Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Rút Mà Không Ra

02/06/200700:00:00(Xem: 7051)

Hoa Kỳ sẽ rút quân - nhưng không ra khỏi Iraq...

Hôm 28 vừa qua, lần đầu tiên Hoa Kỳ đã nói chuyện trực tiếp với Iran sau 27 năm gián đoạn, từ thời "Cách mạng Hồi giáo" năm 1979. Mục tiêu của việc đàm phán song phương được tập trung vào một hồ sơ là tương lai Iraq, nhưng hồ sơ ấy tất nhiên bao gồm các vấn đề quyền lợi của Iran và của các nước Á Rập Hồi giáo trong vùng.

Sau bốn tiếng thảo luận, đôi bên đều đổ lỗi nhau đã "gây rối tại Iraq", nhưng Đại sứ Hoa Kỳ tại Baghdad là Ryan Crocker vẫn cho rằng buổi họp đầu tiên có đạt kết quả tích cực. Còn Đại sứ Hassan Kazemi Qomi của Iran lại còn có vẻ tích cực hơn nữa.

Ông hứa hẹn là hai bên có thể gặp nhau trong vòng một tháng.

Sau đó, hai bên lại tiếp tục đả kích nhau và Tổng thống Bush đích thân nói đến việc ba học  giả Hoa Kỳ gốc Iran bị Tehran giam giữ là điều không chấp nhận được. Phiá Iran thì không quên là năm "nhà ngoại giao" của họ đã bị Mỹ bắt giữ tại Iraq từ đầu năm nay mà chưa thả. Trong khi ấy, hạm đội Bonhomme Richard của Hoa Kỳ đã hiện diện trong vùng Vịnh, sẵn sàng tung vào 17 ngàn lính thủy và Thủy quân Lục chiến.

Tức là chung quanh bàn hội nghị, đôi bên đều đấu khẩu và nói thách.

Nhưng, điều đáng chú ý hơn cả là hai ngày sau hội nghị song phương giữa hai vị Đại sứ tại Văn phòng của Thủ tướng Iraq, ông Tony Snow, Phát ngôn viên Tòa Bạch Cung đã có một lời phát biểu bất ngờ. Rằng Hoa Kỳ sẽ còn hiện diện rất lâu tại Iraq. Ít ra năm chục năm như chuyện đã xảy ra tại Triều Tiên.

Nhìn trên bề mặt, người ta cho rằng Chính quyền Bush tiếp tục cường điệu nói giọng tuyên truyền, rằng Hoa Kỳ sẽ không bỏ Iraq. Thật ra, khi Tòa Bạch Cung lại so sánh sự hiện diện của các đơn vị Mỹ tại Iraq với trường hợp Cao Ly - nơi mà lính Mỹ vẫn đóng quân từ năm "hưu chiến" 1953 đến nay - sự thể cần được nhìn lại dưới một góc cạnh khác.

Hoa Kỳ sẽ còn đóng quân tại Iraq rất lâu, nhưng lính Mỹ sẽ triệt thoái dần ra khỏi thành phố và chấm dứt nhiệm vụ canh chợ cho các phe phái Iraq học tập xây dựng dân chủ. Nói cách khác, Hoa Kỳ sẽ giảm quân số tại Iraq, nhưng rút mà không ra. Các căn cứ quân sự được bảo vệ kỹ lưỡng của Mỹ sẽ là yếu tố ổn định, hoặc ít ra là sức mạnh cân bằng các thế lực trong toàn khu vực. Bên ngoài các căn cứ này, nếu các phe nhóm Hồi giáo có muốn giết nhau thì đó là chuyện của họ, miễn là lính Mỹ không đứng giữa lãnh đạn.

Và bất cứ ai tấn công các căn cứ Mỹ sẽ là tấn công vào lãnh thổ hay quyền lợi của Hoa Kỳ.

Qua các kỳ họp tới giữa Washington và Tehran, sự hiện hữu của các căn cứ Mỹ sẽ nằm trong nghị trình "tương lai Iraq". Trong khi đối lập bên đảng Dân chủ vẫn làm khó Chính quyền Bush và nhiều người kêu gọi Mỹ phải đàm phán, việc đàm phán đang thực tế tiến hành, nhưng theo cung bậc khác, và trong một viễn cảnh khác.

Hoa Kỳ đã mất hơn 3.500 binh lính tại Iraq, một con số tổn thất thực ra rất nhỏ trong hơn bốn năm thọc tay vào ổ rắn. Nếu có so sánh với số thương vong vì tai nạn xe cộ hàng năm, hay hàng tháng, tại Hoa Kỳ thì vẫn chưa thấm vào đâu. Nhưng vấn đề đã thành một tổn thất chính trị cho ông Bush, ông bèn nhấn tới thay vì bọc xuôi theo áp lực của dư luận và Quốc hội. Chiến lược dốc quân đánh tới chính là để đạt điều kiện thương thảo tốt hơn với một đối thủ chính là Iran. Cũng vì vậy mà cùng với việc dồn quân đánh tới được đề nghị từ đầu năm nay, Chính quyền Bush đã trù tính rút quân ít ra phân nửa vào năm tới.

Sự tính toán này bị tờ New York Times tiết lộ khi hai Đại sứ chuẩn bị gặp nhau tại Baghdad - đôi khi do sự hớ hênh có chủ ý của Chính quyền Bush! Chỉ vài ngay sau đó, người ta mới hiểu là Mỹ sẽ rút phân nửa các đơn vị khỏi Iraq, còn phân nửa kia sẽ không ra mà luân phiên bảo vệ các căn cứ của Hoa Kỳ. Từ nay đến đó, binh lính Mỹ sẽ chuyển dần mục tiêu từ tác chiến và bình định qua huấn luyện và cố vấn các đơn vị Iraq.

Nếu đừng bị ù tai vì những lời đả kích ồn ào trên chính trường Mỹ trong một mùa bầu cử khởi sự quá sớm, người ta có thể nhìn ra sự hợp lý của quyết định này. Và cũng có thể hiểu vì sao Iran lại cũng có thể đồng ý như vậy.

Nhìn từ quyền lợi Hoa Kỳ, việc Iran có thể khống chế Iraq là điều khó chấp nhận. Mà càng khó chấp nhận cho các nước Ả Rập chung quanh như Saudi Arabia, Egypt và Jordan. Cả ba quốc gia Hồi giáo này đều không muốn Iran bành trướng thế lực mà cũng chẳng muốn Mỹ đóng quân trên lãnh thổ của họ. Nếu không có một sự cam kết của Hoa Kỳ, và sự đồng ý của Tehran, họ có thể nhúng tay vào cuộc bằng cách yểm trợ các nhóm phiến quân Sunni và sẽ không hết lòng diệt trừ các lực lượng khủng bố Thánh chiến (và al-Qaeda) đang trà trộn trong cộng đồng Sunni.

Nhìn từ quyền lợi của Iran, giả thuyết tệ nhất là nếu Hoa Kỳ lập ra một chính quyền thân Mỹ của thiểu số Sunni (Chính quyền Sunni không có Saddam Hussein và al-Qaeda). Giả thuyết đáng sợ ấy cho Tehran thật ra rất khó thành. Nhưng họ vốn không tin vào thực tâm của Mỹ và luôn luôn dự trù những trường hợp lật lọng của Washington!

Giả thuyết tạm chấp nhận được cho các Giáo chủ Tehran là Iran góp phần yểm trợ Chính phủ Baghdad để đào tạo và huấn luyện lực lượng an ninh Shia hầu bảo đảm là Chính phủ ba thành phần này có sức tự lực - và thân Iran.

Ngược lại, Tehran thực ra cũng thừa kinh nghiệm để biết rằng nếu Mỹ triệt thoái khỏi Iraq - như Quốc hội Dân chủ đang đòi tại Washington - thì Iran chưa kịp lấp vào khoảng trống do Mỹ để lại, các phe phái trong cuộc như dân Kurd và cả Shia sẽ loạn đả và gây họa cho các lân bang, từ xứ Turkey về tới Iran.

Cho nên, nếu nhìn trên toàn cảnh thì việc Hoa Kỳ rút mà không ra là chuyện không hẳn là phi lý. Tuy nhiên, đôi bên - hay nói cho đúng hơn, sáu phe liên hệ - đều muốn tác động vào chuyện đàm phán này để giành phần hơn.

Trước hết, nếu Hoa Kỳ và Iran đạt thỏa thuận tại Iraq, lực lượng khủng bố xưng danh Thánh chiến (al-Qaeda và các nhóm khủng bố ngoại nhập khác thuộc hệ phái Sunni) sẽ bị đòn xóc hai đầu nên phải phá cho tan mọi thỏa hiệp.  Thứ hai, các hệ phái trong phe Shia tại Iraq cũng không muốn Mỹ và Iran nhượng bộ phe Sunni quá nhiều trong tổ chức tương lai của chính quyền và kinh tế Iraq. Thứ ba, các lực lượng "dân quân" Sunni muốn đòi phần hơn trên bàn cờ - và giếng dầu - Iraq nên đã sớm ra tay truy lùng khủng bố al-Qaeda trong khi Mỹ đàm phán với Iran và sẽ lại tấn công thẳng vào phe Shia nếu thấy mình bị thất thế vì Mỹ nhượng bộ Iran quá nhiều!

Thứ tư, hai lực lượng thân Mỹ nhất tại Iraq thuộc sắc tộc Kurd lại không muốn bị Mỹ hy sinh để rút chạy, như đã từng bị trong quá khứ nên cũng có thể gây rối cho cuộc hoà đàm. Thứ năm, các nước Á Rập theo hệ phái Sunni như Saudi Arabia, Egypt, hay Jordan, không muốn bị Iran lấn lướt khi Mỹ bị đẩy vào thế yếu và sẽ đòi hỏi những cam kết ổn định của Hoa Kỳ. Chẳng xa xôi gì với tình hình Iraq, xứ Syria cũng chòm chõm theo dõi cuộc đàm phán vì sợ bị mất phần tại Lebanon và có khi còn lãnh hoạ nếu các nhóm Thánh chiến bị xua khỏi Iraq lại lập hậu cứ tại Syria, trong cộng đồng Sunni ở đây!..

Xa xôi hơn nữa, Liên bang Nga của Tổng thống Putin cũng chẳng mấy vui nếu Hoa Kỳ đạt thỏa thuận với Tehran và sẽ còn hiện diện rất lâu ở Trung Đông: Nga mất thân chủ là Iran, mất cơ hội thọc chân đứng vào một khu vực chiến lược, có khi còn e rằng Iran sẽ quậy ngược về các nước Cộng hoà Trung Á như Azerbaijan và Turkmenistan! Và biết đâu chừng, gỡ được mối lo tại Trung Đông, Bush sẽ có lập trường cứng rắn hơn với sự bành trướng ảnh hưởng của Nga tại Âu Châu từ đầu năm ngoái. Putin có thừa bản lãnh để giúp Iran có những đòi hỏi mà Hoa Kỳ khó chấp nhận được, hồ sơ võ khí hạch tâm là một!

Mà Quốc hội Dân chủ ở nhà cũng chẳng muốn Chính quyền Bush sớm rút tay khỏi lò lửa Iraq, trước khi có bầu cử 2008.

Và ngay tại chỗ, tại Iraq, Chính phủ ba thành phần tại Baghdad sẽ đòi hỏi những gì cho họ để đồng ý với việc Hoa Kỳ thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ Iraq"

Thành thử, người ta có thể mơ hồ nhìn ra lộ trình sắp tới của Chính quyền Bush và các Giáo chủ tại Tehran, nhưng con đường còn rất nhiều chông gai. Kết quả sẽ khó đạt vì đòi hỏi quá nhiều điều kiện. Và nếu đạt được, Hoa Kỳ đã... quay về chốn cũ.

Năm 1991, vì đóng quân tại Saudi Arabia, Mỹ cho al-Qaeda một lý cớ huy động các phần tử Hồi giáo cực đoan mở màn tấn công Hoa Kỳ, với cao điểm là vụ khủng bố 9-11. Bây giờ, Hoa Kỳ còn trù tính có căn cứ rộng lớn và kiên cố hơn ở tại Iraq thì làm sao đấng Allah có thể chấp nhận được"

Hay là Chính quyền Bush đã muốn như vậy ngay từ đầu khi mở chiến dịch tấn công Iraq" 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Như vậy là bao trùm mọi lĩnh vực quốc phòng, an ninh xã hội có nhiệm vụ bảo vệ đảng và chế độ bằng mọi giá. Nhưng tại sao, giữa lúc tệ nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái đạo đức, lối sống và tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn ngổng ngang thì lại xẩy ra chuyện cán bộ nội chính lừng khừng trong nhiệm vụ?
Nhật báo Washington Post của Mỹ ghi nhận là: “Tổng thống Pháp Macron vốn dĩ đã rất tức giận khi được tham vấn tối thiểu trước khi Mỹ rút khỏi Afghanistan. Điều đó bây giờ đã tăng lên. Chính quyền Biden nên xem xét sự không hài lòng của Pháp một cách nghiêm túc. Hoa Kỳ cần các đối tác xuyên Đại Tây Dương vì đang ngày càng tập trung chính sách đối ngoại vào cuộc cạnh tranh cường quốc với Trung Quốc. Và trong số này, Pháp được cho là có khả năng quân sự cao nhất.
Sau khi tấm ảnh người đàn ông đi xe máy chở người chết cuốn chiếu, chạy qua đường phố của tỉnh Sơn La (vào hôm 12 tháng 9 năm 2016 ) được lưu truyền trên mạng, Thời Báo – Canada đã kêu gọi độc giả góp tay ủng hộ gia đình của nạn nhân. Số tiền nhận được là 1,800.00 Gia Kim, và đã được những thân hữu của toà soạn – ở VN – mang đến tận tay gia đình của người xấu số, ở Sơn La.
Công bằng mà nói, ngày càng có nhiều sự đồng thuận là chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa để ngăn chặn các hành động của Trung Quốc trong khu vực. Sự răn đe đòi hỏi những khả năng đáng tin cậy. Liên minh mới này phù hợp với lý luận đó.
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.