Lực Lượng Đặc Nhiệm Úc 1962-1967

01/01/200000:00:00(Xem: 5932)
Năm 1965, đáp ứng lời kêu gọi của Tổng thống Hoa Kỳ Johnson về kế hoạch yểm trợ quân đội VNCH bảo vệ lãnh thổ, ngăn chận làn sóng xâm nhập của quân CSBV, các nước Đại Hàn, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân đã gửi quân sang Việt Nam. Ngoài trừ Phi Luật Tân gửi một lữ đoàn Dân sự vụ mà vị tư lệnh là chuẩn tướng Ramos (trở thành Tổng thống Phi Luật Tân vào năm 1992, mãn nhiệm kỳ năm 1998), các quốc gia còn lại đã gửi những binh đoàn chiến đấu tinh nhuệ tham chiến. Đến mùa hè 1967, Thái Lan cũng đã hưởng ứng qua việc cử một trung đoàn chí nguyện quân đầu tiên có danh hiệu là trung đoàn Mãng Xà Vương. Trong số các quốc gia nói trên, thì Úc Đại Lợi đã yểm trợ cho Quân đội VNCH ngay từ 1962.

* Quân đội Úc trên chiến trường Việt Nam, những sự yểm trợ ban đầu:
Vào tháng 7 của năm 1962, một phân bộ cố Vấn Úc gồm 30 sĩ quan và hạ sĩ quan được bộ Quốc phòng Úc cử đến Việt Nam, nhiệm vụ của phân bộ này là phối hợp với các toán cố vấn Hoa Kỳ tham gia việc huấn luyện tại các trung tâm huấn luyện ở Vùng 1 chiến thuật. Vài năm sau, phân bộ cố vấn Úc tăng lên 100 người, đến năm 1970 lên đến 222 quân nhân đủ cấp bậc. Các cố vấn Úc hoạt động chung với một số đơn vị bộ chiến, Lực lượng Đặc biệt của Quân lực VNCH. Những cố vấn này không những giúp đỡ các sĩ quan VNCH tại một số quân trường trong các chương trình huấn luyện binh sĩ, nhất là môn chiến thuật tác chiến trong rừng, mà luôn cả việc phối hợp chiến đấu trong các cuộc hành quân.

Về không quân, Không lực Hoàng gia Úc cũng đã góp sức lần đầu tiên cho lực lượng Đồng Minh vào tháng 5/1964 với 3 vận tải cơ Caribou để chuyển vận binh sĩ hoặc quân lương, quân dụng tiếp tế. Những Caribou này đang thực hiện một phi vụ vận tải từ Canada trên đường trở về Úc Đại Lợi. Khi họ đến phi trường ở Butterworth, Mã Lai thì nhận được lệnh bay thẳng ra Vũng Tàu. Đến cuối tháng 8/1964, Không lực Úc điều động thêm 3 Caribou sang Việt Nam, để hình thành một phi đoàn được đặt tên là phi đoàn 35. Các phi cơ của phi đoàn này đã bay nhiều phi vụ đến các nơi hẻo lánh, vận chuyển thường dân, quân nhân trong khu vực bị áp lực nặng của CQ. Ngoài ra phi đoàn còn thực hiện nhiều phi vụ chở quân trên các phi trình giữa Sài Gòn, Núi Đất và Vũng Tàu.

* Quân đội Úc tham chiến trong đội hình của Lực lượng Đồng Minh:
Tháng 5/1965, đáp ứng lời kêu gọi của Hoa Kỳ, chính phúc Úc quyết định tăng thêm quân viện cho VNCH, đơn vị đầu tiên là tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn Hoàng gia Úc với các thành phần yểm trợ được gửi sang Việt Nam. Tiếp đó đến tháng 9/1965, có thêm một thành phần Pháo binh, Thiết quân vận, Công binh và phi cơ nhẹ tăng cường cho lực lượng Úc tại Việt Nam, tổng cộng có 1300 quân nhân Úc, tất cả đồn trú tại Biên Hòa. Trong thời gian đầu, lực lượng này được phối trí hoạt động trong đội hình của lữ đoàn 173 Nhảy Dù Hoa Kỳ, còn bộ chỉ huy quân đội Úc Đại Lợi tại Việt Nam (HQ AAFV) thì đặt tại Sài Gòn, các toán cố vấn huấn luyện vẫn tiếp tục làm việc với các toán cố vấn Hoa Kỳ. Sau đơn vị nói trên, các binh đoàn sau đây đã được điều động sang Việt Nam:

-Lực lượng đặc nhiệm:
Tháng 6/1966, tiểu đoàn 1 Úc chấm dứt nhiệm kỳ hoạt động tại Việt Nam, lên đường trở về Úc. Thay thế đơn vị này là một lực lượng đặc nhiệm Úc với quân số đông hơn với nhiều đơn vị bộ chiến và yểm trợ. Lực lượng tại VN được tăng cường một số đơn vị Hải quân và Không quân Hoàng Gia ÚC. Theo sự tổ chức mới, hai đơn vị Lục quân Úc tham chiến tại Việt Nam được gọi là Đệ Nhất Lực lượng đặc nhiệm (First Autralian Task Force) và Đệ Nhất Liên đoàn Yểm trợ Tiếp vận (First Australian Logistic Support Group).

Các đơn vị cơ hữu và là thành phần chính của Đệ Nhất Lực lượng đặc nhiệm là các tiểu đoàn 5, tiểu đoàn 6/Trung đoàn Hoàng Gia Úc, phi đoàn 3 Không vụ Đặc biệt. Về Pháo binh có một trung đoàn với 3 tiểu đoàn, trong đó có một tiểu đoàn Pháo binh Tân Tây Lan tăng cường. Vùng hoạt động của lực lượng đặc nhiệm là tỉnh Phước Tuy, bộ chỉ huy lực lượng đóng trong rừng cao su ở Núi Đất phía Bắc Bà Rịa.

Phi đoàn số 9 Không lực Hoàng Gia Úc là một phi đoàn trực thăng Iroquois, phi đoàn này được điều động sang tham chiến tại Việt Nam từ tháng Sáu 1966, với nhiệm vụ chính là yểm trợ cho các hoạt động của lực lượng đặc nhiệm. Trong suốt thời gian có mặt tại Việt Nam, các phi đội thuộc phi đoàn đã yểm trợ hầu hết các cuộc hành quân có lực lượng Úc tham dự. Trong năm 1967, phi đoàn số 9 đã sử dụng trực thăng võ trang Gunships để yểm trợ trực tiếp cho các đơn vị bộ chiến và hộ tống trực thăng chở quân hoặc tải thương ở tiền tuyến. Cũng cần ghi nhận rằng, trước khi phi đoàn này đến Việt Nam, từ năm 1965, Không lực Úc cũng đã điều động các phi đoàn vận tải Hercules trong căn cứ ở Úc thường xuyên yểm trợ cho các cuộc hành quân của lực lượng Úc tại Việt Nam. Các phi cơ vận tải đường dài của hai phi đoàn này được sử dụng để chở quân và các kiện quân dụng, tiếp liệu, ngoài ra còn chở thương binh về Úc điều trị.

Tháng 4/1967, Một phi đoàn sử dụng loại phi cơ thả bom với 2 động cơ phản lực Canberra thuộc phi đoàn 2 được gửi sang Việt Nam. Phi đoàn đóng trong phi trường Phan Rang. Nhiệm vụ của phi đoàn là thực hiện các vụ oanh kích vào các vị trí được ghi nhận là có CQ tập trung và một số mục tiêu khác từ Cà Mâu ra đến Khu Phi Quân Sự ở phía Nam Vĩ tuyến 17. Theo tình hình của chiến trường, phi đoàn còn thực hiện một số phi vụ ném bom khác trong vùng hoạt động của Quân đội Úc trong tỉnh Phước Tuy. Ngoài các nhiệm vụ nói trên, phi đoàn còn được giao trách nhiệm lo các phi vụ yểm trợ căn cứ. Các phi vụ này bắt đầu từ tháng 7/1966 để giúp cho đoàn trực thăng số 9 hoàn thành các phi vụ trực thăng vận, tải thương quân nhân ở các căn cứ.

-Phi đoàn kiểm báo:
Năm 1967, Không lực Úc điều động phi đoàn Kiểm báo sang Việt Nam. Các phi công của phi đoàn này điều khiển máy bay thám thính loại nhẹ để quan sát bao vùng nhằm cung cấp thông tin cho các đơn vị đang hành quân trên bộ, xác định vị trí địch và gọi hỏa lực yểm trợ của Không quân và Pháo binh. Hai phi công của phi đoàn này đã được ân thưởng huy chương DSO (huy chương danh dự của Úc), nhiều quân nhân khác được thưởng huy chương DFC.

-Hải quân Úc:
Từ tháng 3/1967, Pháo hạm HMAS Hobart của Hải quân Hoàng Gia Úc đã sang vùng biển Việt Nam, tham chiến bên cạnh Đệ Thất Hạm đội Hoa Kỳ, để hoạt động trong vùng biển Nam-Hải và vịnh Bắc Việt. pháo hạm này cũng mở các trận hải pháo dọc theo bờ biển, phá hoại các trục tiếp vận và căn cứ của CQ. Ngoài ra, pháo hạm còn tham dự chiến dịch Rồng Biển (Sea Dragon), phá hoại những tàu bè của địch quân chở đồ tiếp liệu ngoài khơi Bắc Việt. Trong nhiều trường hợp, tàu này đã pháo chiến với các đơn vị pháo binh CSBV gần vùng biển ở miền Bắc.

Tháng 9/1967, pháo hạm HMAS Berth được điều động đến thay thế Hobart, sau đó cứ hai pháo hạm luân phiên nhau mỗi đợt 6 tháng để hoạt động tại vùng biển Việt Nam. Sự luân phiên này được thực hiện cho đến năm 1969 khi hai pháo hạm HMAS Brisbane và Vendetta lãnh trách nhiệm thay thế. Pháo hạm Hobart trở lại vùng biển VN vào năm 1970 cho đợt thứ ba, còn pháo hạm Vendetta là chiến hạm đóng ở Úc đầu tiên tham chiến. Trong các đợt hoạt động tại Việt Nam, hai pháo hạm Hobart và Perth được thưởng huy chương Hải quân Hoa Kỳ. Chiến hạm cuối cùng rời chiến trường Việt Nam là pháo hạm HMAS Brisbane.

Song song với các hoạt động của các pháo hạm, từ tháng 2/1967, Hải quân Hoàng Gia Úc cũng đã gửi một toán người nhái tăng phái cho lực lượng Hải quân Hoa Kỳ để hoạt động tại miền Nam Việt Nam. Toán người nhái này được giao thực hiện các công tác như tháo gỡ, phá hũy và những nhiệm vụ lặn dưới nước. Toán đầu tiên đã được Bộ Hải quân Hoa Kỳ ân thưởng huy chương.

Tháng 11/1967, sự đóng góp của Hải quân Úc cho lực lượng Đồng minh chiến đấu tại Việt Nam đã gia tăng, với một biệt đội trực thăng của Hải quân gồm 8 phi công, 4 sĩ quan quan sát, 4 nhân viên phi hành và 30 quân nhân làm việc dưới đất. Biệt đội này được tăng phái cho đại đội 135 Không yểm Hoa Kỳ, đây là đại đội cho các đơn vị Đồng minh trong đó có chiến đoàn đặc nhiệm Úc. Ngoài ra còn có 8 phi công trực thăng của Hải quân biệt phái cho phi đoàn 9 của Không quân Úc tại Vũng Tàu.

Ngoài các sự yểm trợ nói trên, trong suốt thời gian lực lượng Quân đội Úc tham chiến tại Việt Nam, vận tải hạm HMAS Sudney đã thực hiện nhiều chuyến chở quân sĩ, quân dụng đến Việt Nam để thay thế các đơn vị Úc mãn hạn phục vụ và chở các đơn vị của Úc về nước. (Biên soạn dựa theo hồi ký của đại tướng Westmoreland và tài liệu của tạp chí KBC).

Kỳ sau: Lực lượng đặc nhiệm Úc trên chiến trường miền Đông Nam phần 1967-1970.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
(Tin VOA) - Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) vào ngày 13/9 ra thông cáo lên án Việt Nam tiếp tục lạm dụng hệ thống tư pháp để áp đặt những án tù nặng nề với mục tiêu loại trừ mọi tiếng nói chỉ trích của giới ký giả. Trường hợp nhà báo tự do mới nhất bị kết án là ông Lê Anh Hùng với bản án năm năm tù. RSF bày tỏ nỗi kinh sợ về bản án đưa ra trong một phiên tòa thầm lặng xét xử ông Lê Anh Hùng hồi ngày 30 tháng 8 vừa qua. Ông này bị kết án với cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’ theo Điều 331 Bộ Luật Hình sự Việt Nam
Từ đầu tuần đến nay, cuộc tấn công thần tốc của Ukraine ở phía đông bắc đã khiến quân Nga phải rút lui trong hỗn loạn và mở rộng chiến trường thêm hàng trăm dặm, lấy lại một phần lãnh thổ khu vực đông bắc Kharkiv, quân đội Ukraine giờ đây đã có được vị thế để thực hiện tấn công vào Donbas, lãnh phổ phía đông gồm các vùng công nghiệp mà tổng thống Nga Putin coi là trọng tâm trong cuộc chiến của mình.
Tuần qua, Nước Mỹ chính thức đưa giới tính thứ ba vào thẻ thông hành. Công dân Hoa Kỳ giờ đây có thể chọn đánh dấu giới tính trên sổ thông hành là M (nam), F (nữ) hay X (giới tính khác).
Sau hành động phản đối quả cảm của cô trên truyền hình Nga, nữ phóng viên (nhà báo) Marina Ovsyannikova đã kêu gọi đồng hương của cô hãy đứng lên chống lại cuộc xâm lược Ukraine. Ovsyannikova cho biết trong một cuộc phỏng vấn với "kênh truyền hình Mỹ ABC" hôm Chủ nhật: “Đây là những thời điểm rất đen tối và rất khó khăn và bất kỳ ai có lập trường công dân và muốn lập trường đó được lắng nghe cần phải nói lên tiếng nói của họ”.
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cử hành Ngày Quốc tế Nhân Quyền Lần Thứ 73 và Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam lần thứ 20.
Sau hơn 30 năm Liên bang Xô Viết sụp đổ, nhân dân Nga và khối các nước Đông Âu đã được hưởng những chế độ dân chủ, tự do. Ngược lại, bằng chính sách cai trị độc tài và độc đảng, Đảng CSVN đã dùng bạo lực và súng đạn của Quân đội và Công an để bao vây dân chủ và đàn áp tự do ở Việt Nam. Trích dẫn chính những phát biểu của giới lãnh đạo Việt Nam, tác giả Phạm Trần đưa ra những nhận định rất bi quan về tương lai đất nước, mà hiểm họa lớn nhất có lẽ là càng ngày càng nằm gọn trong tay Trung quốc. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Tác giả Bảo Giang ghi nhận: “Giai đoạn trước di cư. Nơi nào có dăm ba cái Cờ Đỏ phất phơ là y như có sự chết rình rập." Tại sao vậy? Để có câu trả lời, mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của nhà văn Tưởng Năng Tiến.
Người cộng sản là những “kịch sĩ” rất “tài”, nhưng những “tài năng kịch nghệ” đó lại vô phúc nhận những “vai kịch” vụng về từ những “đạo diễn chính trị” yếu kém. – Nguyễn Ngọc Già (RFA).. Mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của phó thường dân/ nhà văn Tưởng Năng Tiến để nhìn thấy thêm chân diện của người cộng sản.
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.