Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Ra Mắt Sách ‘Nhìn Lại Sử Việt’ Của Tiến-Sĩ Lê Mạnh Hùng

15/11/200700:00:00(Xem: 7410)

Dù được thông-báo và tổ-chức trong một thời-gian kỷ-lục, buổi ra mắt sách Nhìn Lại Sử Việt của Tiến-sĩ Sử-học Lê Mạnh Hùng hôm Chủ-nhật vừa qua, 11 tháng 11, tại Mason District Government Center trên đường Columbia Pike cũng đã thu hút được gần 100 người đến dự, hầu hết là những thức-giả hằng quan-tâm đến đời sống văn-hoá của người Việt hải-ngoại ở trong vùng.

 Sở dĩ ta có thể nói được là kỷ-lục bởi Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, theo nữ-sĩ Trương Anh Thuỵ, một nhân-vật chủ chốt trong nhà xuất bản, “chúng tôi được biết quyết-định của tác-giả Lê Mạnh Hùng gần như trong chớp nhoáng khi ông có một cơ-hội sang Mỹ từ Luân-đôn.”

Mở đầu buổi ra mắt, ông Nguyễn Ngọc Bích đã trình bày đây chỉ là một cuộc trao đổi thân-tình giữa một số bạn độc-giả và tác-giả nhân dịp ông đi qua vùng Thủ-đô trên đường đi Cali.  Dù sách mới chỉ in xong gần đây song không ít bạn đọc đã có dịp xem qua một số bài trong loạt bài “Tản mạn lịch sử” của Tiến-sĩ Lê Mạnh Hùng trên mặt báo Việt Tide trong mấy năm qua, giờ đây được gom lại và đúc lại để cho liền lạc và thành một tác-phẩm thống nhất.  Cuốn sách mới, Nhìn Lại Sử Việt, còn có tiểu-tựa là “Từ tiền-sử đến tự-chủ,” còn cho ta thấy đây mới chỉ là tập đầu trong một bộ sử nhiều tập do Tổ Hợp XBMDD nhằm tung ra để khi hoàn-tất có thể thành một bộ thông-sử tiêu-chuẩn cho thế-hệ ngày nay.

Quan-điểm Tổ Hợp

Sau khi giới-thiệu tiểu-sử tác-giả ông Bích đã trình bầy những lý-do vì sao Tổ Hợp XBMDD, một nhà xuất bản nhỏ đã hoạt-động từ năm 1985, đã chọn in bộ sử này.  Ông cũng nhân cơ-hội này hé cho ta thấy vai trò của một nhà xuất bản là có thể nâng giá-trị của tác-phẩm bằng cách trình bầy, sắp xếp các “headers” (dòng lược-dẫn nội-dung nơi đầu trang) hoặc thêm vào những phụ-trương có ý nghĩa (như bản-đồ, phụ-trương hình ảnh, v.v.).

“Viết sử là một công-trình không dễ thực-hiện,” ông nói. “Viết sử về một quốc gia có lịch-sử lâu đời trải dài trên nhiều nghìn năm lại càng khó khăn hơn nữa.  Vì sao"  Vì nhiều lý-do: Tài-liệu, sử-liệu thiếu sót hoặc mâu thuẫn; người xưa có những lối sống, tập-tục, quan-niệm rất khác chúng ta ngày nay; các triều-đại lên xuống thường đưa ra những cách nhìn, cách đọc lịch-sử lợi cho chính mình khi thắng thế (‘ddược làm vua, thua làm giặc’); rồi những tranh-chấp mà ngày nay ta không nhất thiết đã chia xẻ với người xưa (tỷ như giữa nhà Lê và nhà Mạc, giữa nhà Trịnh với nhà Nguyễn, giữa nhà Nguyễn Tây-sơn và nhà Nguyễn Gia Miêu, giữa cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Châu Trinh, chẳng hạn) chứ nói gì đến những tranh-chấp thời cận-hiện-đại.  Thành thử viết sử có thể là một bãi mìn mà ít người dám có can đảm bước vào.

“Có lẽ cũng vì thế mà chuyện viết sử trong thời vua chúa ngày xưa phần lớn là một việc làm tập-thể.  Các triều-đại phong kiến ở nước ta thường có Quốc-sử-quán để: thứ nhất, dùng được tài-năng và hiểu biết của nhiều người, phần lớn là những bộ óc lớn đương-thời, vào công việc khó khăn này; phần nữa là để cuối cùng Nhà nước có thể kiểm-soát được sản-phẩm mà Quốc-sử-quán đưa ra.  Ta biết Lê Văn Hưu dưới đời nhà Trần có bộ Đại Việt Sử Ký, bộ sử 30 quyển, bộ sử đầu tiên của nước ta nhưng nay đã mất, chỉ còn tồn tại trong những phần nào mà sử về sau chép lại của ông.  Sang đến đời Lê, kéo dài hơn 350 năm, chúng ta có độc-nhất một bộ chính-sử, bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, do Ngô Sĩ Liên khởi thảo và hoàn-tất dựa vào Lê Văn Hưu và Phan Phù Tiên (tác-giả bộ Đại Việt Sử Ký tục biên), sau được nhiều người viết tiếp và tăng bổ, và phải sang đến đời nhà Nguyễn chúng ta mới lại có một bộ sử để đời, bộ Khâm định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, mà người tổng-tài là Phan Thanh Giản, 47 quyển.  Công việc viết sử dưới đời nhà Nguyễn được tiếp-tục sang đến đầu thế-kỷ XX với những vị tổng-tài uyên bác như Trương Đăng Quế, Trương Quốc Dụng và Cao Xuân Dục, ngay cả sau khi Pháp đã chiếm nước ta.

“Song chính-sử cũng sẽ rất khô khan và thiếu sót nếu không có những tác-phẩm, tuy không phải là của Quốc-sử-quán song cũng rất cần để bổ túc vào đó.  Thử tưởng tượng nếu bàn về nguồn gốc dân-tộc hay thời tiền-sử mà lại không có Lĩnh Nam chích quái hoặc về giai-đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh mà lại không có Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, thời Tây-sơn mà không có tiểu-thuyết lịch-sử Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô-gia văn-phái, hoặc ngay lịch-sử nhà Nguyễn mà lại thiếu Đại Nam thực lục tiền biên và chính biên (560 quyển) hay Đại Nam liệt truyện (85 quyển) thì câu chuyện đất nước ta sẽ tẻ nhạt như thế nào!  Rồi một bộ như Lịch triều hiến chương loại chí (1821) của Phan Huy Chú thì phải coi là một bộ bách khoa từ điển về đất nước chúng ta trước thời nhà Nguyễn.  Đó là chưa nói đến những hợp-tuyển văn-học của Phan Phu Tiên, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, hay những sách về địa-lý, pháp-luật, xã-hội, tín ngưỡng v.v.

“Nêu ra một cách rất sơ sài những sách trên, tôi chỉ có ý cho ta thấy phải liều lĩnh lắm mới dám ngồi xuống viết một bộ thông-sử VN như tác-giả Lê Mạnh Hùng đã và đang cố gắng làm qua bộ Nhìn Lại Sử Việt mà Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ vừa in ra tập đầu, ‘Từ Tiền sử đến Tự chủ.’

*   *

“Nhưng can đảm hay ‘liều lĩnh’ thì ông Lê Mạnh Hùng, bạn của tôi, có thừa.  Sản-phẩm của những trường như Chu Văn An Sài Gòn và MIT ở Mỹ, ông lại còn có nhiều kinh-nghiệm trong ngành kinh tế, tài-chánh, kế-hoạch của VNCH trong thời-gian ông về phục-vụ ở trong nước (1965-1975) trước khi ‘ddược’ Việt Cộng ‘rước’ đi học tập cải tạo nhiều năm ở Hàm Tân.  Một con người luôn luôn tích-cực, theo nghĩa là không bao giờ bỏ cuộc, ông đã lợi-dụng ngay thời-gian trong lao tù để học chữ Hán, không khác gì cha ông của chúng ta ngày xưa, khi đi Côn-đảo thì quay ra học nguyên quyển từ-điển Larousse, cho nên giờ đây ông rất giỏi chữ Hán đọc được báo và sách Tàu như chúng ta đọc chữ quốc-ngữ vậy. 

Riêng khả-năng này đã mở rộng cho ông tất cả kho tàng thư-tịch Trung-hoa và của Việt-nam xưa để thành một trong những sử-gia hiếm hoi ngày nay rất ung dung khi cần phải tham-khảo sách cũ.  Ông còn có cái may mắn là ở gần British Library, một trong những kho chứa sách Trung-hoa đầy đủ nhất của nhân-loại, để có thể vào tìm đọc bất cứ lúc nào.

 Cá-nhân tôi đã có dịp đi tìm bộ tuồng cổ của VN (trong sưu-tập Landes) ở British Library, vào xin xem một cách rất dễ dàng (khác hẳn những thủ-tục rườm rà và khó khăn của Bibliothèque Nationale ở Pháp) và người ta đẩy ra cho tôi một cái tựa như ‘shopping cart’ chất đầy khoảng 30 văn-bản tuồng Nôm chép từ thế-kỷ XIX.

“Trong thời-gian ông ở lại quê nhà, nghĩa là cho đến năm 1990, vì được chính-quyền mới trưng dụng làm việc trong chương-trình phát triển đồng bằng sông Cửu Long và phụ-trách lập mô-hình kinh tế bán-đảo Cà-mâu và khu tứ giác Long-xuyên, ông cũng đã có dịp hiểu biết thêm rất nhiều trên thực-địa về miền này.  Rời VN sang định cư ở Úc, ông đã dạy thông-dịch và phiên-dịch tại trường đại-học Victoria College ở Melbourne cho đến năm 1992 thì ông đã cùng gia-đình sang nhận việc ở BBC, Anh-quốc.  Thời-gian ở đây, ông đã ghi danh theo học lịch-sử tại SOAS (tắt cho School of Oriental and African Studies, tức Trường Đông-phương và Phi-châu-học) thuộc VDDH Luân-đôn.  Tại đây, ông đã lấy xong bằng Tiến-sĩ Sử-học năm 2000 với luận-án ‘Kinh tế VN trong Thế-chiến II.’  Năm sau, ông sang công-tác ở Đài Á Châu Tự Do, nơi đây tôi có dịp làm việc trực-tiếp với ông trong hơn hai năm, cho đến khi tôi về hưu vào tháng 7/2003, và ông cũng rời đài ít lâu sau đó để về với gia-đình ở Luân-đôn.

“Chính nhờ nghỉ hẳn việc hàng ngày nên ông đã có thời giờ tập trung vào việc viết loạt bài ‘Tản mạn lịch-sử’ được khá nhiều người theo dõi trên báo Việt Tide hàng tuần.  Mặc dầu đây đó cũng đã có một hai dư-luận không nhất thiết đồng-ý với đôi ba nhận xét của ông, đặc-biệt khi ông viết về thời cận-hiện-đại, nhưng ông không lấy đó làm buồn mà còn coi đó là những nhận xét thẳng thắn giúp ông có thể sửa sang khi duyệt lại và cho in thành sách. 

*   *

“Cuốn sách ra mắt hôm nay, NHÌN LẠI SỬ VIỆT: Từ Tiền-sử đến Tự-chủ, là sản-phẩm của một lối làm việc khá cẩn trọng như vậy.  Công-bố những tìm tòi, khám phá, suy nghĩ của mình sau nhiều năm nghiền ngẫm nhưng không nhất thiết cho là mình độc-quyền sở-hữu sự thật.  Đây là một lối viết sử khá mở vì từ giữa những bài ‘Tản mạn’ đến khi in thành sách vẫn còn một khoảng thời-gian để nhận phản-hồi từ độc-giả và sửa chữa cho chính-xác hơn, khi cần.

“Phần đóng góp của Tổ Hợp, trong giai-đoạn duyệt bản (chúng tôi dùng chữ này thay cho chữ “biên-tập” quen thuộc hơn ở trong nước), là góp làm sao cho cuốn sách dễ dùng, dễ theo dõi, với những phụ-bản làm tăng thêm giá trị của cuốn sách.  Có tất cả ba phụ-chương trong đó:

“Một là 8 tấm bản-đồ ít thấy trong sách sử nước ta, cho người đọc nhận ra rõ ràng các vị-trị được nhắc đến trong sách, dù là bản-đồ khảo-cổ-học ở miền Bắc và miền Thanh Nghệ Quảng hay là những bản-đồ của nước ta dưới thời nhà Hán, nhà Đường, hay những ngày ta lấy lại được một phần độc-lập, như nước ta khi có tên là Vạn Xuân hoặc nước ta dưới thời Ngô Quyền.

“Hai là 18 bức tranh màu về các loại đồ dùng của cha ông chúng ta cách đây trên dưới 2000 năm, khi chúng ta chủ-yếu còn là giống Lạc, chưa thành Việt.  Những bức tranh này (người ta nói một bức tranh bằng 10.000 chữ) cho thấy một trình-độ văn-minh văn-hoá vật-chất khá tiến-bộ từ cách đây cả 20 thế-kỷ hay hơn.  Điều đó, nếu làm cho chúng ta hãnh diện, thì cũng lại buộc chúng ta phải suy nghĩ là tại sao sau đó, chúng ta lại không theo kịp được đà văn-minh tiến-hoá của nhân-loại—tóm lại, một câu hỏi rất “thời-sự.”

“Ba là một phần mà chúng tôi xin gọi là ‘Lịch-sử trong ký-ức đời sau’ để thấy trong tiến-trình Hán-hoá của chúng ta, từ khi đất Giao-chỉ Giao-châu chỉ là một quận của Trung-hoa dưới thời mà ta gọi là Bắc-thuộc cho đến sau này, ngay dưới thời các vua phong kiến ở nước ta, đã làm cho chúng ta hiểu lầm rất nhiều lịch-sử nước nhà.  Tỷ-dụ, trong một số sách sau này, chúng tôi thấy là các vua Hùng đều có miếu-hiệu bằng tiếng Hán.  Chuyện này thật quả là vô lý khi theo tác-giả Lê Mạnh Hùng, đây chỉ là những tên truy-phong mới có từ thế-kỷ XVIII dưới đời nhà Lê.

“Chính vì những sự hiểu lầm như thế này mà vấn-đề nguồn gốc dân-tộc Việt-nam đã rơi vào trong một tình-trạng hoả mù mà trừ phi ta nghiên cứu thật cặn kẽ và nghiêm túc, có khi ta không còn biết đâu mà mò.  Việc làm sáng tỏ những vấn-nạn này trong lịch-sử là một trong những thành-tựu lớn của tác-giả Lê Mạnh Hùng trong cuốn NHÌN LẠI SỬ VIỆT: Từ Tiền-sử đến Tự-chủ, ra mắt trong ngày hôm nay.”

Quan-niệm những “bước ngoặt” của tác-giả.

Đến phần tác-giả lên diễn-đàn, Tiến-sĩ Lê Mạnh Hùng kể về một vài người đã có công chỉ cho ông về chữ Hán và Hán-học (ngay cả trong thời-gian ông ở tù CS), rồi ông đưa ra quan-niệm của ông khi ông viết lịch-sử.

Ông cho rằng lịch-sử của mỗi dân-tộc đều có những “bước ngoặt” của nó, quyết-định cái vận mệnh cuối cùng của dân-tộc đó.  Những “bước ngoặt” này, theo ông, không thể biết trước được vì đôi khi chúng như những tai-nạn xảy ra trong đời chúng ta.  Làm sao ta biết được là đi ra đường, ta có thể bị đụng xe"  Nhưng nếu chuyện đụng xe xẩy ra thì ta có thể bị què cụt, và què cụt ta phải sinh-hoạt khác hẳn người thường.  Những chuyện như thế này sẽ ảnh-hưởng ta suốt cuộc đời mà ta không thể làm gì để đổi thay được.

Lịch-sử cũng thế.  Chính vì thế mà ông cho rằng khi hoàn-tất, bộ NHÌN LẠI SỬ VIỆT của ông sẽ có 5 tập: Từ tiền-sử đến tự-chủ (quyển đầu), rồi thời Lý-Trần (đến hết nhà Hồ), nghĩa là giai-đoạn phong kiến trong lịch-sử nước ta, rồi từ nhà Lê đến nhà Nguyễn, thời Pháp-thuộc, và cuối cùng là từ 1945 đến 1975.  Ông cho biết ông đã hoàn-tất hai tập đầu và còn đang viết những tập còn lại.

Sau phần trình bày của ông Hùng, nhiều khán-thính-giả đã đặt ra nhiều câu hỏi, đôi khi rất lý thú và sâu sắc, về vấn-đề viết sử (về vấn-đề nguồn gốc dân-tộc VN, về các ý-nghĩa của chữ “Lạc,” về tương-lai của cộng-đồng VN hải-ngoại dựa trên sự nghiên cứu của ông, v.v.) và ông Hùng đã tìm cách trả lời khá cặn kẽ, có thể nói là thoả mãn được hầu hết các vị đặt ra câu hỏi cho ông.

Tưởng cũng cần nhắc là hôm Chủ-nhật vừa rồi còn có sự hiện diện của ông Huỳnh Văn Hiệp, phó-hội-trưởng ngoại-vụ của Giáo-hội PG Hoà Hảo (hải-ngoại), đến một phần để nghe và một phần cũng để trao đổi với sử-gia Lê Mạnh Hùng về một vài điều mà các tín-đồ Hoà Hảo cho là ông Hùng đã viết ra không chính-xác về Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ.  Tuy-nhiên, vì cuốn sách ra mắt hôm đó chưa nói đến giai-đoạn cận-hiện-đại nên hai vị đã thu xếp để gặp nhau hôm sau trao đổi về vấn-đề này.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.