Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Những Hình Ảnh Rơi Lệ Vì Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ

31/07/200800:00:00(Xem: 10215)
Người ta vốn dễ quên, quên qúa khứ, quên bạn hữu, quên tình đồng đội, quên người thân, có người mang tính  dị thường quên cả tình mẫu tử ruột thịt. Nhưng cách chung, là con người, một loài động vật trên mọi động vật, động vật thượng đẳng, có lý trí, tin có hồn thiêng bất tử “ Linh ư vạn vật”. Thì những biến cố trong cuộc đời, thật khó quên, dù có muốn quên. Nhất là có một nguyên nhân nào đó, do sự tình cờ, ngẫu nhiên nhìn thấy, gặp được, thì tất cả những diễn tiến của qúa khứ lại quay trở lại trong tâm tưởng, thật chậm, thật rõ nét, không thiếu một chi tiết nào.

Nhất là những người đã phải lìa xa nơi chôn rau cắt rốn của mình, vì một hoàn cảnh chẳng đặng đừng. Như hoàn cảnh của những người Việt Nam tỵ nạn phải bỏ nước ra đi “ phải bỏ nước ra đi vì chế độc độc tài CSVN”; lý do thật bất khả kháng, không còn phương thế nào khác hơn. Sau ngày 30-04-1975, ai cũng muốn rời khỏi nơi chôn rau cắt rốn của mình. Thảm trạng đó kéo dài không chỉ trong một thập niên, mà kéo dài mãi cho đến nay đã sau ba thập niên. Người trong nước vẫn muốn tìm cách ra đi, nhưng hiện nay không phải là vượt biên, vượt biển, mà là đi bằng những ngõ ngách: du học, lao động, kết hôn, hoặc mua bán trao đổi trá hình như thời còn nô lệ, thuộc địa, thủa thế kỷ 17,18,19; buôn bán lao nô, nô lệ lao động, nô lệ tình dục. Thế kỷ hiện tại quen gọi là: “ xuất cảng lao động”, nói nôm na là bán sức lao động của người nghèo, người nghèo kiếm cơm cháo sống cầm hơi, nhà nước thâu vào được ngoại tệ. Đây đúng là đỉnh cao trí tuệ của Đảng CSVN sau 70 có mặt tại đất nước này, với trên hai mươi năm cai trị ở miền Bắc và 33 năm cai trị cả đất nước. Qua sử sách của Việt Nam, thì chưa có thời đại nào bệ rạc cho dân tộc Việt bằng cái thời Đảng Cộng Sản tự đứng ra cướp chánh quyền, rồi đặt cả dân tộc Việt dưới sự cai trị độc tài, hà khắc với những mưu mô lừa đảo, ăn gian nói dối đến nỗi không thể nào tìm ra được ở trên thế giới này những mô hình, những chế độ, có mưu mô thâm hiểm và lừa đảo hơn người Cộng Sản Việt Nam.

Người Việt vẫn còn tìm cách ra đi bằng đủ mọi hình thức, miễn sao tránh được cái đảng cùi hủi và nghẻ lở hiện nay. Nhưng dù có xa quê hương bằng cách nào đi nữa, thì quê hương vẫn mãi ở trong lòng họ. Nhất là những người đã sống một thời ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Những người đã một thời tôn vinh lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của miền Nam Việt Nam. Những thế hệ thanh niên miền Nam đã từng đem thân mình để bảo vệ màu cờ, bảo vệ  mảnh đất của miền Nam Tự Do, và xác thân họ đã nằm xuống để bảo vệ lá cờ vàng ba sọc đỏ. Đã có đến nửa triệu xác thân thanh niên thanh nữ của miền Nam Việt Nam được phủ màu cờ này. Và có đến hàng triệu những thương binh VNCH bị thương tật vì chiến đấu cho lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, hầu như không một gia đình ở trong Nam Việt Nam nào, không có liên hệ vì đã có, chồng, cha, con, cháu chết, bị mất tích, hay bị thương vì lá cờ này.

Lá cờ của các thế hệ trẻ Nam Việt Nam từ sau năm 1954, mà vào mỗi sáng thứ hai hành tuần họ đã nghiêm chỉnh đứng chào, và hát Quốc Ca. Nhất là ở các quân trường, mỗi buổi sáng thứ hai là như một kỳ đại lễ, với quân phục thẳng nếp, giầy đen phải thật bóng, tay bồng súng trịnh trọng để chào Quốc Kỳ. Những ấn tượng đó thật là khó quên đối với các thế hệ trưởng thành ở trong Nam Việt Nam. Hiện nay qúa khứ đó đã đi vào dĩ vãng trên 30 năm. Nhưng mỗi khi nhìn thấy bóng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, xuất hiện bất cứ ở nơi đâu, lòng người lại xao xuyến hẳn lên. Đó là chưa nói đến những Quân Cán Chính và dân chúng của miền Nam đã can dự, đã hy sinh và còn mang thương tích hay đã nằm xuống vì  lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.

Từ Quảng Trị, An Lộc, Đắc tô, những trận đánh đẫm máu, để chiếm lại thành, lại đất, để trương lại lá cờ trên vùng đất mới dành lại được từ  tay Việt Cộng vừa chiếm. Người dân của miền Nam từ Quân cho đến dân, có lẽ không ai quên được bản nhạc: “ Cờ bay cờ bay, oai hùng trên thành phố thân yêu . . . .” Khi Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa đánh chiếm lại được Quảng Trị, bị Cộng Quân chiếm. Là những quân, dân, những thân nhân của các tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa, có dịp đến các nhà quàng, nhà tẩm niệm của các nghĩa trang Quân Đội các Quân Khu, đã nhìn tận mắt những hàng quan tài nằm ngang, dài thẳng tắp, được phủ lá Quốc Kỳ nền vàng ba sọc đỏ, vào những thời gian cao điểm của chiến tranh Việt Nam.

Chính vì vậy, khi theo dõi trên các màn ảnh nhỏ, qua các phương tiện truyền thông, truyền hình, Internet ngày Đại Hội Giới Trẻ tại Sydney 17-07-2008, với rừng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Và đặc biệt khi Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, được đón tiếp  nồng nhiệt trên một du thuyền; nơi đây các bạn trẻ đại diện cho các châu lục được đến ra mắt và chào thăm vị Giáo Hòang. Một bạn trẻ Việt Nam Phạm Vũ Anh Dũng, 23 tuổi, kỹ sư điện tóan, trên cổ có choàng một lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, đến bắt tay vị Giáo Hoàng và kể cho Ngài nghe về đời sống của người tỵ nạn Việt Nam. Sau đó anh đã đưa lá cờ đang choàng trên cổ xin ĐGH chúc lành, và trao tặng Ngài, ĐGH đã nhận lấy lá Quốc Kỳ  biểu hiệu cho người Việt Tự Do, màu vàng ba sọc đỏ, tự tay choàng lên cổ, trong tiếng hoan hô vang dậy của ĐHGT thế giới, và đặc biệt tiếng reo hò nồng nhiệt của phái đoàn các bạn trẻ Việt Nam từ năm châu bốn bể tụ về Úc Châu trong dịp lễ này.

Nỗi vui của người Việt Nam hiện diện đã vậy. Nhưng còn là nỗi vui và ngấn lệ của người Việt Nam tỵ nạn có mặt trên khắp thế giới, khi nhìn thấy được hình ảnh này đã dâng cao tột cùng. Đây đúng là tâm tình, sự hiệp thông trong tinh thần của số đông người Việt tỵ nạn thầm lặng, họ không đến được Sydney để tham dự ngày Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, nhưng họ đã theo dõi, đã hiệp thông với ngày Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới qua những phương tiện truyền thông.

- Hiệp thông trong tinh thần.

Người ở miền Nam Việt Nam sau ngày 30-04-1975 tìm đường ra đi xin tỵ nạn ở  khắp các châu lục trên thế giới, miễn là ở nơi đó có Tự Do có dân chủ và nhân quyền. Họ không quản ngại gian lao và vất vả, họ vượt qua mọi khó khăn, dù khó khăn đó là tù ngục khi bị phát hiện và bắt lại trong lúc tìm đường vượt thoát, hoặc bị chết giữa biển khơi khi bị phong ba bão táp, hoặc gặp bất cứ tình huống bất trắc nào xẩy ra cho họ, kể cả sự chết. Khi con người đã chấp nhận cái rủi ro cuối cùng là sự chết, để chọn lấy sự tự do khi được sống, thì cái sự hiệp thông trong tinh thần này nó vô cùng nhậy cảm, rất mãnh liệt. Mãnh liệt đến nỗi có rất nhiều hoàn cảnh những người ra đi tìm Tự Do, đã phải mất hết tất cả,: tài sản, sự nghiệp, danh dự. Chính vì lẽ đó, khi đến được bờ bến Tự Do, họ đã phấn đấu làm việc, học hành một cách chăm chỉ, cố quên đi danh vọng địa vị của qúa khứ, khi họ được hưởng ở một miền Nam Tự Do không Cộng Sản. Họ rất trọng danh dự, rất kính trọng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, vì lẽ đó, trong mọi dịp lễ tết hội hè, bao giờ cũng có phần mở đầu bằng lễ nghi chào Quốc Kỳ. Sau đó đến phần mặc niệm những chiến sĩ Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa đã vị quốc vong thân, để giữ cho miền Nam được Tự Do, không Cộng Sản. Và, mặc niệm những người đồng hội đồng thuyền trên bước đường đi tìm kiếmTự Do mà đã không đến được bến bờ, đã bỏ mình nơi biển cả, trong rừng sâu, vì thiên tai, bão tố, cướp biển, hải tặc hãm hiếp và giết chết.

Nhờ tình liên đớn và hiệp thông này, mà khi người tỵ nạn của miền Nam Việt Nam có mặt ở các nước có Tự Do Dân Chủ, thì các cộng đồng được mọc lên, các bản tin thủa đầu, tiếp theo là báo chí và các phương tiện truyền thông được phát hành; để loan tải các tin tức, sinh hoạt đời sống của người Việt khắp nơi trên thế giới. Các bài tham luận, bình luận về tình hình Việt Nam và thế giới được đem đến cho người Việt tỵ nạn. Sở dĩ người tỵ nạn chúng ta mau chóng làm được việc đó, vì chúng ta có sự hiệp thông trong tinh thần; những điều suy nghĩ của anh, cũng là những cảm nghĩ của tôi. Nhờ vậy mà đã hơn 30 qua, các cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại vẫn tồn tại, lại có phần khởi sắc hơn. Nhất là mỗi khi có một vấn đề nhậy cảm liên quan đến chính trị, đến Tự Do và Nhân Quyền, nhất là vấn đề tự do tôn giáo.

- Hiệp thông trong cùng một đức tin.

Mỗi người khi sinh ra được thừa hưởng đức tin của một tôn giáo, do tổ tiên, ông bà, cha mẹ truyền cho từ đời này sang đời khác. Lại có người khi đến tuổi trưởng thành thì tự mình đi tìm hiểu một tôn giáo, khi đã tin nhận thì coi đó là tôn giáo của mình. Những người có cùng một niềm tin, họ có sự hiệp thông mãnh liệt hơn cả những người, chỉ có sự hiệp thông trong tinh thần. Vì họ nhận ra ánh sáng từ một chân lý, của một tôn giáo, họ coi vị lãnh đạo tinh thần của họ còn hơn cả vị lãnh đạo của một quốc gia. Họ thần phục người lãnh đạo tinh thần của họ vì họ tin, người lãnh đạo của họ được sự kế thừa của những quyền năng siêu phàm, như Đức Đạt Lai Lạt Ma, được công nhận đầu thai của vị tiền nhiệm thứ 13. Đức Giáo Hoàng là người được bầu chọn trong một mật viện Hồng Y, được chọn ra để lãnh đạo Giáo Hội Hoàn Vũ, là một người đạo đức thánh thiện, đã được xức dầu và được đầy ơn của Chúa Thánh Thần, được ơn bất khả ngộ khi dậy những điều về chân lý. Cho nên dù còn tại thế, Người đã được gọi là Đức Thánh Cha.

Sự hiệp thông trong tinh thần, như: đồng một chủng tộc, một màu da, một ngôn ngữ, đồng một quan điểm chính trị, cùng chung dưới một màu cờ, đã là một biểu hiệu của sự đoàn kết, mà dù kẻ thù có muốn chống lại, muốn chia rẽ, lũng đoạt bằng những Nghị Quyết như NQ số 36 của Bộ Chính Trị CSVN đối với người Việt Nam ở nước ngoài, thì cũng vô hiệu. Nếu lại có thêm sự hiệp thông, cùng một niềm tin vào một tôn giáo, như niềm tin của Kitô Giáo, chống lại chủ thuyết vô thần duy vật của Cộng Sản, thì cái sức mạnh ấy nó trở thành vô song. Niềm hiệp thông và ấn tượng lớn lao cho người Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Việt Nam trên toàn thế giới là hình ảnh, một rừng cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tại ngày bế mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, tại Úc Châu 17-07-2008.  Và đặc biệt hình ảnh một bạn trẻ Việt Nam Phạm Vũ Anh Dũng trao tặng vị Giáo Chủ, khăn choàng mang màu Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, và chính Ngài tự tay choàng lên cổ, là một hình ảnh còn lưu lại muôn đời trong lịch sử, và cho các thế hệ người Việt Nam Tỵ Nạn ở hải ngoại ./-

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Ngược lại, những biến cố dồn dập đủ loại trong COVID-19 mở ra cuộc đấu tranh chính trị mới: đòi quyền được sống còn, có thuốc trị cho tất cả, đi lại an toàn, đó là một cái gì thiết thực trong đời sống hằng ngày và không còn chờ đợi được chính quyền ban phát ân huệ; nó khiến cho người dân có ý thức là trong các vấn đề nội chính, cải tổ chế độ là cần ưu tiên giải quyết. Người dân không còn muốn thấy vết nhơ của Đồng Tâm hay tiếp tục qùy lạy van xin, thì không còn cách nào khác hơn là phải có ý thức phản tỉnh để so sánh về các giá trị tự do cơ bản này và hành động trong gạn lọc. Tình hình chung trong việc chống dịch là bi quan và triển vọng phục hồi còn đấy bất trắc. Nhưng đó là một khởi đầu cho các nỗ lực kế tiếp. Trong lâu dài, dân chủ hoá là xu thế mà Việt Nam không thể tránh khỏi. Cải cách định chế chính trị và đào tạo cho con người để thích nghi không là một ý thức riêng cho những người quan tâm chính sự mà là của toàn dân muốn bảo vệ sức khoẻ, công ăn việc làm
Trong vài thập niên vừa qua, giải Nobel Hòa Bình và Văn Chương được xem là một tuyên ngôn của ủy ban giải Nobel về các vấn đề thời cuộc quan trọng trong (những) năm trước và năm 2021 này cũng không là ngoại lệ. Giải Nobel Văn Chương năm nay được trao cho nhà văn lưu vong gốc Tazania - một quốc gia Châu Phi, là Abdulrazak Gurnah "vì sự thẩm thấu kiên định và bác ái của ông đối với những ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân và số phận của những người tị nạn trong vực sâu ngăn cách giữa các nền văn hóa và lục địa". Cũng vậy, giải Nobel Hoà Bình đã dành cho hai ký giả Maria Ressa của Phi Luật Tân và Dmitry Muratov của Nga "vì những nỗ lực bảo vệ sự tự do ngôn luận, vốn là điều kiện tiên quyết cho nền dân chủ và sự hòa bình lâu dài". Ủy ban Nobel Hòa Bình Na Uy còn nói thêm rằng, "họ đại diện cho tất cả các ký giả đang tranh đấu cho lý tưởng này, trong một thế giới mà nền dân chủ và tự do báo chí đang đối mặt với những điều kiện ngày càng bất lợi" và cho "nền báo chí tự do, độc lập
Sau đó, sau khi “phát khóc” và lau nước mắt/nước mũi xong, bác Hồ liền thỉnh ngay bác Lê về thờ nên mới có Suối Lê Nin (với Núi Các Mác) cùng hình ảnh – cũng như tượng đài – của cả hai ông trưng bầy khắp mọi nơi, để lập ra một tôn giáo mới, thay thế cho Phật/Chúa/Thánh Thần/Ông Bà/Tiên Tổ ... các thứ.
Sự nghiệp chính trị của đại đế Nã-Phá-Luân chẳng liên hệ gì nhiều đến Trung Quốc nên không biết tại sao ông nổi hứng tuyên bố một câu bất hủ mà giờ này có giá trị của một lời tiên tri “Hãy để Trung Hoa ngủ yên bởi vì khi tỉnh giấc nó sẽ làm rung chuyển thế giới.” Vào tháng 03/1978 có một sự kiện ít được biết đến nhưng bắt đầu lay thức gã khổng lồ Trung Quốc khi một hợp tác xã nông nghiệp ở Phúc Kiến xin phép được giữ lại phần sản xuất vượt chỉ tiêu để khuyến khích nông dân hăng hái làm việc. Đây là giai đoạn trước Đổi Mới nên viên thư ký đảng bộ của hợp tác xã bị phê bình kiểm điểm. Chỉ 8 tháng sau đó vào cuối năm 1978 Đặng Tiểu Bình tuyên bố cải tổ và mở cửa nền kinh tế. Đề nghị nói trên của hợp tác xã được mang ra thử nghiệm với kết quả sáng chói nên viên thư ký đảng được ban khen.
Sau 10 năm ra sức Xây dựng, chỉnh đốn hàng ngũ để bảo vệ đảng không tan, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn thừa nhận: ”Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.”
Nếu mối quan hệ Trung Quốc-Hoa Kỳ là một ván bài, thì người Mỹ sẽ nhận ra rằng họ đã được một lá bài tốt và tránh khuất phục trước nỗi sợ hãi hay niềm tin vào sự suy tàn của Hoa Kỳ. Nhưng ngay cả một lá bài tốt cũng có thể thua, nếu chơi tệ. Khi chính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thực hiện chiến lược cạnh tranh đại cường với Trung Quốc, các nhà phân tích tìm các phép ẩn dụ trong lịch sử để giải thích tình trạng cạnh tranh ngày càng sâu sắc. Nhưng trong khi nhiều người dựa vào sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh, thì một ẩn dụ lịch sử đáng lo ngại hơn là sự bắt đầu của Thế chiến thứ nhất. Năm 1914, tất cả các cường quốc đều mong rằng cuộc chiến Balkan lần thứ ba là ngắn ngủi. Thay vào đó, như nhà sử học người Anh Christopher Clark đã chỉ ra rằng, các cường quốc bị mộng du bước vào một trận đại chiến kéo dài bốn năm, phá hủy bốn đế chế và giết chết hàng triệu người.
“Căn bản đời sống của chúng ta là đi tìm sự hạnh phúc và tránh né sự khổ đau, tuy nhiên điều tốt nhất mà ta có thể làm cho chính bản thân chúng ta và cho cả hành tinh này là lật ngược lại toàn bộ suy nghĩ ấy. Pema Chodron đã chỉ cho chúng ta thấy mặt cấp tiến của đạo Phật.”
Năm 1964, anh Phạm Công Thiện được mời vào Sài Gòn để dạy triết Tây tại Viện cao đẳng Phật học vừa được mở tại chùa Pháp Hội (tiền thân của Viện Đại học Vạn Hạnh sau này), tôi được anh cho đi theo. Tôi nhớ anh đã dẫn tôi đến thăm Bùi Giáng vào một buổi chiều, trong một căn nhà ở hẻm Trương Minh Giảng, căn nhà rất ẩm thấp, chật hẹp, gần như không có chỗ cho khách ngồi.
Cố nhớ kỹ lại, tôi vẫn không nghĩ ra là tôi đã gặp thầy Phước An lần đầu vào dịp nào (dĩ nhiên là ở Vạn Hạnh, trong năm 1972, nhưng trong hoàn cảnh nào?). Chỉ nhớ rằng quen nhiều và thân với thầy lắm. Phòng 317 Nội Xá Vạn Hạnh là phòng ở của quý thầy trẻ, là những người tôi rất thân, và đây là một phòng mà tôi có thể ra vào bất cứ lúc nào.
Ba bà Mai kể trên thuộc hai thế hệ. Cả ba đều đã trải qua một kiếp nhân sinh mà “phẩm giá” người dân bị chà đạp một cách rất tự nhiên.” Nếu may mắn mà “CNXH có thể hoàn thiện ở Việt Nam” vào cuối thế kỷ này, như kỳ vọng của ông TBT Nguyễn Phú Trọng, chả hiểu sẽ cần thêm bao nhiêu bà Mai phải (tiếp tục) sống “với tâm thức khốn cùng” như thế nữa?
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.