Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Pháo Binh Vnch Giai Đoạn Phát Triển 60-69

30/12/199900:00:00(Xem: 10297)
Trong hai số trước, chúng tôi đã lược trình chiến sử của Pháo binh VNCH trong hai giai đoạn: 1951-1954, và 1955-1959, sau đây là phần lược trình chiến sử của binh chủng Pháo binh từ 1960 đến 1969.

* Thời kỳ 1960-1965:
Như đã trình bày, từ năm 1959, Quân lực VNCH tái tổ chức lại các đại đơn vị, từ 4 sư đoàn Dã chiến và 6 sư đoàn Khinh chiến thành 7 sư đoàn Bộ binh. Theo tổ chức mới, mỗi sư đoàn có 1 tiểu đoàn Pháo binh thống thuộc. Ngoài ra, tại các quân khu, còn có từ 1 đến 2 tiểu đoàn Pháo binh trực thuộc để làm lực lượng trừ bị. Đến gần cuối năm 1960, khi CSBV công khai tiến hành cuộc chiến tranh quấy rối lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã tăng cường lực lượng để đối phó với tình hình. Đến năm 1961, nhằm củng cố và phát triển hiệu năng tác chiến, bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH đã tái phối trí lực lượng, tăng cường quân số cho các quân binh chủng, phân chia vùng hoạt động cho các đại đơn vị cấp Quân đoàn và Sư đoàn. Riêng với binh chủng Pháo binh, địa bàn hoạt động của các đơn vị cũng được điều chỉnh để phù hợp với tình hình mới và tổ chức mới về lãnh thổ: Pháo binh Quân đoàn/Vùng chiến thuật, Pháo binh Sư đoàn/Khu chiến thuật.

Theo kế hoạch mới, lãnh thổ VNCH được chia thành 3 Vùng Chiến thuật: Vùng 1 gồm các tỉnh của Quân khu 2 cũ-từ Quảng Ngãi đến Quảng Trị; Vùng 2 chiến thuật gồm các tỉnh thuộc Quân khu 3 (thành lập tháng 10/1956 gồm các tỉnh Kontum-Pleiku, Bình Định-Phú Yên) và các tỉnh thuộc Quân khu 4 (Cao nguyên và duyên hải Nam Trung phần, từ Khánh Hòa đến Bình Thuận); Vùng 3 chiến thuật gồm các tỉnh Quân khu 1 (Miền Đông Nam phần), Quân khu 5 (Miền Tây Nam phần) và Quân khu Thủ Đô (Sài Gòn, Gia Định). Mỗi Vùng chiến thuật do một quân đoàn đảm trách, Quân đoàn 1 (Vùng 1 Chiến thuật), Quân đoàn 2 (Vùng 2), Quân đoàn 3 (Vùng 3). Tư lệnh Vùng chiến thuật đồng thời là Tư lệnh Quân đoàn hoạt động tại Vùng đó.

Mỗi Vùng Chiến thuật lại chia thành hai đến ba khu chiến thuật, mỗi Khu Chiến thuật do một sư đoàn Bộ binh đảm trách. Tư lệnh Sư đoàn đồng thời là tư lệnh Khu chiến thuật. Đến cuối năm 1962, lãnh thổ VNCH lại được chia thành 4 Vùng chiến thuật, trong đó có Vùng 4 chiến thuật được thành lập gồm các tỉnh Miền Tây Nam phần, lãnh thổ các Vùng 1, 2 và 3 và các Khu chiến thuật cũng được điều chỉnh lại, do đó vùng hoạt động của các đơn vị Pháo binh thuộc hệ thống Quân đoàn và Sư đoàn cũng thay đổi theo sự phân chia mới.

Trong thời gian từ 1961 đến 1964, đáp ứng nhu cầu chiến trường, một số đơn vị Pháo binh được thành lập thêm, trong đó có tiểu đoàn 1 Pháo binh Thủy quân Lục chiến với 3 pháo đội, trong đó có 1 pháo đội 105 ly, 2 pháo đội 75 ly. Năm 1965, khi một số đơn vị tác chiến và yểm trợ chiến đấu của Lục quân Hoa Kỳ được tăng cường cho chiến trường Việt Nam, các tiểu đoàn Pháo binh VNCH đã nhiều lần phối hợp với các đơn vị Pháo binh Hoa Kỳ để yểm trợ cho các cuộc hành quân của Liên quân Việt-Mỹ. Gần cuối năm 1965, khi binh chủng Nhảy Dù được nâng lên cấp Sư đoàn, tiểu đoàn 1 Pháo binh Nhảy Dù được thành lập do thiếu tá Huỳnh Long giữ chức tiểu đoàn trưởng.

* Pháo binh VNCH giai đoạn 1966-1969:
Trong hai năm 1966, 1967, lực lượng Pháo binh yểm trợ cho các đơn vị bộ chiến đã có mặt khắp nơi, từ cuộc hành quân cấp tiểu đoàn cho đến cấp Sư đoàn. Vào thời gian này, tại mỗi khu Chiến thuật luôn luôn có tối thiểu 2 tiểu đoàn Pháo binh hoạt động.

Năm 1968, binh chủng Pháo binh đã phát triển mạnh, đến giữa năm 1968, tại mỗi Sư đoàn Bộ binh có 1 tiểu đoàn 155 ly, từ 3 đến 4 tiểu đoàn Pháo binh 105 ly; mỗi tiểu đoàn Pháo binh 105 ly gồm 3 pháo đội (mỗi pháo đội có 6 khẩu đội) yểm trợ trực tiếp cho một trung đoàn Bộ binh trong suốt thời gian hành quân. Về hệ thống điều hành và phối hợp hỏa lực tổng quát tổng quát, mỗi Sư đoàn, đều có bộ chỉ huy Pháo binh, và chỉ huy trưởng Pháo binh Sư đoàn nhận lệnh trực tiếp của tư lệnh Sư đoàn về các kế hoạch hành quân, yểm trợ hỏa lực...

Về các đơn vị Pháo binh của các binh chủng Tổng trừ bị, trong năm 1968, bộ chỉ huy Pháo binh Sư đoàn Nhảy Dù (chỉ huy trưởng: trung tá Huỳnh Long Phi) và tiểu đoàn 2 Pháo binh Nhảy Dù được thành lập. Đầu năm 1969, binh chủng Thủy quân Lục chiến được nâng lên cấp Sư đoàn với 2 lữ đoàn 147 và 258, Pháo binh Thủy quân Lục chiến thành lập thêm tiểu đoàn thứ nhì cùng với bộ chỉ huy Pháo binh Sư đoàn. Cũng trong năm 1969, Pháo binh Nhảy Dù thành lập thêm tiểu đoàn Pháo binh thứ ba. Mỗi tiểu đoàn Pháo binh Nhảy Dù, Thủy quân Lục chiến thường được phân nhiệm yểm trợ hỏa lực cho một lữ đoàn.

Ngoài các tiểu đoàn Pháo binh thống thuộc Sư đoàn, tại mỗi Quân đoàn đều có tối thiểu 2 tiểu đoàn Pháo binh làm lực lượng tổng trừ bị. Các tiểu đoàn Pháo binh này nhận lệnh trực tiếp của bộ chỉ huy Pháo binh Quân đoàn.

Cũng cần ghi nhận rằng, vào giữa năm 1968, đại tướng Cao Văn Viên-Tổng tham mưu trưởng QL.VNCH đã cử trung tướng Nguyễn Đức Thắng- phụ tá Tổng tham mưu trưởng đặc trách Kế hoạch phát triển Quân lực VNCH, trực tiếp điều hành chương trình phát triển binh chủng Pháo binh. Khi còn mang cấp đại úy, tướng Thắng là một trong 4 tiểu đoàn trưởng Pháo binh đầu tiên của Quân đội Quốc gia Việt Nam.

* Lược ghi về binh nghiệp của chỉ huy trưởng và 4 tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Pháo binh QL.VNCH

1/ Trung tá Nguyễn Xuân Trang, chỉ huy trưởng Pháo binh:
Trung tá Trang được bổ nhiệm giữ chức vụ thanh tra kiêm chỉ huy trưởng Pháo binh từ tháng 3/1955 (thời gian này, văn phòng thanh tra Pháo binh vừa được thành lập, còn bộ chỉ huy Pháo binh đang trong giai đoạn hình thành, đến cuối năm 1955 mới chính thức hoạt động). Trung tá Trang đã giữ chức chỉ huy trưởng Pháo binh liên tục hơn 10 năm và lần lượt được thăng đại tá thực thụ (1963), chuẩn tướng (tháng 8/1964). Rời binh chủng Pháo binh, tướng Trang giữ chức vụ tham mưu phó Nhân viên cho đến năm 1975, cấp bậc cuối cùng: thiếu tướng (1968).

2/ Thiếu tá Bùi Hữu Nhơn, tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Tiểu đoàn 1 Pháo binh:
Giữ chức tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Pháo binh vào tháng 10/1954. Thăng trung tá năm 1955 và rời binh chủng Pháo binh. Từ năm 1956 đến 1969, ông đã lần lượt thăng đại tá thực thụ (1963), chuẩn tướng (tháng 5/1964), thiếu tướng (tháng 11/1964), và giữ nhiều chức vụ quan trọng như: tư lệnh phó, xử lý thường vụ tư lệnh Đệ Tam Quân khu (1956-1957), tư lệnh Sư đoàn 21 (1963) tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh (tháng 2-3/1964), chỉ huy trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức (lần thứ nhất tháng 4 đến tháng 10/ 1964, lần thứ 2: tháng 12/ năm 1966 đến giữa năm 1967), Tổng cục trưởng Tiếp vận (tháng 11/1964- giữa năm 1966), Tham mưu trưởng Liên quân Bộ Tổng tham mưu QL.VNCH (1966), phó chủ tịch Ủy ban Điều hành Quốc tế Quân viện (từ giữa năm 1967, sau khi thôi giữ chức chỉ huy trưởng trường Bộ binh lần thứ hai).

3/ Các đại úy Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Xuân Thịnh, Lâm Quang Thi: tiểu đoàn trưởng đầu tiên của các tiểu đoàn 2, 3, 4:
- Đại úy Nguyễn Đức Thắng: tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Pháo binh, thăng thiếu tá năm 1955; từ năm 1956 đến 1968, thăng trung tá, đại tá (1961), chuẩn tướng (tháng 8/1964), thiếu tướng (11/1965), trung tướng (5/1968) và lần lượt giữ các chức vụ: chỉ huy phó Liên trường Võ khoa Thủ Đức, tư lệnh Sư đoàn 1, Sư đoàn 5 BB, Trưởng phòng 3 Bộ Tổng Tham mưu, Tổng trưởng Xây dựng Nông Thôn, Tổng tham mưu phó đặc trách Địa phương quân, Nghĩa quân, tư lệnh Quân đoàn 4, Phụ tá Tổng tham mưu trưởng. Đầu thập niên 70, xin nghĩ dài hạn không lương trong 5 năm để hoàn tất chương trình cử nhân và cao học Toán.
- Đại úy Nguyễn Xuân Thịnh: tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Pháo binh; thăng thiếu tá 1955. Rời binh chủng Pháo binh, thăng trung tá, đại tá (1963), chuẩn tướng (11/1964), thiếu tướng (6/1968), lần lượt giữ các chức vụ quan trọng như: tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh, tư lệnh phó Quân đoàn 3, tư lệnh Sư đoàn 25 BB (thăng trung tướng vào đầu năm 1972 khi đang giữ chức vụ tư lệnh Sư đoàn này); chỉ huy trưởng cuối cùng của binh chủng Pháo binh: từ 1972 đến tháng 4/1975 (đã từ trần tại Hoa Kỳ cách đây vài năm)
- Đại úy Lâm Quang Thi: tiểu đoàn trưởng 4 Pháo binh; thăng thiếu tá 1955. Rời binh chủng Pháo binh, thăng trung tá, đại tá (1964), chuẩn tướng (1966), thiếu tướng (6/1968), trung tướng (1971), lần lượt giữ các chức vụ quan trọng như: tư lệnh Sư đoàn 9 (1965-1968), chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc gia Đà Lạt (1968 đến tháng 5/1972), tư lệnh phó Quân đoàn 1 kiêm tư lệnh Tiền phương của Quân đoàn này tại Trị Thiên (từ 1972 đến tháng 4/1975). (Biên soạn dựa theo tài liệu của Khối Quân sử/Phòng 5/Bộ Tổng Tham mưu QL.VNCH, chiến sử của Sư đoàn Nhảy Dù và Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, một số bài viết trong KBC.

* Bổ sung về phần trình bày trong số báo ngày Thứ 4/29 tháng 12/1999:
Do sơ suất về kỹ thuật, nên trong phần cuối của bài viết đã sót một hàng, chúng tôi xin ghi lại đầy đủ như sau: đến giữa năm 1970, các Vùng chiến thuật lại cải danh thành Quân khu. Xin thành thật cáo lỗi bạn đọc.

Kỳ sau: Pháo binh VNCH trong giai đoạn 1970-1975.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.