Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
EagleBrand-Vietbao-1230x152-12042022-viet

Những Cơ Duyên Thành Tựu Đại Tạng Kinh Việt Ngữ

13/12/200200:00:00(Xem: 3885)
PHOTO: Một số kinh trong Đại Tạng Kinh Việt Ngữ đã in: bên trái là Bộ A Hàm (do Ban A Hàm dịch, TT Tuệ Sỹ chủ biên); bên phải là Phật Quang Đại Tự Điển (do HT Quảng Độ dịch).

LITTLE SAIGON -- Tác phẩm Tây Du Ký của Trung Quốc đã huyền thoại hóa về chuyến đi Ấn Độ thỉnh kinh của Ngài Tam Tạng Huyền Trang, với hỗ trợ của long thần hộ pháp giúp qua các đợt phá hoại của tà ma quỷ dữ. Và bây giờ, Phật Tử Việt Nam đang có cơ duyên đọc một pho truyện thỉnh kinh tương tự nhưng đầy sống động, đang tiếp diễn từng ngày một trên từng dòng chữ mỗi ngày của 108 vị sư uyên bác nhất Việt Nam: truyện Đông Du Ký với Ngài Tam Tạng Tịnh Hạnh, người qua bể Đông để du học ở Đài Loan, và về lại quê nhà để dịch Đại Tạng Kinh Việt Ngữ.
Chỉ cần nghe về số trang thôi cũng đủ để kính phục công trình này, một pháp lành mà 2,000 năm Phật Giáo VN bây giờ mới có thể làm nổi.
Hòa Thượng Tịnh Hạnh là ai" Và đã có các cơ duyên nào. Dưới đây là tổng hợp các chi tiết Hòa Thượng kể lại với Việt Báo, kết hợp với các thông tin của Linh Sơn Tự (Đài Loan).
Hòa Thượng năm nay 69 tuổi, sinh ngày 21-6-1934.
Hòa thượng Tịnh Hạnh thế phát, xuất gia, cầu đạo trong lúc 17 tuổi. Hòa Thượng nói rằng: "lúc đó tôi nhìn thấy cảnh người cậu họ qua đời, mà cảm nhận được sự vô thường". Ngài lại nói: "Đó chính là nhân duyên thành tựu của nhiều kiếp tu hành". Lúc đó là năm 1950, Ngài vào Phật Học Viện Ninh Thuận, cuối năm đậu thủ khoa.
Cũng cần ghi rằng, Ngài là cháu đích tôn của một dòng tộc lớn, là người sẽ thyừa hưởng gia sản có từ năm đời quyền thế.
Nhưng Ngài đã xuất gia, từ bỏ sản nghiệp của tổ tiên năm đời để lại, chỉ vì ý thức về tính vô thường của vạn pháp! Đối với con mắt của phàm tục thì sản nghiệp là cái hiện hữu chân thật cần phải nắm giữ; nhưng đối với Ngài, Phật pháp mới là chân thật. Chính vì tâm nguyện ấy, sau khi xuất gia, Hòa Thượng liền phát đại nguyện, đem toàn bộ Đại Tạng Kinh Trung văn dịch thành Việt văn, để lại cho người Việt Nam hôm nay và mãi mãi về sau, đều có thể dùng chính văn tự của mình đọc, tụng Kinh điển.
Năm 1952, Hòa Thượng nhập chúng ở chùa Ấn Quang (Sài Gòn). Hòa Thượng kể rằng lòng ham học đã thúc giục Ngài ra ngoài học thêm về thế học, đậu cử nhân.
Năm 1969, Ngài nhận được học bổng của hai chính phủ Việt Nam và Đài Loan và đã đến Đài Loan du học.
Năm 1980,Hòa Thượng đậu được bằng Tiến sĩ Văn học Triết học, của Viện Đại học Quốc lập Sư phạm Đài Loan. Lúc đầu Hòa Thượng đến Đài Loan, không có một Việt kiều nào giúp đỡ, cũng không có chùa nào cho dung thân, cuộc sống vô cùng đạm bạc; để tiết kiệm thời gian, Ngài đã hơn hai mươi năm ăn cơm gạo lức với muối mè mà qua năm tháng. Cảnh ngộ tuy không thuận tiện, nhưng ngược lại tâm của Ngài ngày càng thêm kiên định.
Cần nói thêm chi tiết này. Nhà báo Phan Tấn Hải, đại diện Việt Báo, đã phỏng vấn Hòa Thượng trong tiệm cơm chay Vạn Hạnh (Westminster, California) và kinh ngạc nhìn thấy, mặc dù bữa cơm cúng dường bày đầy bàn, nhưng Hòa Thượng chỉ ăn cơm gạo lức với mè đen lúc naò cũng đem theo bên người. Và hạnh khó làm này - ăn gạo lức với muối mè -- đã từ hơn hai thập niên rồi.
Một năm sau khi đậu bằng Tiến sĩ Văn học Triết học, Ngài vào quốc tịch Đài Loan, và hạ quyết tâm phục hưng Phật giáo xứ này. Ngài đem toàn tâm toàn lực của mình, góp phần và cống hiến cho mục tiêu lịch sử ấy. Đài Loan đã trở thành quê hương thứ hai của Ngài. Sau đó Ngài kiến lập giảng đường Linh sơn, mở lớp cao học Phật học và đã bỏ ra 9 năm nghiên cứu "kế hoạch phục hưng Phật giáo Trung Quốc", vun trồng và kết hợp tất cả những thiện duyên trên mảnh đất Đài Loan. Đó là chiếc cầu Chánh pháp.
Đặc biệt, năm 2000, Hòa Thượng là vị tăng sĩ đầu tiên trúng tuyển để vào làm giaó sư chính thức Đại Học Quốc Lập Trung Hưng Đài Loan.
Hòa Thượng đến Đài Loan hoằng pháp đã tròn 20 năm, nhưng mà từ tận cỏi lòng sâu kín, Ngài chưa bao giờ quên Quê hương Việt Nam, cũng như không bao giờ quên xứ mạng của mình, đem Đại Tạnh Kinh Trung văn dịch thành Việt văn.

Nhưng phiên dịch Kinh điển là một việc lớn, trong lịch sử các nước, đều do Chính phủ hoặc Vua chúa bảo trợ, mới có thể tụ tập được đầy đủ nhân lực và tài lực. Sự phiên dịch Đại Tạnh Kinh Trung Quốc, trong lịch sử cũng trãi qua 2000 năm mới hoàn thành. Hòa Thượng biết rõ, dịch Đại Tạnh Kinh Trung văn thành Việt văn phải có nhân duyên hòa hợp, phải đủ điều kiện chủ quan và khách quan, mới có thể hy vọng dễ hoàn thành.
Sự nghiệp dịch Đại Tạnh Kinh, liên quan mật thiết đến sự học hỏi nghiên cứu Phật pháp của mọi người, nên không thể không thận trọng, từng câu từng chữ không thể sai được. Do đó, người chủ trì sự nghiệp phiên dịch Đại Tạnh Kinh, cần phải có đầy đủ các điều kiện sau:
1. Phải thông thạo Trung văn và Việt văn;
2. Phải quán thông dung hội Phật pháp;
3. Phải có đức hạnh cao siêu.
Người chủ trì dịch Kinh phải thông thạo Trung văn và Việt văn, mới có thể xuất nhập vô ngại mà không sai Phật pháp; cần phải quán thông dung hội Phật pháp mới có thể phân biệt chính xác, tiến hành phiên dịch có hệ thống; cần phải có đức hạnh cao siêu, mới có thể cảm động lòng người mà hoàn thành sự nghiệp lớn.
Năm 1981, Chính quyền Việt Nam dùng chính sách mở rộng bang giao, khiến cho việc dịch Đại Tạnh Kinh của Ngài lóe ra tia sáng hy vọng. Hòa Thượng biết rõ, thời gian trôi qua rất nhanh, không thể lãng phí thời giờ, ngồi chờ cho đủ nhân duyên, mà phải tích cực sáng tạo nhân duyên. Bước đầu là sáng tạo cơ sở phiên dịch.
Do đó, vào năm 1994, Hòa Thượng trở về Việt Nam, sau 25 năm cách biệt, dùng số tiền lương dạy ở Đại học và một số ít của tín đồ cúng dường từ lâu, tự mình đơn độc phát động sự nghiệp ngàn năm một thuở này. Hòa Thượng đã được sự hưởng ứng của các vị Đại đức, Cao tăng Bắc, Trung, Nam Việt Nam, và huấn luyện được hàng trăm nhân viên dịch. Hiện Hội đồng phiên dịch đã được hàng ngàn bộ Kinh, Luật, Luận.


Phiên dịch Kinh Phật có thể không nhờ sự ủng hộ của Quốc gia, nhưng không thể không có sự giúp đỡ của tín chúng. Giúp đỡ cho việc phiên dịch và xuất bản Đại Tạnh Kinh, có thể khiến cho vô lượng chúng sanh, nhân đó mà thấm nhuần Phật pháp, khai phát được tuệ quang Bát nhã của mình. Đây chính là sự bố thí được Phước Huệ vẹn toàn. Đem Đại Tạnh Kinh Trung văn dịch thành Việt văn, giống như khai thác được nguồn nước không bao giờ khô cạn, không chỉ để cho gần tám mươi triệu người Việt hiện nay, mà cũng để cho vạn vạn ức người Việt Nam về sau đều có thể thấm nhuần Phật pháp.
Vào khoảng 2000 năm trước, đã có không ít những Tăng sĩ nước ngoài đến Trung Quốc thực hiện việc phiên dịch Đại Tạng Kinh như: Ngài Cưu ma la thập, Ngài An thế cao, Ngài Đàm vô sấm, Ngài Thật xoa nan đà v.v..., để cho người Trung Quốc, những người ở trong căn nhà đen tối được thắp lên ngọn đèn sáng. Hôm nay, chúng ta cũng có thể tham gia vào chí nguyện của Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh, để thắp lên ngọn đèn Chánh pháp cho chúng sanh.
Mỗi một bộ Kinh Phật được phiên dịch, đều là một giai đoạn lịch sử cảm động lòng người; lịch sử trong quá khứ xa xưa, chúng ta cũng có lẽ không có nhân duyên tham dự, nhưng lịch sử của tương lai, chúng ta lại không thể vắng mặt nữa. Đây chính là để cho chúng ta cùng với Hòa Thượng dốc toàn tâm lực tạo thành.
Cũng may mà có những cơ duyên lành, để cho chúng ta thấy phước lực của Hòa Thượng.
Thí dụ. Khi còn là tăng sinh du học ở Đài Loan, nghèo thê thảm, Hòa Thượng bèn treo bảng hiệu, mở lớp dạy Thiền, coi như vừa hoằng pháp mà cũng vừa tạo cơ duyên xứ người. Vậy mà chỉ có lác đác vài người học.
Sau đó, thấy lòng chúng sinh, nên đành tùy thuận, Hòa Thượng treo bảng hiệu mới, mở lớp dạy Khí Công, mượn phương tiện thiện xảo để làm việc. Bất ngờ, ngay trong tháng đầu tiên, có khoảng 100 người ghi tên xin học Khí Công. Thế là tiền cúng dường đến với Ngài, đếm không xuể.
Chưa hết. Một thời gian sau, có một bà cụ tìm tới, nói là các bác sĩ tuyên bố bà bệnh ung thư hết thuốc chữa, cần lo hậu sự là vừa. Tình cờ, có một người mách rằng có một ông sư Việt Nam chuyên nghề chữa bệnh ung thư, nên bà mới tìm tới. Hòa Thượng ngạc nhiên, nhưng cũng dùng Phật Pháp ra chú nguyện, mượn phương tiện để bệnh nhân hướng về Phật Cảnh. Không ngờ, bà cụ Đài Bắc này hết bệnh. Thế là Phật Tử Đài Loan rủ nhau tìm tới Hòa Thượng, nhiều người cũng nhờ chữa bệnh. Mới biết là Phật Pháp vô biên. Và thế là nhờ tiền lương và tiền cúng dường của Phật Tử Đài Loan, Hòa Thượng Tịnh Hạnh đã lo được các bước đầu của công trình Đại Tạng Kinh Việt Ngữ.
Công trình được chia làm các thời kỳ: (1) Dịch sơ bộ, (2) Chứng Nghĩa, (3) Biên Tập, (4) Tổng Biên Tập, (5) đưa về vị Tổng Giám Tu duyệt xét.
Tổng Giám Tu công trình là Hòa Thượng Tịnhhạnh.
Tổng Biên Tập công trình là Thượng Tọa Tuệ Sỹ.
Ban Chứng Nghĩa và Biên Tập gồm vài chục vị học giả.
Và Ban Dịch Sơ Bộ là các chuyên gia dịch Kinh.
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh...; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao Tăng học giả Đông, Tây cận đại và hiện đại: tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày một ngàn trang khổ 17 x 24 cm.
Chỉ nói sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh ( vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả lỗi lạc của Nhật Bổn là Cao Nam Thuận Thứ Lang ( Junjiro Takakusu) và Độ Biên Hải Húc (Watanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
Dưới đây là lời kêu gọi của Hòa Thượng Tịnh Hạnh với Phật Tử VN:
“Chúng tôi chân thành ưu cầu Quý liệt vị:
1. Mỗi đạo tràng ít nhất thỉnh một bộ hay phụ trách vận động phát hành nhiều bộ nữa, trả hết một lần càng hay, nếu không thì hàng tháng trả góp cũng được, để chúng tôi đủ điều kiện in tiếp những tập sau.
2. Cố gắng ấn tống trọn bộ gởi về đạo tràng ở quê hương do Quý vị chỉ định hay để chúng tôi chọn, như thư viện Quốc gia, Phật học viện, Viện nghiên cứu Phật học v.v...
3. Những bộ Kinh đó được dịch và hiệu đính rất công phu, loại giấy kỳ này in là một trong những loại giấy tốt nhất thế giới, có thể giữ gìn được mấy trăm năm. Nhứng bộ Kinh từ tập 1 trở lên vào khoảng 70 trước, trong số 220 tập của Đại Tạng Kinh, là những bộ Kinh rất cần thiết cho mỗi Phật tử. Xin Quý vị khuyến khích họ nên thỉnh để cúng dường Pháp bảo và học tập; cũng để làm tủ Kinh gia bảo lưu lại cho con cháu nhiều đời sau.
4. Xin Quý vị khuyến khích nhiều Phật tử, mỗi người ấn tống một bộ hay mấy người cùng chung ấn tống một bộ Đại Tạng Kinh trả góp hàng tháng để chúng tôi gởi tặng những nơi đang cần thiết ở Việt Nam.“
Cần thêm chi tiết, xin mời vào trang web:
http://www.linhson.org.tw/
Hòa Thượng sẽ còn lưu ngụ ở Quận Cam tới ngày 24-12-2002. Phật tử có thể liên lạc thẳng ở số cell phone: (281) 236-4498.
Cách gửi tiền cúng dường Đại Tạng Kinh có thể làm như sau: Quý Phật Tử nào muốn cúng dường và có giấy miễn thuế (tax exempt) thì hãy gửi check hay money order về Chùa Phổ Đà, xin ghi:
Phổ Đà Assembly
5110 W. Hazard Ave.
Santa Ana, CA 92703 - USA
Telephone: (714) 554-9785; Fax (714) 554-3852.
Trong phần MEMO, xin ghi rõ: Dịch & In Đại Tạng Kinh.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
(Tin VOA) - Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) vào ngày 13/9 ra thông cáo lên án Việt Nam tiếp tục lạm dụng hệ thống tư pháp để áp đặt những án tù nặng nề với mục tiêu loại trừ mọi tiếng nói chỉ trích của giới ký giả. Trường hợp nhà báo tự do mới nhất bị kết án là ông Lê Anh Hùng với bản án năm năm tù. RSF bày tỏ nỗi kinh sợ về bản án đưa ra trong một phiên tòa thầm lặng xét xử ông Lê Anh Hùng hồi ngày 30 tháng 8 vừa qua. Ông này bị kết án với cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’ theo Điều 331 Bộ Luật Hình sự Việt Nam
Từ đầu tuần đến nay, cuộc tấn công thần tốc của Ukraine ở phía đông bắc đã khiến quân Nga phải rút lui trong hỗn loạn và mở rộng chiến trường thêm hàng trăm dặm, lấy lại một phần lãnh thổ khu vực đông bắc Kharkiv, quân đội Ukraine giờ đây đã có được vị thế để thực hiện tấn công vào Donbas, lãnh phổ phía đông gồm các vùng công nghiệp mà tổng thống Nga Putin coi là trọng tâm trong cuộc chiến của mình.
Tuần qua, Nước Mỹ chính thức đưa giới tính thứ ba vào thẻ thông hành. Công dân Hoa Kỳ giờ đây có thể chọn đánh dấu giới tính trên sổ thông hành là M (nam), F (nữ) hay X (giới tính khác).
Sau hành động phản đối quả cảm của cô trên truyền hình Nga, nữ phóng viên (nhà báo) Marina Ovsyannikova đã kêu gọi đồng hương của cô hãy đứng lên chống lại cuộc xâm lược Ukraine. Ovsyannikova cho biết trong một cuộc phỏng vấn với "kênh truyền hình Mỹ ABC" hôm Chủ nhật: “Đây là những thời điểm rất đen tối và rất khó khăn và bất kỳ ai có lập trường công dân và muốn lập trường đó được lắng nghe cần phải nói lên tiếng nói của họ”.
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cử hành Ngày Quốc tế Nhân Quyền Lần Thứ 73 và Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam lần thứ 20.
Sau hơn 30 năm Liên bang Xô Viết sụp đổ, nhân dân Nga và khối các nước Đông Âu đã được hưởng những chế độ dân chủ, tự do. Ngược lại, bằng chính sách cai trị độc tài và độc đảng, Đảng CSVN đã dùng bạo lực và súng đạn của Quân đội và Công an để bao vây dân chủ và đàn áp tự do ở Việt Nam. Trích dẫn chính những phát biểu của giới lãnh đạo Việt Nam, tác giả Phạm Trần đưa ra những nhận định rất bi quan về tương lai đất nước, mà hiểm họa lớn nhất có lẽ là càng ngày càng nằm gọn trong tay Trung quốc. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Tác giả Bảo Giang ghi nhận: “Giai đoạn trước di cư. Nơi nào có dăm ba cái Cờ Đỏ phất phơ là y như có sự chết rình rập." Tại sao vậy? Để có câu trả lời, mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của nhà văn Tưởng Năng Tiến.
Người cộng sản là những “kịch sĩ” rất “tài”, nhưng những “tài năng kịch nghệ” đó lại vô phúc nhận những “vai kịch” vụng về từ những “đạo diễn chính trị” yếu kém. – Nguyễn Ngọc Già (RFA).. Mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của phó thường dân/ nhà văn Tưởng Năng Tiến để nhìn thấy thêm chân diện của người cộng sản.
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.