Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Giáo Dục Song Ngữ Cho Trẻ Em

27/08/200900:00:00(Xem: 7907)

Giáo dục song ngữ cho trẻ em

Đinh Yên Thảo
Khi nói đến vấn đề song ngữ, những nhà ngôn ngữ học vẫn hay dùng khuôn mẫu của hệ thống và mục tiêu giáo dục tại Canada, một quốc gia có những nghiên cứu và áp dụng việc giáo dục song ngữ một cách khoa học và khá hệ thống. Bộ Giáo dục Canada đưa ra mục tiêu rằng, đến năm 2013, khoảng 50% học sinh tốt  nghiệp bậc trung học sẽ thông thạo cả hai thứ tiếng Anh-Pháp, trong khi tỉnh bang New Brunswick đưa con số này lên đến 70%. Trên thực tế, với các học sinh tại tỉnh bang nói tiếng Pháp như Quebec, hầu hết các học sinh đều thông thạo Anh-Pháp. Nếu nhìn nhận theo góc nhìn lịch sử, thì vấn đề chủng tộc, văn hoá cùng sự tranh chấp giữa hai gốc dân nói tiếng Anh và Pháp tại một số tỉnh bang Canada đã hình thành nên một hệ thống giáo dục song ngữ này. Nhất là những ảnh hưởng riêng về vấn đề ngôn ngữ và văn hoá qua cuộc Cách mạng Thầm lặng (Quiet Revolution) tại Quebec vào những năm thập niên 60, cùng các phong trào đòi ly khai sau này, đã dẫn đến những điều luật riêng về ngôn ngữ và văn hoá.  Đến nay thì vấn đề ngôn ngữ không còn mang tính tranh chấp mà được các bậc phụ huynh nhìn nhận và ủng hộ như một đặc quyền riêng cho con cái của mình.
Sự hình thành và phát triển các lý thuyết và phương cách giáo dục song ngữ tại Quebec đã đóng góp khá nhiều trong các nghiên cứu về giáo dục song ngữ chung cho trẻ em tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Một trong những phương pháp dạy về ngôn ngữ thứ hai (L2) được hình thành tại Canada từ những năm 60 là phương pháp Thẩm thấu ngôn ngữ (Language immersion), một hình thức sử dụng ngôn ngữ thứ hai trong việc dạy học cho trẻ em và tất cả các sinh hoạt liên quan, từng phần hay toàn phần. Phương pháp thẩm thấu này được áp dụng cho ba độ tuổi, bắt đầu sớm từ độ tuổi 5 đến 6, khoảng giữa từ 9 đến 10 và trễ nhất là 11 đến 14, nhằm cho các em sự thông thạo ngôn ngữ thứ hai như ngôn ngữ đầu tiên hay tiếng mẹ đẻ của mình. Theo nhà ngôn ngữ học Colin Baker, một chuyên gia chuyên nghiên cứu về giáo dục song ngữ và tác giả nhiều cuốn sách liên quan, thì phương pháp “thẩm thấu ngôn ngữ” của Canada đã đưa đến một số ghi nhận khá hữu ích và quan trọng như sau:
-Những học sinh được giáo dục theo phương pháp thẩm thấu giai đoạn sớm (5-6 tuổi) chỉ thua sút bạn đồng học trong đôi ba năm đầu.
-Phương pháp này không tạo những ảnh hưởng xấu đến ngôn ngữ đầu tiên, cũng như sự phát triển trí tuệ của các em.
-Đến năm 11 tuổi hay sớm hơn, khả năng đọc viết ngôn ngữ mới sẽ đạt đến sự trọn vẹn như người bản xứ .
-Bạn đồng học nói một thứ tiếng (Monolingual ) có thể sẽ vượt trội các môn toán và khoa học nhưng sẽ bị các em có song ngữ (Bilingual) bắt kịp hay vượt trội về sau.
Lý thuyết này khá thực tế với những cộng đồng di dân nói chung hay cộng đồng người Việt nói riêng. Tuy nhiên trước khi cùng nhau tìm hiểu thêm sự liên hệ về lý thuyết này, chúng ta cũng cần quay lại với câu hỏi, đôi khi có những cách trả lời khác nhau. Đó là “Với trẻ em Việt, tiếng Việt hay tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ"”.
Một số người lập luận có lý do rằng, thứ tiếng nào một người nói thông thạo nhất, như tiếng Anh với trẻ em Việt Nam sinh ra tại Mỹ, thì đó là tiếng mẹ đẻ của  các em. Nhưng theo nhà ngôn ngữ học Leonard Bloomfield thì, tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ trẻ sơ sinh được học khi sinh ra, có cha mẹ sử dụng như ngôn ngữ chính. Hay như Ban Dân số Canada định nghĩa chính thức khi thống kê dân số, thì tiếng mẹ đẻ là “ngôn ngữ đầu tiên được học lúc nhỏ”. Theo số liệu của Ban Dân số Hoa Kỳ, có khoảng trên 75 % các gia đình VN nói tiếng Việt như là ngôn ngữ chính tại nhà hiện nay, điều này có thể chứng nhận tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ của trẻ em VN tại Mỹ, dù một số em không biết tiếng Việt. Vì các nhà ngôn ngữ học cũng ghi nhận sự mất đi, toàn phần hay một phần tiếng mẹ đẻ của trẻ em di dân khi thẩm thấu ngôn ngữ thứ hai trong môi trường đang sống, như tình trạng của nhiều trẻ em VN tại Mỹ hiện nay và trong tương lai.


Một số trẻ em Việt được gởi ngay vào các nhà giữ trẻ bản xứ từ rất nhỏ, nên có thể coi việc tiếng Việt của các em bị biến mất là điều dễ hiểu. Còn lại, rất nhiều gia đình chỉ bắt đầu cho con vào các trường giữ trẻ, mẫu giáo Mỹ từ độ tuổi 4 hay 5, một hình thức đi theo phương pháp “thẩm thấu ngôn ngữ” toàn phần đã nhắc bên trên. Rất tiếc là dù các em đã được nghe, nói và hiểu được một ít tiếng Việt từ lúc chào đời, các em vẫn mau chóng quên ngay tiếng Việt, đôi khi với sự tiếp tay vô tình hay cố ý của cha mẹ. Vì theo như lý thuyết “thẩm thấu” này, một vài năm đầu các em sẽ có những giới hạn trong khả năng tiếp nhận và giao tiếp nơi trường học khi chuyển tiếp sang ngôn ngữ mới. Điều này dẫn đến tâm lý lo ngại của một số phụ huynh về sự thua sút của con cái trong giai đoạn chuyển tiếp này, nên chỉ chú trọng đến vấn đề phát triển tiếng Anh cho các em và bỏ quên tiếng Việt.  Chỉ sau vài năm, sau khi nhanh chóng bắt kịp các học sinh khác, thì vốn tiếng Việt ít oi không được vun đắp trước kia chỉ còn một phần rất nhỏ hay hoàn toàn biến mất. Một số phụ huynh muốn quay lại với tiếng Việt thì đã gặp khó khăn hơn, vì các em đã thấm nhập ngôn ngữ mới quá nhiều và giai đoạn tốt nhất để học song ngữ đã qua đi.
Trong một nghiên cứu mới nhất liên quan đến vấn đề song ngữ nơi trẻ em của nhóm các khoa học gia đa quốc gia vừa công bố thì cấu trúc não bộ và sự phát triển tự nhiên của trẻ em có thể giúp các em nhỏ trong độ tuổi từ sơ sinh đến 7 tuổi, có một khả năng trở nên song ngữ khá dễ dàng. Theo nghiên cứu này, khi cho các em nhỏ này tiếp xúc với một ngôn ngữ khác, khả năng tiếp nhận và phát triển ngôn ngữ đó nhanh chóng một cách bất ngờ. Các chuyên gia trong nhóm cho rằng việc đơn giản nhất là tạo cho các em  cơ hội nghe nói cả hai ngôn ngữ đồng thời. Nhóm bác sĩ và các khoa học gia này đề nghị rằng, với những người nói ngôn ngữ khác thứ tiếng chính thức trong xã hội, như các cộng động di dân, hãy nên tiếp tục sử dụng ngôn ngữ của mình tại nhà nếu muốn cho con nhỏ có thể trở nên song ngữ. Với những người chỉ nói một thứ tiếng thì cho con cái chơi đùa hay gởi đến những nơi nói ngôn ngữ khác để có cơ hội tiếp nhận ngôn ngữ đó.
Dù tính chất và mục đích nghiên cứu các về vấn đề song ngữ của các nhà ngôn ngữ học hay giới khoa học, bác sĩ có khác nhau, cả hai giới đều có một điểm chung rằng, vấn đề hình thành một khả năng song ngữ nơi trẻ em là việc không khó, thậm chí nghiên cứu kể trên còn cho rằng khá dễ dàng. Nếu có dịp gặp gỡ một vài gia đình Việt Nam mang phong cách truyền thống tại các thành phố thuộc Quebec, không ít người ắt sẽ có đôi chút ngạc nhiên lẫn thán phục khi biết các em nhỏ trong những gia đình này không chỉ thành thạo tiếng Anh-Pháp-Việt, mà đến cả tiếng Tây Ban Nha khi được học như một ngoại ngữ trong trường học. Kết quả này, một phần nhờ vào hệ thống giáo dục tại đây, nhưng phần khác phải kể đến những sự lưu tâm của các bậc phụ huynh này. Đó quả là một tài sản khá lớn mà các bậc cha mẹ này đã để lại cho các em khi trưởng thành. Bởi với một môi trường giáo dục và điều kiện xã hội có sẵn, chỉ cần tạo cơ hội, các em  sẽ phát triển hoàn toàn được khả năng của mình, mà việc nói được tiếng Việt là một.
 Dallas 8/2009
Đinh Yên Thảo

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nơi trạm xe buýt cuối ngày, chuyến xe cuối cùng chuẩn bị lăn bánh. Những người đến trễ và những người muốn ngủ lại nơi băng ghế chờ đợi, sẽ bị bỏ lại. Cơ hội tái diễn cho một chuyến xe khác, có thể là ngày hôm sau. Nhưng hôm sau, nào ai đoán được chuyện gì sẽ xảy ra. Người ta cần phải bước qua, bỏ lại lịch sử phía sau, bằng không sẽ bị bỏ lại bên lề lịch sử.
Cùng thời điểm, các nước trong vùng như Ấn độ, Mã lai, Phi luật tân,...bị Tây phương đô hộ, đều lần lược thu hồi độc lập, tổ chức đất nước theo thể chế tự do dân chủ và nhờ đó, đất nước phát triển mà không phải có hơn 10 triệu dân chết oan uổng như Việt nam. Chỉ vì họ không có hiện tượng Hồ Chí Minh!
NHững người trẻ sẽ không còn là “không chịu lớn.” Họ đã trưởng thành trong suy nghĩ của riêng họ. Và khi phải xuống đường bày tỏ những ước muốn của mình. Họ biết họ phải làm gì. Không thể nào ai đó bảo họ phải làm cái này hay phải làm cái kia. Họ không còn cần phải có lãnh tụ. Đất nước cần những con em như thế.
Hiệp Định Geneve, cũng như Hiệp Định Paris, đối với Bác và Đảng – rõ ràng – đều chỉ là một mớ giấy lộn. Tổng Tuyển Cử (1956) hay Đình Chiến (1973) cũng thế. Hoà bình là từ ngữ không hề có trong tự điển của những người cộng sản. Họ nhất định phải nhuộm đỏ hết cả nước VN (bằng mọi giá và mọi cách) thì mới thoả lòng.
Lần đầu tiên tôi đi thăm Huynh Trưởng Huy Phương đang bệnh già. Đây là chuyến "thoát ly" đặc biệt sau hơn một năm tự giam mình. Trong suốt thời gian Huynh Trưởng bị bệnh, nằm nhà thương dài dài trong bao nhiêu ngày có đại dịch, tuy không phải bị con virus mắc dịch hành hạ, nhưng là một bệnh ngặt nghèo phát sinh theo tuổi tác.
Mùa an cư năm nay không có Thông Điệp giáo giới của Tôn Sư Tòng lâm Tông tượng sách tấn bốn chúng như pháp như luật hành trì. Những tiếng kêu của lừa dê chồn cáo không thay thế được tiếng rống của sư tử chấn động ma quân. Vậy, không gì hơn chúng ta cùng đọc lại “Huấn thị an cư Phật lịch 2548” của Đức Đệ Tứ Tăng Thống Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Quang. Huấn thị không nói gì nhiều hơn ngoài những kim ngôn Thánh giáo mà Đức Thích Tôn đã truyền dạy trên 25 thế kỷ. Tụng đọc và suy niệm kỹ.
Nhìn chung, vấn đề hoàn toàn bế tắc khi cả hai phe đều vi phạm pháp luật, tận dụng bạo lực để duy trì mọi yêu sách và không có thiện chí hiếu hoà để giải quyết tranh chấp. Các nỗ lực quốc tế, đặc biệt nhất là qua nhiểu tổng thống Mỹ, không mang lại kết quả. Các chương trình viện trợ tái thiết của các định chế quốc tế không tô điểm cho cuộc sống của dân chúng tốt đẹp hơn. Tình trạng thảm hại chung là thực tế đau thương.
Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật, người nào làm việc xấu thì gặp việc xấu đến, người nào làm việc tốt thì mọi sự tốt lành sẽ đến. Sống làm sao được bình yên trong tâm hồn là đủ, giàu nghèo sang hèn đâu có gì quan trọng, sống mình biết đủ là đủ. Hãy nhìn tính tốt của người khác, người nào cũng có tính tốt, tại chúng ta không nhìn thấy mà thôi?
Những bộ óc siêu đẳng của con người tạo ra trí tuệ nhân tạo được thể hiện qua máy móc. Những ứng dụng của trí tuệ nhân tạo đã phục vụ đời sống con người ngày càng tốt đẹp hơn. Khoa học thần kỳ nầy đã được áp dụng trong mọi sinh hoạt của con người hầu hết trong mọi lãnh vực.
Trước sự kiện lịch sử sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc mà Việt Nam, một nước nhỏ so với Trung Quốc hùng mạnh, rộng lớn với dân số đông gấp trăm lần đã không bị đồng hóa mà vẫn giữ được độc lập, nên một số sử gia Việt Nam và ngoại quốc đã rất ngạc nhiên. Theo họ, có lẽ nước ta đã nhờ nhiều lý do như ngôn ngữ, tôn giáo, địa thế và dân Việt có một truyền thống và nghị lực vững mạnh, v.v. Riêng G.S. Ngô Nhân Dụng, trong tác phẩm nghiên cứu lịch sử “Đứng Vững Ngàn Năm” đã cho rằng: “Sau ngàn năm Bắc thuộc mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, sau cùng lại dựng được một quốc gia độc lập; đó là một phép lạ lịch sử”.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.