Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Cho Giao Lưu Văn Hóa 2 Chiều Theo Định Hướng Xhcn

15/02/200300:00:00(Xem: 5111)
LTS. Bài dưới đây do Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích viết, nhan đề “Về Đôi Ba Nét Nổi Bật Trong Khảo-Luận Và Nghiên Cứu Việt-Nam Hải-Ngoại Gần Đây,” và do hãng tin VNN lưu hành, nhận xét về hiện tượng nhà nước CSVN đang lặng lẽ cho giao lưu văn hóa, vừa phục vụ nhu cầu thị trường xuất bản trong nước, vừa cắt xén tùy tiện theo định hướng XHCN. Cuộc giao lưu văn hóa này đã được ghi như sau.
VỀ ĐÔI BA NÉT NỔI BẬT TRONG KHẢO-LUẬN VÀ NGHIÊN CỨU VIỆT-NAM HẢI-NGOẠI GẦN ĐÂY
Nguyễn Ngọc Bích
Đã gần nửa thập-kỷ nay, chúng tôi không còn có dịp làm những bài tổng-kết văn-học hàng năm nhắm vào một cái nhìn tổng-quan nữa. Lý-do công việc (bù đầu) cũng có song lý-do chính-yếu có lẽ là sinh-hoạt văn-học hải-ngoại ngày càng đa dạng, tản mát, rất khó nắm bắt, chưa kể nó đang đi qua một giai-đoạn cạnh tranh gay go với sách ở trong nước tràn ra hải-ngoại, với người ở ngoài này về thăm quê hương ngày càng đông, sách hải-ngoại không còn là nguồn sách đọc độc-nhất mà họ có thể mua được.
Giao-lưu khập khiễng
Trong một nghĩa nào đó thì như vậy có thể nói là ta đang có một tình-trạng lành mạnh, với sách vở trong và ngoài nước cạnh tranh rất ráo riết bên nhau. Chính tình-trạng cạnh tranh này đã đưa đến hiện-tượng là không thiếu tác-giả ở hải-ngoại giờ đây lại in được sách mình ở trong nước nhờ sách in ở trong nước có rẻ (và đôi khi đẹp) hơn, nhờ chế-độ kiểm duyệt cũng có nới hơn xưa (nhất là đối với loại sách vô thưởng vô phạt kiểu thơ tình, chẳng hạn), nhờ nghề in trong nước bây giờ cũng phải theo cơ-chế thị-trường (phải câu tác-giả để mình còn có việc làm) v.v. Thành thử dù như chính-quyền ở trong nước chưa có chính-sách giao-lưu đứng đắn, trong thực-tế đã có hiện-tượng giao-lưu đến một độ nào đó. Ta có thể nêu ra một số tác-giả tiêu-biểu: Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến, Đặng Tiến, Thụy Khuê, Hoàng Xuân Hãn, Tạ Trọng Hiệp, Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Thân Thị Trọng Quế v.v. Trong các ngành khoa-học thì Hà-nội dễ dàng hơn một chút trong việc trao đổi: tỷ như cuốn Đánh thức con rồng ngủ quên của Phạm Đỗ Chí và Trần Nam Bình chủ-biên, viết về kinh tế thì dù như có những đoạn chỉ-trích chính-sách của Nhà nước một cách khá thẳng thắn vẫn được in ra và phổ-biến ở trong nước, nằm trong một chương-trình trao đổi trong ngoài (VAPEC).
Song thật ra sự giao-lưu còn khập khiễng. Trong Thương-ước Song-phương Mỹ-Việt, chính Hà-nội phải yêu-cầu là Hoa-kỳ cho hoãn áp-dụng việc trao đổi văn-hóa-phẩm trong một thời-hạn là 10 năm. Như vậy thì ai có mặc-cảm thua sút, chúng ta cũng trông thấy rõ. Đó là chưa kể chính-sách của Hà-nội không phải là lúc nào cũng thuần nhất và minh bạch: Nếu quyển Đánh thức con rồng ngủ quên được Nhà xb TP-HCM in ra năm 2002 thì quyển sách của Phạm Văn Thuyết viết về nhu-cầu đổi mới luật lệ để khuyến khích đầu tư, lúc đầu được Nhà xb Chính trị quốc gia (tức Nhà xb Sự Thật cũ của Đảng CS) nhận in, sắp chữ xong hết rồi cuối cùng bị từ chối vào phút chót. Ngay những tác-giả có sách in ở trong nước nêu ra ở trên kia vẫn có những đầu sách không được in lại ở trong nước: Nguyễn Mộng Giác được in Sông Côn mùa lũ viết về Nguyễn Huệ và nhà Tây-sơn thì Mùa biển động (viết về thời sau Đệ nhất Cộng-hòa cho đến 75 và sau nữa) vẫn còn là cấm kỵ. Khi trong nước in lại những bài phỏng vấn cụ Hoàng Xuân Hãn do Thụy Khuê thực-hiện (trong bộ sách đồ sộ mấy nghìn trang La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, bán khá đắt) thì dù như họ có xin phép chị Thụy Khuê và có được dặn dò kỹ lưỡng là không được cắt xén, họ vẫn dùng dao kéo một cách phũ phàng tới độ chị Thụy Khuê phải cho in lại ở ngoài này (Nhà xb Văn Nghệ) với những đoạn ở trong nước cắt xén được gạch dưới rõ ràng. Song Hoàng Xuân Hãn còn bị cắt ít chứ như Vương Hồng Sển (trong hồi-ký Hơn nửa đời hư) hay Nguyễn Hiến Lê (cũng trong hồi-ký của mình) thì bị cắt vô tội vạ đến độ cuốn trên chỉ còn chừng 2/3 mà thôi. Thành ra có người hỏi tôi, Có nên mua không" Tôi phải nói, Mua thì cứ mua vì giá tiền khá rẻ nhưng cần biết, muốn đầy đủ thì vẫn phải mua những ấn-bản in ngoài này, có thể mắc hơn chút nhưng không bị ăn gian.
Mấy hướng đi nổi bật những năm gần đây
Nêu ra những điều trên, tôi không nhằm nói lên cái hợm hĩnh, vô lối của những nhà tiếng là làm văn-hóa ở trong nước. Điều này nếu tôi không nói ra thì người khác cũng biết, chỉ có cái tính người mình, quá dễ chấp nhận phương-châm "dĩ hòa vi quý" nên không ít người sẽ "ngậm miệng" dù biết thừa... Thôi thì tôi đành chịu tiếng xấu vậy!
Sở dĩ tôi phải nêu ra mấy đặc-điểm đó là vì chúng biểu-trưng cho hai xã-hội, hai môi-trường văn-hóa trong và ngoài nước, quyết-định không ít sự phát triển văn-học ở hai miền. Vì ở ngoài này chúng ta phải đọ vai sát cánh hàng ngày với những tư tưởng tiến-bộ của loài người nên trong sách vở hải-ngoại, hầu như không có biên-giới để be bờ cái hiểu biết của chúng ta. Chúng ta hoàn-toàn tự do trong sự tìm kiếm của chúng ta, chúng ta cũng hoàn-toàn tự do trong các đề-tài chúng ta muốn đề cập đến. Hiển-nhiên, trong sự tự do này đôi khi cũng có cái quá lố nhưng chính cái quá lố đó là một hệ-quả tự-nhiên của tự do. (Cá-nhân chúng tôi, chẳng hạn, hiện đang rất bực bõ chuyện một ngày nhận được cả mấy trăm cái e-mail rác rưởi, nhất là loại "phe mình đánh phe ta" một cách rất chí tình và đôi khi dùng những ngôn từ thuộc hàng hạ-cấp nhất trong tiếng Việt, nhưng bảo chúng tôi đứng ra dẹp thì chúng tôi sẽ không làm. Trước hết là không có cách, sau nữa chúng tôi xem đây là một loại cơn sốt ấu trĩ, những người mới tìm ra "trò chơi Internet" nên hăng say, hồ hởi, miệt mài lắm. Mai này khi họ thấy chính "tay mình bắn chân mình" thì sẽ tức-khắc tỉnh ngộ ngay, và chỉ có loại bài học đó thì mới bền được.)
Nhờ tự do mà ngoài này không có đề-tài cấm kỵ, ta-bu. Có thể nói, cái gì ở trong nước cấm thì ngoài này người ta lại phây phây được làm và còn thích thú làm nữa là khác. Thành thử tuy không có dụng-ý mà ở hải-ngoại vẫn được như độc-quyền về một số đề-tài như sau:
1.- Đề-tài biên-giới và lãnh-hải
Hà-nội (hay đúng hơn là Đảng CSVN) đã ký với Bắc-kinh hai hiệp-định: về biên-giới (ngày 30-12-1999) và lãnh-hải trong vịnh Bắc-Việt (25-12-2000), cái đầu đã được Quốc-hội bù nhìn ở Hà-nội "thông qua" vào tháng 7 năm 2001, cái sau thì chưa được phê-chuẩn (còn cái mà Bắc-kinh đề nghị hai bên ký về quyền đánh cá trong vịnh Bắc-bộ thì chưa cả ký) nhờ sự đấu tranh và phản-đối kiên cường của các thành-phần dân-chủ ở trong nước, với sự tiếp tay của đồng-bào hải-ngoại. Những hiệp-định quan trọng đến như vậy, ảnh-hưởng trực-tiếp đến sự tồn vong của nước Việt Nam trong tương-lai, vậy mà ở trong nước lệnh ra là "im thin thít" không được nói gì đến chúng cả.
(Ở trong nước, khi cuốn sách nổi tiếng của Đào Duy Anh, cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời, được in lại gần đây thì nhà xuất bản cẩn thận cắt bỏ đi chương nói về biên-giới Việt-Trung trong lịch-sử.)
May thay, ở hải-ngoại Nhà nước Hà-nội đã không với tay tới được để áp đặt chính-sách kỳ quái kia! Do thế mà ở hải-ngoại hầu hết những người quan tâm đến vấn-đề đều thả dàn đi vào nghiên cứu các vấn-đề liên-hệ như "Ải Nam-quan trong lịch-sử," Thác Bản Giốc, những vụ tranh chấp biên-giới giữa Việt Nam và Trung-hoa, các hiệp-định Pháp-Thanh vào những năm 1885 và 1887 (Hiệp-ước Thiên-tân)... Không những các sử-gia tham-gia vào công việc này như G.S. Nguyễn Thế Anh ở Pháp, G.S. Phạm Cao Dương ở Mỹ, sử-gia Trần Gia Phụng ở Canada; một vị chuyên về chính-trị-học như G.S. Nguyễn Văn Canh ở San Jose, một luật-gia như L.S. Nguyễn Hữu Thống cũng ở Bắc-Cali, một kỹ-sư như ông Nguyễn Đình Sài ở bang Oregon hay ông Trương Nhân Tuấn ở Pháp, một cựu-sĩ-quan hải-quân như ông Vũ Hữu San ở San Jose, một luật-sư trẻ như L.S. Trịnh Quốc Thiện ở Virginia, không ai là không có quyền nhảy vào nghiên cứu tường tận, đến nơi đến chốn các vấn-đề liên-hệ, với không ít người đã in thành sách. Cuốn của Trịnh Quốc Thiện, Những biến cố mất lãnh thổ lãnh hải Việt Nam từ năm 939 đến 2002, đặc-biệt đáng khen vì tác-giả tuy rất trẻ mà vẫn viết nên một cuốn sách có giá trị khoa-học khá vững vàng (359 trang).
2.- Đề-tài tù tội trong chế-độ CS
Trong nhiều năm, không! trong suốt thời-đại CS ở Việt Nam, trên sách vở nhà tù chỉ có dưới thời phong kiến, Pháp-thuộc hay ở miền Nam (nhà tù "Mỹ ngụy") mà thôi; nếu ta tin vào chữ nghĩa thì "thiên đường CS" miền Bắc không có nhà tù. (Nói đến đây tôi mới thấm thía câu của Mạnh-tử: "Tận tín thư bất như vô thư," Tin mù quáng vào sách thì thà không có sách còn hơn.) Nếu trong thời còn chiến-tranh, ở miền Nam cũng còn có được 1-2 cuốn như Trại Đầm Đùn của Trần Văn Thái nói về nhà tù CS thời kháng-chiến chống Pháp, sau 75 đề-tài này, nhờ kinh-nghiệm "học tập cải tạo," đã có lúc trở thành một trong những dòng chính trong văn-học hải-ngoại.
Đã có một lúc tưởng dòng văn-học này bắt đầu đi vào cạn kiệt thì có hai yếu-tố mới xảy ra: một là chương-trình H.O. (cuối thập niên 80, đầu thập niên sau) đón các cựu-tù-nhân chính-trị của miền Nam bị giam hãm nhiều năm trong các trại gọi là "học tập cải tạo" của CS, hai là những nạn-nhân của vụ án "xét lại chống Đảng" ở ngoài Bắc bắt đầu lên tiếng. Tuy vẫn là nói về tù song hai mảng văn-học này khác nhau. Những cựu-sĩ-quan hay còn gọi là "ngụy quân, ngụy quyền" (chữ CS dùng cho đến thời Nguyễn Văn Linh) lên đường vào tù mà lòng khá thanh thản, ít nhất trong những ngày đầu: "Mình đánh họ, mình thua, đây là cái giá phải trả!" họ tự nhủ. Họ chỉ bắt đầu phẫn uất từ khi khám phá ra là đã bị đánh lừa (bảo chỉ cần lo một tháng lương thực song một tháng kéo dài ra ba năm, lệnh ba năm lại có thể nhân lên vô-hạn-định), rằng "10 bài học tập cải tạo" là một thứ giáo-dục u mê nên không lạ là sau 12 năm, tướng Có khi đó còn ở trong trại Nam-hà dám khẳng-định với các nhà báo Tây-phương được đưa vào thăm trại: "Trong 12 năm học tập, tôi chưa thấy một ai đổi ý để thành người CS cả!" Người Tây-phương gọi loại chính-sách này là một "sự thực-thi cái vô ích" ("an exercise in futility")! Chưa kể đến những đau thương tang tóc kèm theo đó, sự phí phạm vô bờ bến và kềm hãm phát triển của đất nước vì hầu hết những thành-phần ưu tú của một miền đã được đưa vào ngồi bóc lịch ở trong tù, và cuối cùng là sự đẻ ra hận thù ngay trong lòng dân-tộc.
Mảng văn-học tù kia thì nhỏ hơn nhiều dù như sự đau khổ của những người trong cuộc có lẽ không thua gì cái đau khổ, tang thương của những gia-đình trong Nam mà có người đi "học tập cải tạo." Lấy trường-hợp cô giáo Lan, vợ tướng Đặng Kim Giang, chẳng hạn: Đi lặn lội trong mưa rừng về đêm để thăm nuôi chồng, trượt té ngất đi, may mà gặp người tử tế giúp đỡ, thế mà rồi chồng, một anh-hùng thời kháng-chiến chống Pháp, "anh hùng Điện Biên Phủ," vẫn chết tức tưởi trong tù! Song dù mảng văn-học tù này chỉ có năm ba người viết nên thành sách (Trần Thư, Vũ Thư Hiên, Bùi Ngọc Tấn...) những chứng-từ của họ giờ đây cũng đã thành những cổ-điển của nền văn-học tù tội ở miền Bắc CS: Đêm giữa ban ngày, Chuyện kể năm 2000...
Một người không thuộc trong đám "xét lại chống Đảng" song vẫn đi tù tổng-cộng 27 năm là Nguyễn Chí Thiện, tác-giả Hoa Địa Ngục và Hạt Máu Thơ, trong năm 2001 đã tung ra một tập truyện có tính-cách hồi-ký tiểu-thuyết-hóa: cuốn Hỏa Lò, do cách viết vô cùng hấp dẫn sống động, đã tức khắc trở thành một cuốn sách không thể thiếu trong mảng văn-học này. Với chỉ 2-3 tác-phẩm Nguyễn Chí Thiện đã bỗng-nhiên thành người của quốc-tế, cùng với Vũ Thư Hiên được Nghị-viện Quốc-tế các Nhà văn mời đón sang Âu-châu mấy năm, với tác-phẩm được dịch sang nhiều thứ tiếng và tên tuổi được đưa vào Who's Who in Twentieth-century Poetry ("Ai là ai trong thi ca thế-kỷ XX," Mark Willhardt chủ-biên) in ra ở Anh và ở Đức.
Chính những kinh-nghiệm tù của người miền Bắc, với không ít người sống và chết luôn trong tù, đã trở thành một chất keo gắn bó họ lại với người miền Nam, đại-loại như kinh-nghiệm tù dưới thời Pháp-thuộc đã mang các người tù chính-trị thời đó lại gần với nhau, học tập của nhau để trở thành những con người cách mạng. Nền văn-học tù tội do đó đã nghiễm-nhiên trở thành một dòng chính trong văn-học hải-ngoại, một dòng sẽ đi vào lịch-sử trường cửu của văn-học Việt Nam tương-tự như văn-học Holocaust trong văn-chương thế-giới.
3.- Nhìn lại lịch-sử cho công-bằng hơn
Có lẽ chính kinh-nghiệm tù tội làm cho không ít người nhìn ra sâu sắc sự bất công của lịch-sử: "Được làm vua, thua làm giặc!" Thành thử khi ra hải-ngoại, không ít người tâm-niệm rằng có lẽ họ sẽ phải bỏ phần còn lại trong cuộc đời của họ để làm sáng tỏ một điều: lịch-sử đã quá bất công đối với miền Nam, đối với phe Quốc gia, đối với các tôn-giáo (do lập-trường và bản-chất vô thần của người CS), đối với một số nhân-vật lịch-sử hay bộ mặt văn-hóa của đất nước. Đó, theo tôi nghĩ, là động-cơ của những tác-gỉa như ông Minh Võ ở San Diego (Ngô Đình Diệm: Lời khen tiếng chê và Ai giết Hồ Chí Minh"), của những sử-gia đang hoạt-động ở ngoài này từ cụ Hoàng Cơ Thụy ở Pháp đến những nhà trẻ hơn như Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Lý Tưởng, Hoàng Ngọc Thành, Chính Đạo (tức Vũ Ngự Chiêu), Nguyễn Đức Cung và nhất là Trần Gia Phụng ở Toronto, Canada.
Trong năm 2002, nhà xuất bản Nam Á đã in ra bộ Việt sử khảo luận, một bộ đại-toàn của cụ Hoàng Cơ Thụy, nay đã trên 90, viết trong 17 năm (1984-2001), gom 15 tập gốc của cụ in ra trước kia thành 6 cuốn gần 4000 trang. Nhưng ngoài tác-phẩm đồ sộ đó cũng vẫn có những cuốn sử giá trị, tuy ngắn hơi hơn nhưng vẫn là những đóng góp vô cùng quý báu vào việc xét lại lịch-sử Việt Nam: Trần Gia Phụng, chẳng hạn, đã kiên trì viết để cho ra gần như một năm hai cuốn sử (1998: Trung Kỳ dân biến 1908 và Những cuộc đảo chánh cung đình Việt Nam, 1997-1999-2002: Những câu chuyện Việt sử I-II-III, 2000: Những kỳ án trong Việt sử và Quảng Nam trong lịch sử, 2001: Án tích Cộng Sản Việt Nam, 2002: Ải Nam Quan) còn như Nguyễn Đức Cung ở Phila thì sau cuốn Vũ man tạp lục in ra cách đây ít năm đã có cuốn Diên Lộc Quận Công Nguyễn Thân, một cuốn sách vô cùng công phu (670 trang) buộc ta phải xét lại cái nhìn truyền-thống và khá bất công đối với ông quan võ này. Vũ Ngự Chiêu cũng có những nỗ lực lớn về sử cận-hiện-đại như: Các vua nhà Nguyễn (ba tập, 1142 trang) và (dưới bút-hiệu Chánh Đạo) Việt Nam niên biểu 1939-1975 (ba tập, I-A, I-B và I-C, đã lên đến gần 1300 trang), VN niên biểu: Nhân vật chí (Tập III, 634 trang) bên cạnh những sách như Nhìn lại biến cố 11-11-1960, Mậu Thân: Thắng hay bại, 55 ngày đêm Cuộc sụp đổ của VNCH, Việt Nam năm thứ 12 (1986-1987) v.v.
Việc xét lại chỗ đứng của một nhân-vật như ông Nguyễn Thân cũng tương-tự như việc đánh giá trở lại những danh-nhân Việt Nam như ông Ngô Đình Diệm (tính đến nay cũng đã phải có hơn chục cuốn), Đức Huỳnh Giáo Chủ, Trịnh Minh Thế (do một tác-giả người Nga, ông Sergei Blagov, viết trong tiếng Anh), Bảy Viễn, không kể những sách hồi-ký có ít nhiều tính-cách tự bào chữa (như hồi-ký Buddha's Child, "Con cầu tự," của ông Nguyễn Cao Kỳ). Việc đó cũng nằm trong một phong trào phục hồi danh-dự cho Phạm Quỳnh cách đây hai năm ở hải-ngoại, Nguyễn Văn Vĩnh và Trương Vĩnh Ký ở trong nước, những con người mà CS chỉ muốn đánh giá như là những tay sai cho thực-dân Pháp, xem như "Việt-gian," mà không chịu nhìn vào công-lao văn-hóa, đóng góp vào sự phát triển, tiến-hóa tiếng Việt của họ.

Về lịch-sử thì chúng ta cứ càng bóp méo bao nhiêu thì thế nào cũng lại có lúc ta lại phải uốn nắn trở lại cho nó đúng với sự thật khách-quan hơn. Đó là tất cả sự vật lộn của CS ở trong nước với những vấn-đề như Tự Lực Văn Đoàn (trước tìm cách đả phá thậm tệ, bây giờ phải công-nhận là TLVĐ đã có những đóng góp thật to lớn, thật tích-cực cho tiếng Việt, cho tiểu-thuyết VN hiện-đại, cho bước tiến của văn-hóa VN) và nhất là lịch-sử của nhà Nguyễn (trước kia bị rẻ rúng là "rước voi về giầy mả tổ," giờ được xem là một trong những triều-đại huy hoàng nhất của VN với sự tiến bộ trên mọi mặt, điển-hình là thành phố Huế, một "di-sản văn-hóa của nhân-loại" theo UNESCO, dẫn đến Festival Huế 2000). Điều này có những hệ-lụy của nó như là: trong một thời-gian khá lâu - nhiều thập niên - Hà-nội muốn xem Hồ Xuân Hương là một tác-giả lớn của thời Tây-sơn (Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm còn đại ngôn hơn, xem bà là một nhà "cách mạng" trong mọi nghĩa), càng ngày lịch-sử càng cho thấy rõ bà là một nhà thơ lớn của thời Nguyễn-sơ, đồng-thời với Nguyễn Du và Phạm Đình Hổ, chủ-yếu sống dưới hai triều Gia Long (1802-20) và Minh Mệnh (1820-47) và thế là văn-học thời Tây-sơn mất đi một cột trụ (chưa kể những tác-giả lớn khác sống thời Tây-sơn như Phạm Thái hay chính Nguyễn Du lại còn tỏ ra chống Nguyễn Huệ đến tận xương tủy).

Trong tất cả những cái bất công, dối trá của sử-học Hà-nội trong lịch-sử hiện-đại thì có lẽ như một tác-giả trong nước, ông Tuệ Minh, ghi ra vắn tắt, gồm: (1) đàn áp tôn-giáo (từ 1945), (2) cải cách ruộng đất "giết hàng ngàn hàng vạn người vô tội," (3) đàn áp trí-thức, văn-nghệ-sĩ, điển-hình là vụ Nhân văn-Giai phẩm, và (4) "chiến tranh, cái được gọi làsự thống nhất hai miền" đã có lúc "đưa nhân dân đến thời kỳ đồ đá" (Xem tài-liệu "Nhận diện một chính quyền phản động," Noel 2002). Và trong tất cả những cái bất công, dối trá đó, có lẽ không có "oan khiên dậy đất" nào bằng vụ thảm-sát Tết Mậu-thân ở Huế và nói rộng ra, là một sự đánh giá công bằng về vai trò bảo vệ miền Nam, bảo vệ dân-chúng của Quân-lực VNCH. Có lẽ vì thế mà ngoài cuốn Thảm sát Mậu Thân ở Huế (nhiều tác-giả) ta đã có những cuốn như Thực trạng cuộc chiến tranh Việt Nam, Việt Nam: Cuộc chiến tranh Quốc gia-Cộng sản (nhiều tác-giả), Chiến sử Quân lực Việt Nam Cộng Hòa (của tướng Phạm Phong Dinh, 602 trang), và nhất là hai cuốn Những trận đánh lịch sử trong chiến tranh Việt Nam 1963-1975 (422 trang) và Chiến tranh Việt Nam Toàn tập (960 trang) của Nguyễn Đức Phương (ở Anh). (Bên cạnh những nỗ lực nhìn vào tổng-sử cuộc chiến này, ta còn có những tác-phẩm tổng-kết lịch-sử một binh-chủng như Chiến sử Thủy quân lục chiến VNCH in ra ở Úc, một binh-ngành như bộ Hải sử viết về Hải-quân VNCH sắp hoàn-tất nay mai, hồi-ký các tướng tá hay cựu-quân-nhân, những tác-phẩm như của Phan Nhật Nam, Lê Xuân Nhuận, Trần Hoài Thư, thậm chí cả một hồi-ký thật đặc-sắc như Nhật ký An Lộc - viết tại chỗ, ngày từng ngày, với những cảm nghĩ thật dưới mưa pháo - của Bác-sĩ Nguyễn Văn Quí).
Về cái chết của VNCH, nhất là sự dọn đường cho cái chết ấy qua Hiệp-định Ba-lê, thì đối-phương có cuốn Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ-Kissinger tại Paris của Lưu Văn Lợi còn về phía ta, chứng minh là có sự phản-bội của Kissinger và Nixon, có cuốn Không hòa bình, chẳng danh dự do G.S. Nguyễn Mạnh Hùng dịch từ cuốn No Peace, No Honor của Larry Berman (Việt Tide xb). Một tài-liệu mới giải mật tuần này cho thấy là Kissinger, ngay từ 1971, trong một buổi gặp gỡ với Chu Ân-lai tại Bắc-kinh ngày 9-7 năm đó, đã thông-báo cho Trung-Cộng là Mỹ sẽ "đơn phương rút lui" khỏi Việt Nam nếu cần và không quan-tâm chính-quyền nào lên sau khi Mỹ rút lui.
Hơi đáng tiếc là viết về lịch-sử hiện-đại, các tác-giả có lẽ vì còn gần các biến-cố quá nên trong không ít trường-hợp đã tỏ ra chủ-quan, bè phái, một chiều như Đỗ Mậu, Cửu Long Lê Trọng Văn, Lữ Giang Nguyễn Cần, Đặng Văn Nhâm, Nguyễn Mạnh Quang, hay các tác-giả viết về những tranh chấp tôn-giáo.
Bên cạnh chính-sử và chiến-sử còn có một số nỗ lực viết lại lịch-sử của nhiều khía cạnh khác trong cuộc sống của một quốc gia (miền Nam) như cuốn Những ngày còn nhớ... viết về "Dầu hỏa Việt Nam, 1970-1975" của Trần Văn Khởi, hay lịch-sử của một số đại-học VN như Đại-học Sư-phạm Huế, Đại học Văn khoa Saigon (trong xê-ri Dòng Việt hiện do Southeast Asian Culture and Education Foundation ở San Diego đảm trách), Y Khoa Đại Học Đường Sài Gòn (1954-1975) của B.S. Giáo-sư Trần Ngọc Ninh, nói gì đến lịch-sử các trường trung-học thì vô số kể.
Cũng trong nỗ lực nói lên sự thật và đánh vào những huyền-thoại cuối cùng của chế-độ ở quê nhà, ta thấy những sách như Karl Marx, con đường huyễn hoặc của Nguyễn Nam Châu, Phê phán hệ tư tưởng mác-xít của Đặng Phùng Quân (Chủ Đề xb), Di sản Mác-xít của Đỗ Mạnh Tri đánh vào thành trì tư tưởng (ngày càng rỗng hay ruỗng) của CSVN. Còn huyền-thoại cuối cùng, tức hình ảnh ông Hồ Chí Minh, thì ta thấy một hiện-tượng rất lạ, tiêu-biểu là một vụ dịch sách khá ly kỳ. Như ta biết, cách đây hơn một năm, ông William J. Duiker, một chuyên-viên hàng đầu của Mỹ về lịch-sử cận-hiện-đại VN, đã có ra một cuốn tiểu-sử về ông Hồ Chí Minh trong tiếng Anh thật đồ sộ - có lẽ là cuốn dầy nhất viết về ông trong bất cứ tiếng nào, kể cả sách tiếng Việt. Hà-nội, do đó, muốn dịch cuốn ấy sang tiếng Việt nhưng khi dịch xong thì Hà-nội lại xin được bỏ đi một số đoạn, nhất là những đoạn nói về đời tư bê bối của ông Hồ với đàn bà - chính là những khám phá mới nhất về ông trong những năm sau này. Ông Duiker không cho, thế là cuốn sách nằm trong "limbo." (Lối dịch này không khác gì chuyện ông Phạm Kim Vinh dịch sách của Olivier Todd, cuốn Cruel Avril, khoảng năm 1977 nhưng lại cắt đi nhiều đoạn rồi ghi ở đầu sách là "Dịch theo quan điểm của người Quốc gia.") Thành thử sách về ông Hồ Chí Minh từ năm 75 đã thành một "kỹ-nghệ" ở trong và ngoài nước: ở trong thì người ta tìm thấy cả một "minh triết HCM" dù như chính ông đã có lần nói (1951), "Tôi không có tư tưởng." Ở hải-ngoại, dù cũng có đôi ba quyển chỉ tìm cách mạt-sát ông song vẫn có những cuốn giá-trị giúp vào việc đánh giá chính-xác hơn con người nhiều mặt này, trong đó ta có thể kể Hồ Chí Minh tại Trung Quốc của Tưởng Vĩnh Kính (Thượng Huyền dịch) và Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại của Chính Đạo trong những năm gần đây.
Cũng đánh vào một huyền-thoại then chốt của CộNG SẩN - những tội ác của họ - thì ngoài bộ Hắc thư (dịch từ Le livre noir du Communisme của Stéphane Courtois và nhiều người khác) mà nhà báo Hồ Văn Đồng đã xuất bản ở Canada, in thành hai tập (trong đó có một chương phụ-lục riêng về VN không có trong bản gốc tiếng Pháp), ta cần phải nhắc đến cuốn Hồ sơ đen CSVN 54-02 mà Nguyễn Văn dịch từ Le livre noir du communisme vietnamien của Michel Tauriac, viết rất hay, bên cạnh Án tích CSVN (464 trang) của Trần Gia Phụng đã được nói đến ở trên.
Nhân đang nói về sử, ta có lẽ cũng nên nhắc đến hiện-tượng có một số phụ nữ cả ở trong nước lẫn ngoài này đi vào ngành này một cách rất vững vàng và sắc bén. Như Thụy Khuê (Sóng từ trường I và II, Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn & Tạ Trọng Hiệp, và rất nhiều bài viết trong các báo Hợp Lưu, Thế kỷ 21 v.v.) và Nguyễn Tà Cúc trong lịch-sử văn-học, chẳng hạn. (Tạo dựng lại bộ mặt thật của lịch-sử văn-học, ta cũng thấy có Đặng Cao Ruyên với cuốn Bể đâu trong dòng họ Nguyễn Du, Lê Hữu Mục và Phạm Thị Nhung trong Tiếng nói Đoàn Thị Điểm trong Chinh phụ ngâm khúc, Hạnh Cơ với Giấc mộng đình mai - tức "Mai-đình mộng-ký" của Nguyễn Huy Hổ, Trần Hồng Châu trong Vài suy nghĩ về văn học nghệ thuật, và Nguyễn Hưng Quốc trong Văn hóa văn chương Việt Nam). Trở lại các tác-giả phụ nữ viết sử ta phải kể Nguyễn Thị Chân Quỳnh ở Pháp (có sách Dấu xưa xe ngựa... in ở VN và Thi hương do An Tiêm in ở ngoài này) và Ngô Thị Quý Linh ở Texas (đã có Lịch sử triết lý giáo dục Việt Nam và mới ra Lịch sử Việt Nam từ thuộc Pháp đến Độc lập, 1858-1945, Ý Linh xb). (Cuốn sách sau này tuy in sáng sủa và cận thận, không có lỗi chính-tả, và minh-họa rất đẹp, với tranh màu dựa trên mộc-bản xưa, có thể bị coi là đề tên không đúng vì gần như không có gì về giai-đoạn 1858-1900, lẽ ra chỉ nên gọi là "Chính-sách thuộc-địa Pháp ở VN vào tiền-bán thế-kỷ XX.")
4.- Diễn-đàn công-khai của các tiếng nói bất đồng chính-kiến
Trong sự xét lại các giáo-điều ngự-trị ở trong nước (Nho-học phong kiến trước đây và chủ-nghĩa CS sau này) hàng thế-kỷ nay, kềm hãm mọi đường bung của dân-tộc để ra bắt kịp với thế-giới, các tiếng nói dân-chủ ở trong nước đã bị bao vây, trù dập đến độ tàn-bạo. Vì thế nên không lạ là những phát biểu như của Hà Sỹ Phu, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Minh Chính, Dương Thu Hương, Tiêu Dao Bảo Cự, Bùi Minh Quốc, Vũ Cao Quận, Lê Chí Quang v.v. chỉ có thể được công-khai-hóa ở hải-ngoại để đôi khi được phản ánh dội lại vào trong nước.
Những Nguyễn Hộ (Quan điểm và cuộc sống), Nguyễn Văn Trấn (Viết cho Mẹ và Quốc hội) và, theo chỗ tôi được biết, tuyển-tập Trần Độ sắp ra mắt công-chúng nay mai - cũng như hồi-ký của ông do nhà xb Văn Nghệ in ra cách đây hai năm - chỉ được lưu-hành thoải mái ở hải-ngoại, y như trước đây những sách của Đoàn Văn Toại (Le Goulag vietnamien), Trương Như Tảng (Memoirs of a Vietcong), và gần đây hơn nữa của Bùi Tín/Thành Tín (Hoa xuyên tuyết, Mặt thật, Về ba ông thánh, Mây mù thế kỷ, Following Ho Chi Minh, La face cachée du régime, và mới đây nhất, cuốn From Enemy to Friend do Naval Institute Press ở Annapolis in ra trong một ấn-bản thật đẹp và được đón nhận nồng nàn).
Đặc-biệt, một người trong nhóm bị gọi là "xét lại chống Đảng" lưu vong ở Nga từ những năm đầu thập niên 60, ông Nguyễn Minh Cần, thì giờ đây được đón nhận như một thành-phần bất khả phân ly của cộng-đồng hải-ngoại với những cuốn sách tâm huyết như Công lý đòi hỏi, Chuyện nước non và Đảng CSVN trong phong trào CS Quốc tế.
Những tiếng nói phản-kháng khác ở trong nước cũng vậy, chỉ in được ở ngoài này, như Tạp Ghi 1954-1960 của Trần Dần, một "kiện-tướng" của phong trào Nhân văn-Giai phẩm, Hẹn thắp lên, Lời chứng 25 năm 1975-2000 của (cựu-linh-mục) Nguyễn Ngọc Lan, Nói cho con người của L.M. Chân Tín, hay Người Cộng sản đã tin linh hồn có thật của Phạm Quế Dương.
Đến nay, những tiếng nói gốc CS hay trước đây thân CS này đông, và họ phát biểu về nhiều vấn-đề, đến độ một người bình-thường không thể theo dõi kịp. Do vậy mà tác-giả Minh Võ đã có cuốn Phản kháng hư hay thật" để trình bầy tư tưởng và lập-trường của từng nhân-vật nổi trong đó một, và Nguyễn Chí Thiệp, tác-giả của Trại kiên giam, cũng đã phải ra một cuốn mang tên Việt Nam Khát vọng dân chủ tự do (871 trang) để tìm cách gỡ hộ cho chúng ta cái khối tư-liệu đồ sộ này. Không đồng ý với những cách đọc mà ông cho là quá lạc-quan này, bỉnh-bút-gia Đại Dương ở Virginia có trả lời phần nào trong cuốn Cộng sản đang lừng lững trở lại, đưa ra kinh-nghiệm ở một số nước Đông-Âu (như Ba-lan, chẳng hạn) để cho thấy là ta không nên vội khóa sổ Đảng CS và rằng nguy-cơ vẫn còn đó.
Lẻ loi ở hải-ngoại cũng có một tiếng nói bất đồng chính-kiến với đa-số, đó là Nguyễn Gia Kiểng với cuốn Tổ quốc ăn năn, dầy gần 700 trang, trong đó ông đặt lại hầu hết tất cả những suy nghĩ quen thuộc của ta về đất nước và con người Việt-nam. Vì cuốn này ông bị đánh tơi bời trên mặt báo, trên Internet, v.v. nhưng không ít người cho rằng nhờ ông thách thức lối suy nghĩ đường mòn của ta mà cuốn sách đâm có giá trị. Ít nhất G.S. Nguyễn Ngọc Phách ở Úc đã cất công dịch cả cuốn sách sang tiếng Anh (với cả chú thích những chỗ ông không đồng ý) và hiện đang đi tìm nhà xuất bản.
5.- Đẩy tới những biên-tế của tri-thức đương-đại
Đoạn này là khó viết nhất vì đề-tài khá mông lung nhưng ý của chúng tôi là, như đã thưa ở đoạn đầu, vì chúng ta cọ sát với thế-giới văn-minh hàng đầu của nhân-loại hàng ngày nên người Việt hải-ngoại không thể không bị ảnh-hưởng được. Nếu những sách của chúng ta viết về tôn-giáo (đủ mọi tôn-giáo) phản ánh một cuộc khủng-hoảng tâm-linh rất lớn (có cả ở trong lẫn ngoài nước) thì những sách viết ở ngoài này vẫn tự do hơn, từ những Trang tôn kinh huyền hoặc (4 tập, hơn 1000 trang) của Nghiêm Xuân Hồng đến những sách "tìm về phương Đông" của Nguyên Phong phóng tác sách ngoại-quốc, những bộ sách vĩ-đại của Nhân Tử B.S. Nguyễn Văn Thọ, những sách dịch hầu hết các tác-phẩm mới ra của Đức Đạt Lai La Ma cũng như của một số các cao-tăng Tây-tạng, những sách của Thầy Thích Nhất Hạnh, những sách (dịch) bàn về sự gặp gỡ giữa khoa-học hiện-đại và tư tưởng Phật-giáo như cuốn sách của Trịnh Xuân Thuận, giáo-sư thiên-văn và vật-lý không-gian, và Matthieu Ricard, nhà sinh-học người Pháp đi tu thành tăng-sĩ Tây-tạng, mang tên Vô tận trong lòng bàn tay (dịch từ nguyên-tác Pháp-ngữ L'infini dans la paume de la main, bản tiếng Anh là The Quantum and the Lotus, "Hoa sen và Lượng tử"). Bên cạnh đó, G.S. Trần Quang Thuận cũng có hai cuốn sách nghiên cứu công phu về Phật-giáo ở Nga và Phật-giáo ở Mỹ là hai đề-tài hoàn-toàn mới trong tủ sách Phật-học Việt Nam.
Sang lãnh-vực Công-giáo thì những tên tuổi như Đỗ Mạnh Tri, người chủ-trương báo Tin Nhà trước đây, Bùi Đức Sinh (tác-giả 4 cuốn về Giáo hội Công giáo ở Việt Nam, từ nguyên-thủy đến năm 2000, khoảng 2000 trang) hay Trần Phong Vũ đã là những đảm bảo cho một tiếng nói thường-xuyên và trung thực: Đỗ Mạnh Tri, chẳng hạn, đã có cuốn Hiện tượng Nguyệt Biều nói về cuộc đấu tranh ở Huế cho tự do tôn-giáo của L.M. Nguyễn Văn Lý và Trần Phong Vũ có cuốn như Phan Văn Lợi, người là ai" cho biết tường-tận về những người bạn đường chia xẻ cuộc đấu tranh đó.
Về những hiểm-họa cho môi-trường mà trong nước hình như chưa nắm bắt được một cách vững vàng hay vì lý-do chính-trị không dám nêu ra (như các vấn-đề Agent Orange thì Hà-nội và Mỹ nay đã có những cuộc gặp gỡ để nghiên cứu chung và giải-quyết vấn-đề, ngược lại vấn-đề Trung-Cộng làm nhiều đập lớn trên thượng-lưu sông Mekong sẽ ảnh-hưởng tai-hại đến hạ-lưu, gồm toàn-bộ đồng bằng sông Cửu Long thì Hà-nội cũng như các quốc gia trong Ủy-ban sông Mekong chỉ dám nêu ra một cách yếu ớt, hoàn-toàn vô hiệu) thì ở hải-ngoại đã có những sách như bản dịch Quê hương và Quả đất (do Nguyễn Hồi Thủ) và nhất là cuốn Cửu Long cạn dòng, biển Đông dậy sóng của B.S. Ngô Thế Vinh trong nhóm Mekong Forum, dầy 700 trang mà đã in đến lần thứ hai chứng tỏ là ở hải-ngoại người đọc có để ý đến những vấn-đề môi-trường như thế này.
Cũng trong nỗ lực bắt kịp với những tiến-bộ trong ngành phê-bình hiện-đại và hậu-hiện-đại thì nếu ở trong nước, chẳng hạn, đã có Phương Lựu với cuốn Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX (627 trang) và một số tác-giả khác cũng đi vào lãnh-vực này thì ở Úc, hai tác-giả mài miệt đi vào lãnh-vực rắc rối này là Nguyễn Hưng Quốc, gần đây có cuốn Văn học Việt Nam từ điểm nhìn h(ậu h)iện đại (412 trang), và Hoàng Ngọc Tuấn với cuốn Văn học hiện đại và hậu hiện đại qua thực tiễn sáng tác và góc nhìn lý thuyết (629 trang), cả hai cuốn đều viết rất sáng rõ do nhà Văn Nghệ tung ra và là những cuốn sách mẫu mực trong cách trình bầy với đầy đủ chú-thích tường-tận, thư-mục và sách-dẫn theo thứ tự ABC.
* Nhan đề “Cho Giao Lưu Văn Hóa 2 Chiều Theo Định Hướng XHCN “ do VB đặt.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Trung tâm thủ đô Washington bị phong tỏa sau vụ bạo loạn ở Quốc hội và nguy cơ bạo lực gia tăng tại lễ nhậm chức của ông Biden.
Tổng thống đắc cử Joe Biden dự kiến sẽ công bố đề xuất gói kích thích 1.900 tỷ USD nhằm khôi phục kinh tế Mỹ, tăng tốc phản ứng với đại dịch
Theo thông báo mới của Intel, CEO Bob Swan sẽ từ chức vào ngày 15/02/2021 và được thay thế bởi Pat Gelsinger, CEO đương nhiệm của VMWare.
Thành phố New York sẽ chấm dứt tất cả hợp đồng trị giá 17 triệu USD một năm với Tập đoàn Trump (Trump Organization) vì cuộc bạo loạn ngày 06/01/2021
Theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí y khoa The Lancet, nghiên cứu trên bệnh nhân nhập viện vì Covid-19 ở Vũ Hán cho thấy họ vẫn xuất hiện triệu chứng như mệt mỏi hay khó ngủ sau 6 tháng