Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đấu Tranh Cho Tự Do Tôn Giáo Tại Giáo Phận Huế

12/10/200200:00:00(Xem: 3545)
Bản tin ngày 09-10-2002
1- Giáo dân An Truyền tố cáo Cộng sản chôn sống dân lành
Cho tới hôm nay, ngoài cha Lý, giáo dân An Truyền vẫn không quên được hai con người vô tội đã bị Cộng sản đối xử tàn bạo bằng cách chôn sống quanh dịp tết Mậu Thân: cha G.B. Bửu Đồng, quản xứ của họ và một thanh nữ giáo xứ 19 tuổi làm nghề thợ may tên Hồ Thị Xuân. Cái chết đau thương của cha Bửu Đồng đã được nói nhiều, bia mộ của cha đang để tại nhà thờ giáo xứ. Riêng cái chết tức tưởi của cô Xuân thì mới được nhắc lại cách mạnh mẽ, bởi lẽ người ta vừa tìm được hài cốt của cô sau 35 năm. Cô đã bị du kích Cộng sản bắt ngày 4-7-1967 lúc 5 giờ chiều và giết chết lúc 8 giờ tối. Đầu đuôi câu chuyện như sau.
Cách đây chừng tháng rưỡi, có một giáo dân An Truyền sang làng bên cạnh thăm một người bạn tên.... Đang lúc trò chuyện, người giáo dân hỏi: "Anh có biết cô Xuân không"" Ông bạn hỏi lại: "Xuân nào"" - "Xuân làng Truyền Nam, bị mất tích trước Mậu Thân đó!" - "Biết! Hồi năm 67 có 4 tay du kích đem cô Xuân đến đây để giết. Khi bắt cô tại quán may của cô, tụi hắn nói là mời cô đi họp. Thấy dẫn đi mãi mà chẳng thấy gì, cô mới hỏi: Mấy anh ơi, đã tới chỗ họp chưa" Một tên trả lời không biết. Sang đến làng của tôi, tới chỗ vắng, bốn tay du kích bịt mắt cô Xuân lại, trói hai tay sau lưng, xô cô xuống một cái hố và chôn sống!" - "Vì sao cô bị du kích bắt"" - "Sở dĩ cô bị bắt là vì 4 tay du kích thấy cô đứng dậy khỏi bàn máy may khi bọn chúng vừa đi qua. Nghi là cô đi báo cáo, bọn chúng lập tức giả bộ mời cô đi họp và giết cô chỉ sau vài giờ để trừ hậu họa. Đúng là giết lầm hơn bỏ sót! Ghê rợn thật!"
Nghe đến đây, người giáo dân hỏi: "Sao anh biết rành rẽ thế"" - "Nhờ người trong cuộc kể lại. Trong bốn tay du kích ngày đó thì ba người đã chết, một người đang sống nhưng điên điên khùng khùng. Ông này đêm nào cũng nghe tiếng cô Xuân vang vọng bên tai: "Đã đến chỗ họp chưa mấy anh"" Ông ta không thể ngủ được. Ông ta vừa mới chỉ chỗ cho tôi và nhờ tôi báo cho gia đình cô Xuân. Định qua làng thông tin thì anh tới, may quá!".
Gia đình cô Xuân tức tốc đến nơi, đào huyệt và tìm được hài cốt (còn rất ít), sau đó đem về nhà hôm 31-08-2002. Cốt của cô được để 3 ngày hầu họ hàng và giáo xứ đọc kinh cầu hồn gởi lễ, bởi lẽ khi bị Cộng sản chôn sống, cô Xuân không được lãnh nhận các bí tích sau cùng. Buổi cầu kinh nào cũng vang lên tiếng khóc than, hiện lên nét ấm ức nơi gia đình và toàn thể giáo xứ. Dĩ nhiên chẳng có một lời xin lỗi hay thậm chí phân ưu từ phía Cộng sản. Đến ngày 03-09-2002, thánh lễ an táng được cử hành bởi cha Trần Hữu Dũng dòng Chúa Cứu Thế (cha Nguyễn Trần Tuấn đã bị công an cấm tiệt, không cho về An Truyền nữa). Cha nói lúc mở đầu: "Trong đời linh mục của tôi, làm lễ an táng kiểu này là lần đầu tiên. Tôi hết sức xúc động vì một người con của Chúa, của gia đình, của giáo xứ đã tìm được xác sau 35 năm trời. Tôi cũng cảm động khi thấy gia đình thì lo lắng chu đáo còn giáo xứ thì sốt sắng cầu nguyện cho cô Xuân xấu số của chúng ta. Chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện cho người chị em đã qua đời, cho cả những kẻ giết cô mà đã qua đời nữa...."
Thánh lễ xong, cô Xuân được đưa ra nghĩa trang -gần bên trụ sở xã- trong tiếng khóc nức nở của gia đình và trong sự ấm ức của mọi giáo dân. Chẳng ai cầm được nước mắt. Đến lúc quan tài hạ xuống huyệt, gia đình người thiếu nữ xấu số như muốn chết với cô. Có kẻ la lên: "Cộng sản vô hậu quá! Cộng sản vô hậu quá! Chị tau còn non trẻ, có tội tình gì mà bây chôn sống như rứa" Bây ác lắm Cộng sản ơi!" Rồi cả đoàn người la to: "Đả đảo Cộng sản! Đả đảo Cộng sản!" Anh thợ chụp ảnh thuê đang đi cùng hoảng quá, lên tiếng cảnh báo: "Đả qua đả lại coi chừng ra Hoàn Cát đó!" Các em nhỏ trả lời: "Ra Hoàn Cát mà làm chi" Ra Nam Hà ở với cha Lý!!!"
Sau đó, chính quyền và công an xã lùa anh thợ chụp hình vào trụ sở để điều tra: "Tụi nó la đả đảo Cộng sản có phải không"" Anh thợ ảnh trả lời: "Các ông cũng nghe rồi mà! Hỏi tui làm chi"" Một tên cán bộ hỏi: "Đứa mô nói"" - "Mấy đứa nhỏ!" Nguyễn Đăng Đề, công an xã, cật vấn: "Sao mi không chụp mấy con mụ la Cộng sản ác quá, Cộng sản ác quá"" Anh thợ trả lời: "Họ thì người khóc, người hét, người xỉu, khủng khiếp quá, tôi thấy tôi cũng sợ luôn, không làm sao mà chụp hình được cả!"
Còn mẹ cô Xuân vì thương nhớ con gái đã khóc đến độ mù cả hai mắt từ lâu. Chẳng biết việc tìm ra hài cốt có làm bà nguôi ngoai chút nào không" Hay phải đợi đến lúc những tội ác đối với dân lành bị đưa ra trước công lý"
Như thể trả thù việc lên tiếng tố cáo của giáo dân, chiều ngày 13-9-2002, ông Nguyễn Đình Lượng, hiệu trưởng trường Phú An 2 mời hai giáo dân đang phụ trách các Lớp học Tình thương miễn phí của giáo xứ là cô Hồ Thị Mai Hương và thầy Trần Đình đến họp. Các lớp này (đủ cấp I: 1-6) đã mở từ lâu, tại trường sở của giáo xứ, nhằm mục đích dạy văn hóa cho các thiếu nhi và thiếu niên nhà nghèo của giáo dân lẫn lương dân trong vùng. Thanh niên nam nữ mù chữ cũng được theo học. Sĩ số rất đông. Đây là một sự góp tay đỡ hộ đầy hữu hiệu cho chính sách giáo dục vốn ngày càng bệ rạc của nhà nước CS. Thời gian qua, trường Phú An coi các lớp tình thương này như cơ sở 2 và chấp thuận ký học bạ để sau cấp một, các em có thể tiếp tục học cấp hai trường nhà nước.
Nhưng nay thì cái chính quyền "của dân, do dân, vì dân", qua ông hiệu trưởng, đã thẳng thừng cấm các lớp tình thương miễn phí này tiếp tục. Cô Hương và thầy Đình năn nỉ đến gãy lưỡi cũng đành chịu. Ông Lượng còn nói: "Đúng ra chúng tôi dẹp năm ngoái, nhưng vì vụ bắt ông Lý nên chúng tôi tạm ngưng!" Rồi giở giọng chính trị, ông ta phán: "Dạy các cháu các em ra sao mà chúng cứ đi theo ông Lý rứa"". Cô Hương trả lời: "Chúng tôi quản lý các em tại lớp, còn về nhà là thuộc quyền cha mẹ. Chúng tôi làm sao quản lý các em bên ngoài trường được" Vả lại, các em bênh vực cha của mình bị bắt bớ xét xử bất công thì có chi nên tội"" Ông hiệu trưởng trung thành với đảng bất chấp lợi ích của nhân dân một mực giữ lập trường. Cô Hương cuối cùng đành nói: "Ông cho chúng tôi một tờ giấy bãi trường, cấm dạy để chúng tôi về trình với giáo xứ và thông báo với bà con". Ông Lượng không cho (kiểu thường thấy của cộng sản), mà chỉ nói: "Về trình miệng như vậy. Tin hay không, nghe hay không là quyền giáo xứ!".
Cách đây khá lâu, lớp mẫu giáo tình thương của giáo xứ An Truyền cũng đã bị Cộng sản làm khó dễ. Nhưng giáo xứ đã quyết tâm duy trì công cuộc bác ái này, bất chấp sự phá hoại của một chế độ chủ trương căm thù bạo lực đối với những ai không tôn vinh chế độ.
2. Giáo sư Nguyễn Chính Kết tố cáo Cộng sản xử án bất công
Giáo sư Nguyễn Chính Kết, nhà tranh đấu Công giáo nổi bật và năng động tại miền Nam vừa hoàn tất bài "Cảm tưởng về vụ án Linh mục Nguyễn Văn Lý" nhân kỷ niệm một năm cha bị một tòa án giả tạo, man rợ xét xử cách bất công (chúng tôi đăng bên dưới). Trước đây, ngày 01-11-2001, giáo sư cũng đã gởi một lá thư đến Hội Đồng GMVN về vụ xử án cha (Xin xem lại Bản tin ngày 09-01-2002). Cả hai văn bản đều toát lên một tấm lòng thiết tha yêu mến sự thật, can đảm đòi hỏi công lý và thẳng thắn nhắc nhở lương tâm hàng lãnh đạo tôn giáo lẫn chính trị. Có lẽ vì bài Cảm tưởng này cũng như vì Tâm Thư gửi Hội Đồng Giám mục VN (qua đường bưu điện) nhân Đại hội thường niên mới khai diễn hôm 07-10 mà giáo sư lại đã bị cắt điện thoại và được liên tục "hỏi thăm sức khỏe". Với lòng khâm phục, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài cảm tưởng ôn hòa nhưng thẳn thắn này (bản hoàn chỉnh). Xin tất cả mọi người tiếp tục cầu nguyện, ủng hộ và bênh vực cho vị chiến sĩ giáo dân can trường của chúng ta.
Lần tới, chúng tôi sẽ xin gởi tới Quý vị Thỉnh nguyện thư (thứ 3) của 2 linh mục Nguyễn Hữu Giải và Phan Văn Lợi trình lên Đại hội thường niên của Hội đồng Giám mục VN.
Phóng viên tường trình từ Huế
Cảm tưởng về vụ án Linh mục Nguyễn văn Lý
Với tư cách là một công dân của nước Việt Nam - một nước mà chính quyền luôn tự hào là tôn trọng nhân quyền thuộc hàng bậc nhất thế giới, thậm chí hơn các nước khác hàng triệu lần - tôi cảm thấy thật an tâm khi sử dụng cái nhân quyền ấy để phát biểu những gì mà lương tâm đòi buộc tôi phải nói về vụ án của linh mục Nguyễn văn Lý tại Huế cách đây một năm, tức ngày 19-10-2001. Nhân dịp kỷ niệm ngày cha Lý bị xử án được một năm, tôi xin phát biểu trung thực những gì tôi nghĩ trong lương tâm mình về vụ án này, để công lý được xét một cách khách quan và nhiều chiều hơn. Xét đi xét lại trước khi phát biểu bài này, tôi thấy việc phát biểu của tôi trên nguyên tắc là được luật nhân quyền quốc tế bảo vệ, và hoàn toàn không vi phạm hiến pháp hay luật pháp của đất nước mình.
Sự kiện mà ai cũng phải công nhận là: cha Lý là người đã từng công bố nhiều lần trên mạng lưới internet nhận xét của mình rằng: chính quyền Việt Nam đã vi phạm nhân quyền, trong đó có quyền tự do tôn giáo mà cha Lý cương quyết tranh đấu đòi hỏi cho bằng được, dù sống hay chết. Ngài có đưa ra những bằng chứng có thể kiểm chứng được cho những gì ngài tuyên bố.
Tôi nghĩ: trong một nước tôn trọng nhân quyền, thì việc nhận xét và đòi hỏi như thế không có gì là vi hiến hay vi phạm luật pháp cả. Một người khi bị đánh có quyền kêu đau và nói lên ý nghĩ của mình rằng bị đánh như thế là hợp lý hay bất công. Cũng vậy, cha Lý nhận thấy trong nước không có tự do tôn giáo một cách thỏa đáng, đó là nhận xét của ngài, ngài có quyền nói lên điều ấy, miễn là có đầy đủ bằng chứng. Nếu không có bằng chứng, chính quyền có quyền qui kết ngài tội vu khống chính quyền. Nếu có bằng chứng, thiết tưởng chính quyền nên xét lại xem điều người dân kêu ca có thật sự là đúng không. Nếu đúng thì chính quyền nên sửa sai cho dân nhờ. Thế là xong chuyện, có gì đâu mà rắc rối" Ai mà chẳng có lúc sai trái! Kẻ tự hào rằng mình không bao giờ sai trái là kẻ nói dối và tự dối mình! Còn nếu dân nói không đúng thì tìm cách thuyết phục họ trong tinh thần đối thoại công khai và thẳng thắn. Điều quan trọng là tìm ra sự thật đứng ở phía nào. Nếu chẳng chịu giải quyết vấn đề tận căn, cứ duy trì cái sai của mình, thì chẳng bao giờ hết tranh đấu! Chính Lê-nin, ông tổ của Cộng Sản có nói: "Ở đâu có bất công, ở đấy có đấu tranh". Nếu một đằng tìm cách tiêu diệt đấu tranh, một đằng lại duy trì nguyên nhân gây nên đấu tranh, thì thật là mâu thuẫn! Chỉ tội nghiệp cho người dân bị đau đớn quá mà không được kêu la!
Như tôi được biết, sau khi khởi sự cuộc tranh đấu vào tháng 11-2000, thì vào đầu tháng 1 năm 2001, cha Lý và Thượng Tọa Thích Thái Hòa được ông Chủ Tịch Ủy Hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ mời sang Hoa Kỳ để điều trần trước Quốc Hội Hoa Kỳ về thực trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam. Và vì hai người ấy không được chính quyền cho phép đi Hoa Kỳ, nên ông chủ tịch hội ấy đã yêu cầu hai vị viết một bản điều trần về tình trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam. Ngoài ra, ông còn hỏi ý kiến của hai vị được mời về những vấn đề sau đây:
- Quốc Hội Hoa Kỳ có nên phê chuẩn Hiệp ước Mậu dịch Song phương Mỹ-Việt không"
- Việc phê chuẩn hay không phê chuẩn ấy có ảnh hưởng gì trên các chính sách nhân quyền của Việt Nam không"
- Nó có thể có hiệu quả trên chính sách của chính phủ Việt Nam đối với tự do tôn giáo chăng"

Thiết tưởng theo luật Nhân Quyền, cha Lý hay bất cứ ai có quyền nói lên những gì mà lương tâm mình cho là sự thật, và trả lời những câu hỏi ấy theo lương tri của mình. Về Hiệp ước Mậu dịch Song phương Mỹ-Việt, cha Lý không phản đối việc phê chuẩn, trái lại còn mong ước việc phê chuẩn ấy được thực hiện vì lợi ích của quốc gia mình. Tuy nhiên, theo nhận định của cha Lý, nếu trong nước, những quyền căn bản của con người chưa được tôn trọng một cách thích đáng, thì việc phê chuẩn hiệp ước ấy chỉ có lợi chủ yếu cho một thiểu số nắm quyền mà thôi, còn đại đa số dân chúng sẽ không được hưởng lợi bao nhiêu. Như thế, sự chênh lệch và bất công giữa người giàu và người nghèo lại càng lớn thêm. Do đó, ý kiến của cha Lý là đề nghị Hoa Kỳ phê chuẩn hiệp ước với điều kiện là chính quyền Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền trước đã. Cha Lý không phản đối việc phê chuẩn, mà chỉ yêu cầu một sự phê chuẩn có điều kiện. Nếu cha Lý nhắm tới quyền lợi của đa số dân chúng, thì việc ngài yêu cầu phê chuẩn có điều kiện như thế phải nói là hợp lý và khôn ngoan!
Như vậy, nếu chính quyền thật sự tôn trọng nhân quyền thì những điều kiện ấy không gây bất kỳ một trở ngại hoặc thiệt hại gì cho chính quyền hay đất nước cả. Nếu với những điều kiện hợp lý ấy mà hiệp ước không được ký kết chỉ vì các điều kiện không được thỏa mãn, thì lỗi nằm về phía chính quyền chứ không phải nằm về phía cha Lý. Thật vậy, nếu trong nước đã có nhân quyền đầy đủ, thì chính quyền không có gì phải lo lắng về những điều kiện mà cha Lý đề nghị. Họ cứ việc cho các giám sát quốc tế tự do vào trong nước mà thẩm định bất cứ chỗ nào, bất cứ khía cạnh nào, vì "cây ngay không sợ chết đứng". Và nếu đã có nhân quyền đầy đủ, đương nhiên hiệp ước sẽ được ký kết với sự thỏa lòng của cả chính quyền lẫn toàn dân. Được như thế thì tốt đẹp biết bao!
Nếu chính quyền không dám cho quốc tế tự do giám sát, thì quốc tế có thể đặt một dấu hỏi rất lớn về tình trạng nhân quyền của Việt Nam: nếu đã có nhân quyền, tại sao lại phải ngăn trở người của quốc tế gặp người này hay người kia" tại sao lại cản trở, không cho phép họ tới chỗ này hay chỗ kia"
Tôi xin lấy chính kinh nghiệm bản thân tôi để ví dụ. Nếu tôi cảm thấy mình không làm điều gì sai trái hay phạm pháp, thì tôi chẳng sợ chính quyền tới điều tra hay khám xét nhà vào bất cứ lúc nào, vì có khám thì cũng chẳng thấy gì. Chỉ khi nào tôi phạm pháp mà muốn che giấu, thì tôi mới sợ điều ấy và tìm cách ngăn cản hết sức có thể.
Thật vậy, khi chính quyền đến khám xét nhà tôi vào tối ngày 5-4-2001 sau khi tôi lên tiếng cho tự do tôn giáo được hai tháng, thì thái độ của tôi là tích cực tạo mọi điều kiện dễ dàng để nhân viên đến khám xét thi hành tốt nhiệm vụ, mặc dù việc khám xét này là hết sức bất ngờ đối với tôi. Bất ngờ vì tôi nghĩ tôi chưa làm điều gì quá đáng đến mức chính quyền phải xét nhà cả. Các nhân viên công lực đến khám xét nhà tôi tối hôm đó có thể làm chứng về sự tích cực và thái độ bình thản không hề lo lắng của tôi trong việc tạo điều kiện dễ dàng cho họ thi hành nhiệm vụ. Thái độ tích cực và bình thản ấy chứng tỏ được sự vô tội của tôi. Nếu tôi tìm cách cản trở việc khám xét nhà hôm ấy, chắc chắn chính quyền có quyền nghi ngờ rằng tôi đang muốn che giấu một hành vi phạm pháp nào đấy, và sự nghi ngờ ấy rất hợp lý.
Quan điểm của cha Lý là coi trọng vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo hơn việc phát triển kinh tế. Đó là quan điểm của cha Lý mà mọi người phải tôn trọng, cũng như phải tôn trọng lập trường ngược lại nếu lập trường này có lý. Ngài có quyền nói lên lập trường của mình khi được hỏi ý kiến, và có quyền đề nghị để Quốc hội Hoa Kỳ theo lập trường của ngài. Quốc Hội Hoa Kỳ đâu có phải là trẻ con để cứ nhắm mắt thi hành điều ngài đề nghị mà không cứu xét gì cả. Nếu Quốc Hội thi hành đề nghị ấy, thì chủ yếu không phải vì đó là lời đề nghị của cha Lý, mà vì họ xét thấy đề nghị ấy là hợp lý hoặc phù hợp với quyền lợi của họ. Họ có thể xét đoán và hành động sai, nhưng đó là quyền và trách nhiệm của họ, không phải là trách nhiệm của cha Lý.
Chẳng hạn hiện nay tôi có quyền đề nghị với chính quyền thả tự do cho cha Lý hoặc giam giữ ngài lâu hơn nữa, với những lý do của tôi. Đó là quyền tự do phát biểu ý kiến của tôi. Còn chính quyền nghe hay không nghe theo tôi đó là quyền của chính quyền, và chính quyền sẽ chịu trách nhiệm về việc làm của mình chứ không phải tôi. Tôi không có quyền gì ép chính quyền phải theo ý tôi, nhưng chính quyền cũng không có quyền chính đáng buộc tôi phải đề nghị thế này hay thế kia, hoặc cấm tôi đề nghị.
Để tranh đấu, cha Lý đã dùng phương pháp ôn hòa, không bạo động, chỉ lên tiếng kêu gọi mọi người cùng đồng tình và cùng tranh đấu với mình. Tôi chưa hề nghe cha Lý bạo động với ai, hoặc hô hào ai bạo động. Ngài có quyền đề nghị đất nước đi theo một chiều hướng khác với chiều hướng đang theo. Nếu ngài phi lý thì sẽ chẳng ai hoặc rất ít người theo ngài, nếu ngài nói hợp lý mà nhiều người theo, chính quyền nên cứu xét, đặt lại vấn đề. Có gì đâu mà phải làm lớn chuyện. Điều cha Lý yêu cầu chủ yếu là tự do tôn giáo. Nếu thấy những đòi hỏi ấy là hợp lý, chính quyền chỉ việc thỏa mãn là xong chuyện: đa số các nước khác có tự do tôn giáo thì có hại cho ai đâu" Còn nếu thấy những đòi hỏi ấy là không hợp lý thì chính quyền cứ việc mở những cuộc thảo luận công khai để cùng nhau đối chất làm sáng tỏ vấn đề cho mọi người cùng thấy. Điều ấy đâu nằm ngoài khả năng của chính quyền!
Để tranh đấu, mọi người đều có quyền phổ biến lập trường của mình để nhận được sự đồng tình và ủng hộ của người khác. Tương tự như trong thời Pháp thuộc, bác Hồ đã phổ biến tư tưởng và lập trường tranh đấu của bác trên những tờ báo của bác. Tôi thấy bác Hồ còn tranh đấu mạnh hơn cha Lý một bậc là bác tranh đấu trong bạo động chứ không chỉ ôn hòa trên giấy bút, trên các phương tiện truyền thông.
Nếu tranh đấu mà cứ im lặng, không nói cho ai biết lập trường của mình, thì còn gì là tranh đấu nữa! Vì thế, nếu đã đồng ý cho người dân có quyền tranh đấu, thì không thể kết án cha Lý đã phát tán tài liệu của mình được. Chẳng lẽ phải xin phép chính quyền rồi chờ chính quyền cứu xét và cho phép thì mới được phát tán" Bác Hồ ngày xưa có xin chính quyền Pháp thuộc kiểm duyệt các bài báo của mình trước khi phổ biến đâu! Nếu bác xin phép chính quyền Pháp thuộc kiểm duyệt trước khi phổ biến, liệu có bao giờ họ cho phép không" Nếu có thì quả là chuyện lạ! Và bác có chờ chính quyền Pháp cho phép rồi mới đem phổ biến không" Làm như thế thì còn tranh đấu gì nữa! Vậy, vấn đề cần phải minh bạch là: chính quyền có cho phép người dân tranh đấu hay không" Đầu thế kỷ 20, ngay cả chế độ thực dân của người Anh cũng phải công nhận cho ông Mahatma Gandhi quyền tranh đấu bất bạo động, không hề bắt bớ hay cầm tù ông. Ngày nay, nhân loại đã bước sang thiên niên kỷ thứ 3 rồi, chẳng lẽ chính quyền ta lại cấm chính đồng bào của mình tranh đấu dù chỉ là bất bạo động sao" Chẳng lẽ chính quyền ta hiện nay đối xử với chính nhân dân mình lại còn thua cả bọn thực dân Anh đối xử với dân thuộc địa cách đây cả thế kỷ sao"
Theo Luật Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc mà nhà nước ta đã ký kết tôn trọng, thì bất cứ người dân nào cũng có quyền có một lập trường khác với lập trường của chính quyền, và có quyền quảng bá lập trường của mình, miễn không cố tình gây náo loạn hay mất an ninh trật tự trong nước. Chẳng những thế, hiến pháp và luật pháp của một nước dân chủ và tôn trọng nhân quyền còn luôn luôn tạo điều kiện cho người dân tranh đấu chống lại những bất công luôn phát sinh trong xã hội, dù bất công ấy do chính quyền, do một tổ chức hay do cá nhân gây ra. Đó là quyền biểu tình, đình công, v.v... Thiết tưởng những quyền này đều có ghi trong hiến pháp và luật pháp của nhà nước ta. Vấn đề là: những quyền được luật pháp công nhận ấy trong thực tế có được chính quyền tôn trọng hay không"
Nếu lên tiếng tranh đấu chống bất công, chống tham nhũng mà cũng phải xin phép thì làm sao chống được" Nếu kẻ trộm hay kẻ cướp đến mà cứ phải xin phép rồi mới được ra tay bắt trộm hay bắt cướp thì thật là phi lý! Chờ xin được phép thì trộm cướp đã cao bay xa chạy và có thời giờ để phi tang mọi sự rồi! Nhất là nếu kẻ có quyền cho phép tranh đấu chống bất công chống tham nhũng lại chính là kẻ tham nhũng, kẻ gây bất công thì họ ngu gì mà cho phép tranh đấu" Chẳng lẽ lúc đó kẻ chống bất công tham nhũng đành thụ động khoanh tay ngồi chờ hoài chờ mãi người ta cho phép sao" Nói như ông Trần Khuê, những kẻ tham nhũng khi tham nhũng có xin phép ai đâu" Nếu kẻ tham nhũng lại được tự do hơn kẻ chống tham nhũng - nghĩa là đang khi kẻ tham nhũng thì không xin phép, còn kẻ chống tham nhũng thì lại phải xin phép - thì sự kiện tham nhũng lan tràn khắp đất nước là chuyện tất yếu và dễ hiểu thôi. Thử hỏi người chủ trương rằng ai chống bất công và tham nhũng phải xin phép và phải chờ có phép mới được chống như thế, thì người ấy chủ trương như vậy là vì ai" Người ấy nhắm lợi ích cho ai, cho nhân dân hay cho tham nhũng"
Điều cha Lý kết án chưa có ai xử dùm ngài, thì chính cha Lý đã bị người mình kết án cho ngồi tù và đem ra xử rồi. Trong vụ án 19-10-2001, tôi nhận thấy:
- Người bị cha Lý kết án là vi phạm nhân quyền bây giờ lại kết án ngược lại chính ngài. Kẻ bị tố cáo giờ trở thành quan tòa, và người tố cáo trước đây giờ trở thành bị cáo. Làm sao quan tòa có thể xét xử một cách khách quan chính người đã kết án mình"
- Xử một người đã công khai lên tiếng tố cáo mình trước thế giới mà lại xử kín, thì chỉ làm cho người ngoài nghi ngờ tính khách quan và công bằng của mình thôi. Nhưng tại sao lại phải xử kín" Mình đường đường là chính quyền của cả một nước, nắm "chính quyền" trong tay, thì cứ theo cách "đường đường chính chính" đúng với tư cách của mình mà làm, cần gì phải xử kín, xử "chui", như thể mình là "tà quyền", hay "phụ quyền"" Tại sao thế" Tại sao lại không xử một cách công khai, có đối chứng, có tranh cãi để mọi người thấy được phải trái một cách khách quan, để họ "tâm phục khẩu phục"" Nhất là cần sự có mặt của quốc tế, vì bị cáo là người đã từng buộc tội chính quan tòa trước thế giới" Nếu xử kín thì vụ án ấy còn giá trị gì nữa" Ai tin được một vụ án xử kín như thế là có công lý"
- Xử một người nổi tiếng cả thế giới và được rất nhiều người trên thế giới bênh vực mà lại xử kín, trong đó chỉ có công tố viện độc quyền buộc tội, không có nhân chứng, không có luật sư bào chữa, bị cáo không có quyền bào chữa... Vụ án này phải chăng là một mô hình thu gọn phản ánh thực trạng một chiều và độc quyền của xã hội đã hình thành vụ án ấy" Phải chăng cứ nhìn vào vụ án ấy, người ta có thể thấy được thực chất của xã hội Việt Nam"
Hiện nay, tôi cũng như nhiều người trong nước và hải ngoại chỉ biết cha Lý bị kết án 15 năm tù vì hai tội danh:
1) phá hoại tình đoàn kết dân tộc (13 năm),
2) chống lại lệnh quản chế và lệnh cấm thi hành nhiệm vụ linh mục (2 năm).
Ngoài ra không biết là ngài đã phá hoại tình đoàn kết dân tộc ở chỗ nào. Còn việc ngài chống lại lệnh quản chế là vì ngài tuyên bố lệnh ấy căn cứ trên nghị định 31/CP là một nghị định mà ai cũng phải công nhận là vi hiến rõ ràng và ngài đang tranh đấu để bãi bỏ. Khi có sự mâu thuẫn giữa hiến pháp và nghị định, ngài phải tôn trọng hiến pháp hơn nghị định chứ! Còn việc ngài thi hành nhiệm vụ linh mục vì ngài nghĩ đó là quyền và là nhiệm vụ của ngài đã được Giáo Hội chính thức công nhận, chính quyền không thể cấm được nếu thật sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo. Vì không thấy được sự hợp lý của vụ án nên tôi - và chắc chắn nhiều người khác - không thể "tâm phục khẩu phục" được.
Tôi viết bài này chẳng phải để chống lại ai, mà chỉ là để nói lên cảm tưởng và ý kiến của mình hầu làm cho việc xét xử bớt tính chất một chiều đi, để nhờ đó công lý được sáng tỏ hơn. Tôi thiết tưởng đó chẳng những là điều nên làm, mà là điều lương tâm buộc phải làm nữa.
Sàigòn, ngày 2-10-2002
Nguyễn chính Kết
6/8A, đường Quang Trung,
Phường 12, Quận Gò Vấp, Tp HCM
(email: sntm_nck@yahoo.com)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.