Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Dân Chủ, Nhân Quyền Trong Chính Sách Ngọai Giao Hoa Kỳ

30/08/200300:00:00(Xem: 4447)
Cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ trong những tháng vừa qua có nhiều nổ lực để vận động cho Dự luật H.R. 1950. Dự Luật này nhằm sáp nhập Dự Luật Nhân Quyền cho Việt Nam vào Dự Luật Ngoại Viện 2003. Dư luật Nhân Quyền cho Việt Nam trở thành Phần D của Dự Luật Ngoại Viện, gọi là Viện Trợ cho Việt Nam. Trong phiên họp ngày hôm 16 tháng 7, 03 Dự Luật Ngoại Viện 2003 đã được Hạ Viện thông qua với 382 phiếu thuận và 42 phiếu chống. Có 10 Dân Biểu không bỏ phiếu.
Câu hỏi được đặt ra - và bài viết này hy vọng đóng góp được phần nào vào câu trả lời - là tại sao chính sách ngọai giao của Hoa Kỳ lại được lồng trong các quan niệm về dân chủ và nhân quyền" Chúng ta sinh sống tại Mỹ nên xem đây là một vấn đề rất tự nhiên như là một khuynh hướng của thời đại. Tuy nhiên khi nhìn lại lịch sử thì bang giao giữa các quốc gia thông thường dựa trên các nguyên tắc khác: hoặc là bành trướng hay duy trì thế lực (thực dân, đế quốc, hay nói nôm na là nước lớn hiếp nước bé) hoặc là trên căn bản tương quan lực lượng (các nước nhỏ liên kết để kềm chế nước lớn, hay các nước ngang nhau duy trì một tình trạng cân bằng thế lực để không một quốc gia nào vượt trội lên và đe dọa các lân bang). Chính sách dùng ngọai giao để phát huy dân chủ chỉ mới bắt đầu vào đầu thế kỷ thứ 20 sau Thế Chiến Thứ Nhất, và ngọai giao để bảo vệ nhân quyền từ thời tổng thống Jimmy Carter năm 1979. Cả hai quan diểm này đã gặp nhiều chống đối. Các chính quyền độc tài và cộng sản phản đối vì chính sách này đe dọa vào sự sinh tồn của họ. Các quốc gia đang mở mang lên án điều mà họ xem là can thiệp vào nội bộ quốc gia. Nhiều nước cho rằng đây chỉ là chiêu bài để Hoa Kỳ bành trướng thế lực. Thế lực Hồi Giáo truyền thống (fundamentalist) phủ nhận cả hai quan niệm dân chủ và nhân quyền của Tây Phương và thay vào đó họ muốn xây dựng một chính quyền trên nguyên tắc Hồi Giáo. Và sau cùng nhiều nhà trí thức và các cơ quan quốc tế cũng lên án rằng chính Hoa Kỳ đã vi phạm nhân quyền, yểm trợ cho các chính quyền độc tài, và là nước duy nhất cho đến nay đã dùng vũ khí nguyên tử để tàn sát và tiêu hủy hai thành phố Hiroshima và Nagasaki thì Hoa Kỳ không thể là một tiếng nói đại diện cho dân chủ và nhân quyền. Điểm mà bài viết này muốn mang lại là chính sách ngọai giao của Hoa Kỳ cũng bất nhất giữa hai khuynh hương thực tiển (pragmatic và geopolitics) và lý tưởng (idealistic), và đã bắt nguồn từ trong hoàn cảnh lịch sử và địa dư ngay từ thời lập quốc.
Chúng ta có thể phân biệt đường lối ngọai giao của Mỹ quốc qua 4 giai đoạn. Trong những năm đầu thể hiện qua quan điểm của vị tổng thống thứ nhất George Washington, rằng Hoa Kỳ là Tân Thế Giới vừa mới dành độc lập từ sự bảo hộ của Anh Quốc, Hoa Kỳ không can thiệp vào các tranh chấp tại Cựu Thế Giới hay trên tòan cầu mà chỉ chú trọng vào việc bành trướng quốc gia. Nổ lực chính là qua việc khai phá các vùng đất miền Tây, và hai hiệp ước đáng kể nhất trong thời kỳ này với Âu Châu là thỏa hiệp mua vùng miền Đông Nam (Louisiana Purchase) của Pháp (và sau này vùng Alaska của Nga).
Một thời gian sau khi quốc gia tân lập trưởng thành và lớn mạnh thì một đường lối ngọai giao mới cũng xuất hiện qua chủ thuyết "Châu Mỹ của người Mỹ" của tổng thống đời thứ 5 James Monroe (nhiệm kỳ 1817-1825). Hoa Kỳ lúc này chẳng những không can thiệp vào các tranh chấp nội bộ nơi Cựu Thế Giới mà còn xem tòan bộ Mỹ Châu là vùng ảnh hưỡng của mình và tích cực ngăn cản các nước Âu Châu bành trướng thế lực vào Trung và Nam Mỹ.
Đến đầu thế kỷ thứ 20 Hoa Kỳ trở nên một quốc gia trẻ trung, hùng mạnh và được thế giới ngày càng chú ý. Các khía cạnh kinh tế như giao thông, kỹ thuật, khả năng sản xuất và mậu dịch phát triển vô cùng nhanh chóng, các mối liên hệ với thế giới bên ngòai ngày càng thắt chặt nên Hoa Kỳ không còn giữ được chính sách cô lập của thế kỷ thứ 19. Năm 1904-1905 xảy ra trận chiến giữa Nga và Nhật tranh giành ảnh hưởng tại vùng bán đão Triều Tiên với kết quả là hạm đội Nga Hòang bị hải quân Nhật tiêu diệt. Cũng trong khỏang thời gian này tại Âu Châu bắt đầu sôi sụt những tranh chấp dẫn đến Thế Chiến Thứ Nhất (1914-1919). Hai sự kiện quan trọng nói trên đã ảnh hưởng đến các khuynh hướng ngọai giao của Hoa Kỳ cho đến ngày nay. Vị tổng thống thứ 26 là Theodore Roosevelt (nhiệm kỳ 1901-1909), ông là người đầu tiên chủ trương rằng Hoa Kỳ phải tham dự để giải quyết các tranh chấp trên thế giới. Ông cũng là vị tổng thống đầu tiên đặt chính sách ngọai giao của Hoa Kỳ dựa trên căn bản về tương quan lực lượng (geopolitics) để bảo vệ quyền lợi của Hoa Kỳ. Về địa dư nền an ninh của Hoa Kỳ được bảo vệ bởi hai đại dương: về phía Đông tổng thống Roosevelt chủ trương ủng hộ Anh và Pháp vì hai nước này có nhiều liên hệ về lịch sử, xã hội và kinh tế và đã chia xẻ Đại Tây Dương với Hoa Kỳ hơn 100 năm mà không có tranh chấp; trái lại Đức và Phổ là cường quốc trong lục địa Âu Châu, nếu thắng Anh và Pháp thì sớm muộn sẽ bành trướng sang Đại Tây Dương và là một mối đe dọa cho Hoa Kỳ và Mỹ Châu trong tương lai. Phía Tây ông hậu thuẩn cho Nhật thắng Nga vì theo nhận định của ông thì Nga lúc nào cũng là một đế quốc đe dọa lớn cho sự ổn định của Á Châu và vùng Thái Bình Dương nên cần bị ngăn chận; tuy vậy khi đứng ra giải hòa sau chiến tranh Nga Nhật thì ông cũng không để Nhật có được nhiều ưu thế sau thắng lợi về quân sự vì ông muốn duy trì một tình trạng cân bằng để hai nước tiếp tục kềm chế lẫn nhau.
Vị tổng thống thứ 27 Woodrow Wilson (1913-1921) là một nhà trí thức, ông tham gia chính trị tương đối trễ và việc ông đắc cử cũng là một ngẫu nhiên của lịch sử khi đảng Cộng Hòa bị phân hóa không thể chọn lựa giữa hai ứng cử viên chính là Roosevelt và Taft. Dù vậy ông đã để lại một di sản ảnh hưởng đến chính sách của Hoa Kỳ cho đến ngày hôm nay mà các nhà ngọai giao thường gọi là trường phái Wilsonian. Khác biệt với cái nhìn thực tiễn về geopolitics của Theodore Roosevelt, tổng thống Woodrow Wilson chủ trương rằng chính sách của Hoa Kỳ phải nhằm can thiệp và phát huy ngọn cờ dân chủ trên tòan thế giới, vì chỉ giữa các chính quyền dân chủ mới có một nền hòa bình và thịnh vượng lâu dài (quan điểm này được chứng minh tại các quốc gia Tây Âu được hòa bình và thịnh vượng sau khi chuyển sang chế độ dân chủ từ sau Thế Chiến Thứ Hai). Ông dẫn Hoa Kỳ tham dự Thế Chiến Thứ Nhất không vì cái nhìn về cán cân lực lượng như dưới thời Theodore Roosevelt, mà theo ông thì nền quân phiệt tại Đức là một mối đe dọa cho nền dân chủ tại Tây Âu và tòan cầu. Ông khởi xướng việc thành hình Hội Quốc Liên nơi đó cộng đồng các quốc gia gặp gỡ và giải quyết các tranh chấp trên nền tảng yêu chuộng hòa bình. Hội Quốc Liên không thành công, sau đó Thế Chiến Thứ Hai diễn ra còn khốc liệt hơn bao giờ hết, nhưng di sản của tổng thống Woodrow Wilson vẫn tồn tại qua việc thành hình Liên Hiệp Quốc, qua ngọn cờ dân chủ mà Hoa Kỳ là tiêu biểu trong thời gian chiến tranh lạnh chống nền độc tài cộng sản, và ngay cả trong hai lần chiến tranh vùng vịnh năm 1991 và 2003 khi Hoa Kỳ tấn công vào Iraq dưới chiêu bài phát huy dân chủ.

Hai quan điểm ngọai giao khác biệt dựa trên thực tiển (pragmatic và geopolitics) và lý tưởng (idealistic hay Wilsonian) của hai vị tổng thống Theodore Roosevelt và Woodrow Wilson đã ảnh hưởng đến các nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ trong suốt 100 năm sau. Các vị tổng thống tiêu biểu cho khuynh hướng geopolitics là Franklin Roosevelt khi ông liên minh với nước Nga dưới thời Stalin để đánh bại Đức Quốc Xả của Adolph Hitler, và Richard Nixon khi ông thay đổi bộ mặt thế giới bằng chuyến công du sang Trung Cộng để cân bằng thế lực với Liên Bang Xô Viết. Vị tổng thống theo khuynh hướng lý tưởng là Jimmy Carter đã thêm nhân quyền làm một nhân tố cho chính sách ngọai giao, và một phần nào đó, nơi tổng thống Ronald Reagan khi ông gọi Đế Quốc Xô Viết là "the evil empire" đối nghịch với vùng đất ánh sáng "shining city on a hill" của Hoa Kỳ vốn là ngọn đuốc dân chủ cho tòan thế giới. Các nhà ngọai giao như Henry Kissinger phân tích thế giới qua tương quan của quyền lực, hay bà Madeleine Albright theo khuynh hướng lý tưởng khi bà nhận định rằng Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất có cái nhìn xa, rộng và khả năng thay đổi tòan cầu. Hay trường hợp của hai vị Tổng Giám Đốc cơ quan tình báo CIA, ông Richard Helms với chủ trương vận dụng mọi phương tiện để bảo vệ quyền lợi nước Mỹ, và ông William Colby đã vạch trần các kế họach bất hợp pháp và ngay cả vô nhân đạo của cơ quan CIA do chính mình lãnh đạo.
Trường phái ngọai giao dựa trên cán cân thế lực bắt nguồn từ khỏang 400 năm trước tại Âu Châu khi 4 quốc gia Anh, Pháp, Đức và Nga có sức mạnh tương đương và lúc nào cũng muốn ngăn ngừa việc khống chế lẫn nhau. Trái lại trong lịch sử Đông Á thì chính sách ngọai giao truyền thống của Trung Hoa là một đế quốc với một chủ trương duy nhất là bành trướng lãnh thổ khi sức mạnh cho phép, mà không phải thỏa hiệp với một thế lực ngọai bang nào khác - Trung Hoa vốn tự xem họ là trung tâm của thế giới nên không cần thiết phải quân bình với ai. Quan điểm về tương quan lực lượng chỉ được áp dụng trong nội tình Trung Hoa mà tiêu biểu qua thời kỳ Chiến Quốc với hai chính sách "Hợp Tung" và "Liên Hoành" của Tô Tần và Trương Nghi (6 nước nhỏ phải liên kết để chống Tấn hay phải thần phục nhà Tần); và dưới thời Tam Quốc với chiến lược của Khổng Minh là tạo thế "chân vạc" giữa Thục (Lưu Bị), Ngô (Tôn Quyền) và Ngụy (Tào Tháo). Còn đối với lân bang thì Trung Hoa chỉ có chính sách bành trướng; địa lý của Trung Hoa chỉ bị giới hạn về phương Bắc vì vùng đất giá lạnh của Tây Bá Lợi Á, phía Tây vì rặng Hy Mã Lạp Sơn hiểm trở, phía Đông vì Thái Bình Dương ngăn cách, và phía Nam vì dân tộc Việt Nam kiên cường.
Chính sách ngọai giao của Hoa Kỳ bị dằn co giữa các trường phái thực tiễn (pragmatic & geopolitics), lý tưởng (idealistic hay Wilsonian) và cô lập, đôi khi trở nên bất nhất sanh ra nhiều bối rối cho các đồng minh và mang lại cơ hội cho địch thủ tấn công. Trong thời gian sau Thế Chiến Thứ Hai Hoa Kỳ là nước hùng mạnh về quân sự và kinh tế, Hoa Kỳ đã dùng thế lực của mình để xây dựng thành công nền dân chủ vững mạnh tại Âu Châu (qua kết họach Marshall) và Nhật Bản. Nhưng bù lại cũng vì nhu cầu của chiến tranh lạnh nên Hoa Kỳ lại ủng hộ nhiều chính quyền độc tài quân phiệt tại các nước chậm tiến, và trong nhiều trường hợp đã lật đổ các nhà lãnh đạo yêu nước để thay thế vào bằng những thành phần thân Mỹ. Hoa Kỳ còn bị lôi cuốn vào các cuộc chiến tranh tại các quốc gia mà họ hòan tòan không hiểu biết về xả hội, văn hóa v.v... như tại Việt Nam, Phi Châu, Ả Rập (đến nổi một vị nguyên thủ của Hoa Kỳ còn không biết đến tên của vị Tổng Thống Kurbekistan, nhưng có lẻ đến 99.99999% dân chúng Mỹ cũng không biết ông này là ai!) nên đường lối ngọai giao bị phê bình là thiếu khôn ngoan, thiếu tế nhị. Người Hoa Kỳ có thói quen tìm một giải pháp cho mọi vấn đề như một bài toán khoa học nhưng có những vấn đề nhân văn như cuộc chiến giữa Do Thái & Ả Rập tranh chấp suốt từ mấy ngàn năm nay mà không có giải pháp, nên bị chê trách là thiếu thận trọng, nóng nãy. Hoa Kỳ tuy hùng mạnh nhưng khả năng cũng có hạn nên có trường hợp họ giải quyết các tranh chấp tại Nam Tư (Yugoslavia) mà lại nhập nhằng không muốn bị lôi kéo vào Liberia (Phi Châu) nên bị phê bình là phân biệt, kỳ thị. Dù bị những khuyết điểm như vậy nhưng thế lực của Hoa Kỳ rất mạnh, một quyết định dù nông nổi hay sáng suốt cũng có thể làm khuynh đão một xã hội nên bị cả thế giới ganh tỵ và chê trách.
Ngọn cờ dân chủ và nhân quyền phải đi kèm với các thế lực về quân sự hay kinh tế mới có giá trị. Hoa Kỳ có khả năng để ưu đãi hay trừng phạt các quốc gia vi phạm nhân quyền hay các chính quyền độc tài thì các quyết định của Tổng Thống hay Quốc Hội mới được quan tâm. Đến cuối thế kỷ thứ 20, bên cạnh Tây Âu và Nhật Bản thì Trung Hoa và các con rồng Á Châu đã trở nên hùng mạnh, trong khi vai vế độc tôn về kinh tế của Hoa Kỳ dần suy thoái. Nhiều nước đã thẳng thắn phê bình rằng các chính sách về dân chủ và nhân quyền của Hoa Kỳ đã vi phạm vào một nguyên tắc khác trong mối bang giao quốc tế là quyền dân tộc tự quyết. Vị tổng thống thuộc khuynh hướng thực tiễn Richard Nixon đã nhận định việc Hoa Kỳ can thiệp vào các vi phạm nhân quyền tại Trung Cộng sẽ trở nên vô ích vào đầu thế kỷ thứ 21, và sẽ thành nông nổi và điên rồ ở giữa thế kỷ thứ 21 vì khi đó Trung Cộng đã quá hùng mạnh và sẽ không chấp nhận để ai can thiệp vào nội bộ của mình - tương tự như trường hợp Hoa Kỳ đã đe dọa cắt các ngân khỏang tài trợ cho các cơ quan quốc tế khi bị chỉ trích về các chính sách ngọai giao hay các vi phạm nhân quyền.
Liên Hiệp Quốc được thành hình trên nguyên tắc giảI quyết các tranh chấp dựa trên một số căn bản được các quốc gia thỏa thuận. Trong thời gian còn chiến tranh lạnh Hoa Kỳ và Tây Âu dễ thỏa hiệp trước một mối đe dọa chung là khối Xô Viết; đến khi đế quốc Nga tan rã thì Âu Châu, các nước Đông Á, Trung Hoa, v.v... lại có chung một căn bản mới là ngăn ngừa sự thống trị của Hoa Kỳ nên chính sách của người Mỹ trong thế kỷ thứ 21 ngày càng đơn phương như trong trường hợp tấn công Iraq.
Trong trường hợp khối Ả Rập thì đã một lần trong thế kỷ thứ 20 họ đã chối bỏ hệ thống xã hội truyền thống để chấp nhận canh tân hóa, kỹ thuật hóa và Tây Phương hóa. Kết quả là họ không có được dân chủ hay phồn thịnh mà chỉ mang lại các nhà cầm quyền độc tài, bệnh họan và một xả hội trì trệ, bất công. Một số khuynh hướng Hồi Giáo bảo thủ ngày nay lại phủ nhận các quan niệm dân chủ, tự do và nhân quyền du nhập từ Tây Phương với lời kêu gọi xây dựng một thế giới Hồi Giáo dựa trên nền tảng của kinh Koran. Điều này cho thấy là quan niệm dân chủ, nhân quyền (và một nền tảng khác là sự phân biệt giữa chính quyền và tôn giáo) không phải là phổ thông và được chấp nhận trên tòan thế giới, và chắc chắn là không thể bị áp đặt bằng các sức mạnh dù là kinh tế, chính trị hay quân sự.
Nhưng ngọai trừ với số Hồi Giáo nói trên, đến thế kỷ thứ 20 dân chủ và nhân quyền đã trở nên mẫu mực được đa số nhân lọai công nhận. Ngay cả các chính quyền cộng sản như Trung Cộng, Việt Nam, hay các nhà độc tài như Nogiera, Hussein nằm trọn quyền sanh sát trong tay mà cũng phải dựng nên các cuộc bầu cử với kết quả là 99.9% số phiếu ủng hộ để chứng minh rằng xả hội của họ có dân chủ. Các trò giả tạo này, trên phương diện cai trị quốc gia chẳng những không lừa gạt được ai mà còn bị coi như trò cười tốn kém, nhưng lại cho thấy các nhà độc tài dù không thực thi dân chủ và nhân quyền nhưng họ cũng chấp nhận đây là các quan niệm đúng và lợi dụng vào đó để phủ một bức màn chính thống (legitimacy) lên chế độ của họ. Các tiếng nói dân chủ và nhân quyền của Thượng Tọa Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, và của thành phần trẻ như Ký Giả Lê Chí Quang, Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn, v.v... có thể chưa đủ thế và lực để lật đổ chế độ cộng sản ngày hôm nay, nhưng sự can đảm của họ là đốt lên những ngọn lửa trong màn đêm bao phủ, và người Việt hải ngọai có điều kiện để vận động quốc tế và chính quyền Hoa Kỳ để các tiếng nói này không bị dập tắt.
Đòan Văn Tân
tandoan@juno.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.