành hình từ ngày dân chúng thuộc địa nổi loạn chống nhà nước bảo hộ Anh Hoàng với khẩu hiệu bất hủ “Taxation without representation is tyranny” (Bị đánh thuế mà không được có đại biểu là bạo quyền.) Cho nên mỗi kỳ bầu cử đều tranh luận gay gắt về thuế má – nhưng không chỉ là cải cọ vô bổ vì khi thành luật sẽ theo đó móc từ túi tiền của mỗi người dân nhiều hay ít.
Đảng cộng sản VN cũng “khởi nghiệp” với những tuyên ngôn và khẩu hiệu nghe (tử tế) tương tự. Họ hô hào chống lại áp bức, bất công, kỳ thị … Nhờ vậy, họ vận động được quần chúng - kể cả những thành phần thiểu số, “ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng” - nổi dậy “giành lấy chính quyền về tay nhân dân.” Chả phải vô cớ mà Cách Mạng Tháng Tám vẫn được mệnh danh là “Cuộc Khởi Nghĩa Của Những Người Tay Không.” Chỉ có điều đáng phàn nàn là sau khi “những người tay không” nắm được quyền bính trong tay thì họ (tức khắc) hành xử như một đám côn đồ, đối với tất cả mọi thành phần dân tộc
Người lính Mỹ, trong nhân dáng hiên ngang, với những bước chân chắc nịch, đôi mắt nhìn thẳng và kỹ thuật tác chiến tuyệt vời. Nhưng người lính Mỹ cũng có trái tim biết rung động, biết nhớ thương, biết đau khổ như bạn và tôi. Xin đừng “thần thánh hóa” hoặc đòi hỏi những điều mà người lính Mỹ không thể thực hiện được; vì người lính Mỹ còn phải chu toàn bổ phận đối với người hôn phối, gia đình và người thân. Xin hãy nghĩ đến những trái tim tan vỡ trong mỗi gia đình, khi một người lính Mỹ gục ngã!
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.