Phỏng Vấn Giáo Sư Larry Berman, Tác Giả No Peace, No Honor, Cuốn Sách Về Sự Phản Bội Trong Hiệp Định Ba Lê 1973

13/01/200300:00:00(Xem: 3886)
PHOTO: Bìa cuốn No Peace, No Honor

* Bùi Văn Phú
27 tháng 1, 2003 đánh dấu 30 năm ngày Hiệp Định Ba Lê được ký kết nhằm chấm dứt chiến tranh và vãn hồi hòa bình cho Việt nam.
Trong hai ngày 24 và 25 tháng 1 tới đây, nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế giới sẽ tập họp tại Centre des Conférences Internationales ở thủ đô Ba Lê, Pháp Quốc - nơi Hiệp Định Ba Lê đã được ký kết 30 năm trước - để bàn thảo về những nỗ lực trong quá khứ nhằm tìm một giải pháp cho cuộc chiến Việt Nam.
Giáo sư Larry Berman sẽ tham dự hội nghị và có mặt trong cùng một tham luận đoàn với cựu ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình. Ngoài bà Bình là người Việt, tham dự hội nghị còn có cựu đại sứ Bùi Diễm, người duy nhất từ phía Việt Nam Cộng Hòa; cựu đại sứ Lưu Văn Lợi, phụ tá của cố vấn Lê Đức Thọ và trưởng đoàn Xuân Thủy; ông Nguyễn Hồng Thạch, thuộc Vụ Tổng Hợp Đối Ngoại, Bộ Ngoại Giao Việt Nam; và ông Bùi Đình Thanh từ Hà Nội.
Cùng lúc ấn bản Việt ngữ của tác phẩm No Peace, No Honor, mang tựa Không Hòa Bình, Chẳng Danh Dự do giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng thuộc đại học George Mason University phiên dịch, Viet Tide xuất bản, cũng sẽ được phát hành tại Hoa Kỳ. Dịp này giáo sư Larry Berman dành cho cuộc phỏng vấn bằng anh ngữ qua e-mail. Dưới đây là bản dịch tiếng Việt bài phỏng vấn.
H: Nguyên do nào khiến giáo sư quan tâm nghiên cứu về Hòa Đàm Ba Lê"
Đ: Tôi đã viết hai cuốn sách về Việt Nam. Cuốn đầu là Planning a Tragedy, chú trọng vào những quyết định năm 1965 đưa đến việc Mỹ hóa cuộc chiến Việt Nam. Tiếp theo là cuốn Lyndon Johnson's War. Tôi cũng rất muốn viết về thời Nixon cầm quyền, nhưng 10 năm trước đây tôi không nghĩ là có nhiều tài liệu. Tôi chú ý tìm hiểu xem đằng sau cụm từ "hòa bình trong danh dự" là gì, vì đây là câu nói được nhắc đến nhiều nhất vào thời điểm đó, và Hiệp Định Ba Lê đã không đem lại hòa bình cũng như danh dự. Tôi muốn biết có những tài liệu lịch sử nào sẽ chứng minh khác hơn những gì mà Nixon và Kissinger đã viết trong hồi ký. Khi tôi nghiên cứu thì nó trở nên rõ ràng là đã có một tiến trình đằng sau bức tường của những bí mật, lừa dối và những vận dụng. Miền Nam bị đưa vào việc chấp nhận một hiệp định cho phép 150 nghìn bộ đội miền Bắc được ở lại. Đó là tiếng chuông báo tử cho họ.
H: Sự thực nào đáng chú ý nhất mà giáo sư đã tìm ra về Nixon liên quan đến Việt Nam, và so sánh với Johnson thì có những gì tương đồng hay khác biệt"
Đ: Những tài liệu mới phổ biến cho thấy một kế hoạch lừa dối mà tôi so sánh với những vận động của Lyndon Johnson trong sự kiện Nghị Quyết Vịnh Bắc Việt (Tonkin Gulf Resolution) đã được dùng để biện minh cho việc gia tăng can thiệp quân sự. Hiệp Định Ba Lê có ý định được dùng vào việc tái can thiệp của người Mỹ - và cũng như là vào năm 1964, công chúng và quốc hội không được biết rõ. Chiến tranh vĩnh viễn với một giá chính trị chấp nhận được là kết luận mà tôi rút ra từ những chứng liệu sẵn có. Vụ Watergate đã làm hỏng kế hoạch này. Những gì tổng thống Thiệu có được là lời hứa [Hoa Kỳ] sẽ trả đũa đối với những vi phạm của cộng sản. Thiệu yêu cầu ghi xuống văn bản rõ ràng nhưng Nixon và Kissinger đã đảm bảo với ông là điều đó không cần thiết. Quốc Hội sau đó đã bỏ rơi một đồng minh lâu dài của chúng ta.
H: Tại sao gọi đó là một "sự phản bội""
Đ: Đây là câu chuyện về lừa đảo ngoại giao và một sách lược liên quan đến việc không thẳng thắn với nhân dân Hoa Kỳ - một trường hợp mà lời tuyên bố của những nhà lãnh đạo chính trị không có chút nào thành thật. Một sự phản bội công khai trong đó nhân dân Hoa Kỳ không hề được thông báo về những gì mà Nixon đã bí mật hứa với tổng thống Thiệu của nam Việt Nam - hậu qủa trực tiếp của những nhượng bộ mà Kissinger đã thực hiện ở Ba Lê. Những nhà lãnh đạo miền Nam được hứa hẹn những trả đũa rộng lớn và tàn bạo đối với những vi phạm của cộng sản và họ còn được khuyến khích bất chấp những điều khoản chính của hiệp định có thể dẫn đến những cuộc tấn công của cộng sản. Như là một hệ quả, tôi cho rằng đây cũng là điều phản bội nhân dân miền Nam khi họ bị ép buộc phải chấp nhận sự có mặt của 150 nghìn bộ đội miền Bắc trong Nam trong khi Hoa Kỳ đã đơn phương rút quân và đem được tù binh trở về.
H: Trong No Peace, No Honor giáo sư viết là Kissinger đã có dấu chỉ phản bội ngay từ trong những cuộc họp mật với Hà Nội.


Đ: Cả Kissinger và Nixon đã hứa với tổng thống Thiệu là khi họp kín với Lê Đức Thọ họ sẽ không bàn đến cơ cấu chính trị của miền Nam, và dĩ nhiên là họ đã bàn - và bàn cãi nhiều nữa. Tổng thống Nixon và Kissinger cũng bàn đến hậu qủa của việc này nếu tổng thống Thiệu biết được. Và Thiệu cũng đã biết được chuyện đó. Chuyện chính trị nội bộ của miền Nam được đem ra thảo luận giữa Kissinger và Lê Đức Thọ và khi mà một giải pháp chính trị cho nam Việt Nam được thương lượng mà không có sự tham dự của nam Việt Nam, thì đó là đấu chỉ đầu tiên của những sự phản bội.
H: Giáo sư có nghĩ rằng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã giúp cho Nixon thắng cử vào tháng 11-1968 khi ông Thiệu từ chối tham dự hòa đàm Ba Lê" Và có phải vì thế mà Nixon cảm thấy rằng ông không thể chấp nhận đòi hỏi của Hà Nội tại bàn hòa đàm là phải loại bỏ Thiệu"
Đ: Bầu cử 1968 là món nợ của Nixon đối với tổng thống Thiệu và Anna Chennault. Nixon biết là không thể bỏ Thiệu bởi vì Thiệu biết rõ sự thực về những can thiệp của [ứng cử viên] Nixon vào việc hòa đàm trong năm 1968.
H: Nixon và Kissinger lập luận rằng đạo luật War Power Act 1973 đã trói tay Hoa Kỳ trong việc trả đũa sự xâm lăng của Hà Nội tại miền Nam. No Peace, No Honor lại chứng minh rằng họ biết bản hiệp định rồi cũng sẽ đưa đến việc Hà Nội lấn chiếm miền Nam, tại sao lại như thế"
Đ: Sự thực là cả Nixon và Kissinger không bao giờ trông mong có một nền hòa bình vĩnh cửu do từ kết quả của những đàm phán (để được giải Nobel) của Kissinger. Nixon đoán trước là ông ta sẽ phải trở lại với B-52. Điều này sẽ tạo nên những tranh luận về quyền tham chiến ghi trong hiến pháp. Tôi tin kế hoạch không tập mạnh mẽ mà các tướng trong Bộ Tổng Tham Mưu đang phác họa có thể ngăn chặn việc Hà Nội và miền Bắc thống nhất Việt Nam cho đến sau năm 1976. Vì thế khi Nixon ra đi thì còn miền Nam tự do. Rồi câu hỏi được đặt ra là nam Việt Nam có thể sống còn sau đó hay không" Đây chính là câu hỏi cốt lõi, người dân miền Nam đáng có được cơ hội. Theo tôi nghĩ, qua cái nhìn của Nixon thì đây là một kế hoạch hay, nhưng vấn đề là, như đô đốc Zumwault và những người khác, cũng như tôi, nói là chúng ta không thể có một kế hoạch như thế mà không cho công chúng Mỹ biết. Đây là sự lừa dối trắng trợn. Nixon đã nói với tổng thống Thiệu về kế họach đó, nhưng khi tổng thống Thiệu yêu cầu Nixon viết ra, thì Nixon nói: tôi không cần viết ra, những điều tôi hứa miệng cũng đủ rồi. Dĩ nhiên những lời hứa miệng của Nixon không đủ và điều đó đã dẫn tới một sự phản bội lớn lao.
H: Việt Nam Cộng Hòa có còn tồn tại được không, nếu Nixon đã không từ chức"
Đ: Hoàng Đức Nhã, bí thư của tổng thống Thiệu, có nói rằng trong kỳ họp thượng đỉnh ở Midway vào năm 1969, Nixon đã hứa với Thiệu 4 năm viện trợ quân sự và 4 năm viện trợ kinh tế. Trong nhiệm kỳ đầu của Nixon là viện trợ quân sự, nhiệm kỳ hai là viện trợ kinh tế, quân dụng v.v... và tổng thống Thiệu lúc đó cho là nam Việt Nam sau đó có thể tự đứng vững. Có nhiều người tin rằng như thế là đủ, nhưng tôi không biết.
H: Giáo sư có tin rằng Nixon và Kissinger có thể xin ngân sách để đem quân trở lại"
Đ: Chắc chắn là không. Điều Nixon và Kissinger tiên đoán là như thế này. Họ tin rằng nếu đã có một bản hiệp định được ký kết và bị vi phạm, công chúng Mỹ sẽ đứng sau lưng hỗ trợ tổng thống vì tổng thống đã ký hiệp định. Ông cứ gợi ra sự so sánh ghê sợ với bản hiệp định đình chiến ở Triều Tiên và nói: "Không ai biết hiệp định đình chiến Triều Tiên là gì, nhưng mọi người đều biết là nếu Bắc Triều Tiên vi phạm hiệp định, thì chúng ta có thể trừng phạt và hành động mọi cách để đối phó với Bắc Triều Tiên."
H: Trung Quốc và Liên Xô có giúp được gì trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam"
Đ: Nếu nhìn lại thời Nixon cầm quyền, bỏ ra ngoài vụ Watergate, thì những thành đạt chủ yếu là đối ngoại. Không có cách gì mà Nixon lại giao chìa khóa cho người kế vị, bất kể đó là cộng hòa hay dân chủ, mà không có nam Việt Nam tự do và độc lập là một thành qủa. Nam Việt Nam, Trung Quốc, Liên Xô sẽ là những thành qủa lịch sử... Nixon nhận thức là ảnh hưởng của Trung Quốc và Liên Xô có thể giúp ông giải quyết vấn đề. Nixon tìm cách dùng Trung Quốc và Liên Xô để thương lượng một nền hòa bình cho Việt Nam. Nhưng ông thất vọng, theo tôi nghĩ, vì không đạt được những thành công trong việc dùng hai đồng minh của Bắc Việt Nam.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
(Tin VOA) - Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) vào ngày 13/9 ra thông cáo lên án Việt Nam tiếp tục lạm dụng hệ thống tư pháp để áp đặt những án tù nặng nề với mục tiêu loại trừ mọi tiếng nói chỉ trích của giới ký giả. Trường hợp nhà báo tự do mới nhất bị kết án là ông Lê Anh Hùng với bản án năm năm tù. RSF bày tỏ nỗi kinh sợ về bản án đưa ra trong một phiên tòa thầm lặng xét xử ông Lê Anh Hùng hồi ngày 30 tháng 8 vừa qua. Ông này bị kết án với cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’ theo Điều 331 Bộ Luật Hình sự Việt Nam
Từ đầu tuần đến nay, cuộc tấn công thần tốc của Ukraine ở phía đông bắc đã khiến quân Nga phải rút lui trong hỗn loạn và mở rộng chiến trường thêm hàng trăm dặm, lấy lại một phần lãnh thổ khu vực đông bắc Kharkiv, quân đội Ukraine giờ đây đã có được vị thế để thực hiện tấn công vào Donbas, lãnh phổ phía đông gồm các vùng công nghiệp mà tổng thống Nga Putin coi là trọng tâm trong cuộc chiến của mình.
Tuần qua, Nước Mỹ chính thức đưa giới tính thứ ba vào thẻ thông hành. Công dân Hoa Kỳ giờ đây có thể chọn đánh dấu giới tính trên sổ thông hành là M (nam), F (nữ) hay X (giới tính khác).
Sau hành động phản đối quả cảm của cô trên truyền hình Nga, nữ phóng viên (nhà báo) Marina Ovsyannikova đã kêu gọi đồng hương của cô hãy đứng lên chống lại cuộc xâm lược Ukraine. Ovsyannikova cho biết trong một cuộc phỏng vấn với "kênh truyền hình Mỹ ABC" hôm Chủ nhật: “Đây là những thời điểm rất đen tối và rất khó khăn và bất kỳ ai có lập trường công dân và muốn lập trường đó được lắng nghe cần phải nói lên tiếng nói của họ”.
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cử hành Ngày Quốc tế Nhân Quyền Lần Thứ 73 và Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam lần thứ 20.
Sau hơn 30 năm Liên bang Xô Viết sụp đổ, nhân dân Nga và khối các nước Đông Âu đã được hưởng những chế độ dân chủ, tự do. Ngược lại, bằng chính sách cai trị độc tài và độc đảng, Đảng CSVN đã dùng bạo lực và súng đạn của Quân đội và Công an để bao vây dân chủ và đàn áp tự do ở Việt Nam. Trích dẫn chính những phát biểu của giới lãnh đạo Việt Nam, tác giả Phạm Trần đưa ra những nhận định rất bi quan về tương lai đất nước, mà hiểm họa lớn nhất có lẽ là càng ngày càng nằm gọn trong tay Trung quốc. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Tác giả Bảo Giang ghi nhận: “Giai đoạn trước di cư. Nơi nào có dăm ba cái Cờ Đỏ phất phơ là y như có sự chết rình rập." Tại sao vậy? Để có câu trả lời, mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của nhà văn Tưởng Năng Tiến.
Người cộng sản là những “kịch sĩ” rất “tài”, nhưng những “tài năng kịch nghệ” đó lại vô phúc nhận những “vai kịch” vụng về từ những “đạo diễn chính trị” yếu kém. – Nguyễn Ngọc Già (RFA).. Mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của phó thường dân/ nhà văn Tưởng Năng Tiến để nhìn thấy thêm chân diện của người cộng sản.
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.