Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Hồng Y Nguyễn Văn Thuận Đã Tạ Thế Tại Roma

17/09/200200:00:00(Xem: 4309)
Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã tạ thế sau cơn bệnh ung thư kéo dài. Dưới đây là bản tin và tiểu sử được phổ biến bởi VietCatholic News, toàn văn như sau.
VietCatholic News (Thứ Hai 16/9/2002)
ROMA -- Chúng tôi vừa nhận được tin từ Roma cho hay là Vị Hồng Y Việt Nam yêu quí và thời danh của Việt Nam chúng ta đã tạ thế tại Roma vào lúc 6:30 chiều ngày 16.9.2002, giờ Roma (tức là 3:30 giờ sáng ngày 16.9.2002, giờ Los Angeles, California).
Tiểu Sử Đức Hồng Y Francis Xavier Nguyễn văn Thuận (1928 -2002)
Thân phụ : Nguyễn văn Ấm (chất phác, vô tư, chí khí, công chính)
Thân mẫu: Ngô đình thị Hiệp (hiền mẫu, bình dị, hòa ái)
17.04.1928: Chào đời tại họ đạo Phủ Cam, Huế, Xứ thần kinh. (Gốc Quảng Bình )
1940: 13 tuổi Vào Tiểu chủng viện An Ninh - Quãng Trị
1947: Vào Đại chủng viện Kim long. - Huế
11.06.1953: 25 tuổi Thụ phong Linh mục - Phó xứ Tam Hòa, rồi xứ Phanxicô Xavier, Tuyên úy trường Pélerin, nhà thương, nhà tù Huế .
1956: Du học Roma tại Giáo Hoàng Học viện Urbaniana. (do Đức Cha JB.Urrutia Thi MEP gởi.)
1959: Sau khi đậu Tiến sĩ Giáo luật, về nước - giáo sư Tiểu chủng viện Huế.
1961: Giám đốc Tiểu Chủng viện Hoan Thiện, Huế
1964: 36 tuổi làm Tổng Đại diện Giáo phận Huế.
24.06.1967: 39 tuổi Thụ phong Giám mục Nha Trang. Khẩu hiệu "Gaudeum et Spes -- Vui Mừng và Hy Vọng"
10.07.1967: Nhận Chính tòa Giáo phận Nha trang, là Giám Mục Việt nam tiên khởi Nha Trang
1967-1975: Chủ tịch ủy ban Truyền thông Xã hội và Chủ tịch Ủy ban phát triển HỊGMVN
1971-1978: Cố vấn Ủy ban Giáo Hoàng Tòa thánh đặc trách Giáo dân
23.04.1975: 47 tuổi Tổng Giám mục phó, quyền kế vị Tổng Giáo phận Saigon
12.05.1975: Nhậm chức TGM phó Đức TGM Paul Nguyễn văn Bình Saigon.
15.08.1975: Được mời đến và bị bắt tại Dinh Độc lập Saigon - Ngồi tù 13 năm không bản án"
23.11.1988: 60 tuổi được thả ra - tạm trú tại tòa TGM Hà Nội. (Đức Hồng Y .JM.Trịnh văn Căn)
06.04.1989: Đến Úc thăm cha mẹ, qua Roma - về Hànội - bị phát bệnh nặng!
11.1991: Trở qua Roma chữa bệnh xong - bị từ chối visa trở về nước"
24.11.1994: 66 tuổi Phó chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa Bình.
24.06.1998: 70 tuổi Chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình. Đi thuyết giảng khắp nơi .
21.02.2001: 73 tuổi nhận mũ Hồng y do Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
2001: Tháng 5 Bị bệnh có bướu bụng, qua Boton giải phẩu
28.4.2002: Về Úc thăm thân mẫu và mừng 100 tuổi của Mẹ trước khi mổ.
8.5.2002: Tháng 5 Bệnh tái phát, lên Milano mổ tiếp -
2002: Sau cuộc giải phẫu ở Milano về Roma dưỡng bệnh
(Và tiếp sau vào phải vào Bệnh Viện chữa trị với 2 lần mổ cấp cứu)
16-9.2002: Tạ thế lúc 6:30 chiều ngày 16.9.2003 tại Roma (tức là 3:30 sáng ngày 16.9 giờ Los Angeles)
Đức Hồng Y Nguyễn văn Thuận đã viết rất nhiều sách, đặc biệt nhất là "Đường Hy Vọng" về những suy tư khi còn trong tù. Sau đó khi sang Roma tiếp tục viết sách và thuyết giảng tại nhiều nơi. Sách của Ngài đã được dịch ra 12 thứ tiếng, gồm cả tiếng Trung hoa, Ả rập, v. v... Ngài cũng từng giảng cấm phòng cho các viên chức Hồng Y tại Thánh bộ Roma, và đặc biệt trước chuyến công du của Đức thánh Cha Gioan Phaolô II sang Thánh Địa, Đức Thánh Cha đã mời ĐHY Thuận giúp Ngài suy niệm và chia sẻ tư tưởng về cuộc hành hương quan trọng này.
Linh mục Paul Tâm Duy đã có những nhận xét tóm lược sau đậy về ĐHY Nguyễn văn Thuận:
"Một người có tướng cao ráo, gương mặt rộng đẹp sang cả, nét quí phái.
Một người có giọng nói mỏng, từ tốn, nhẹ nhàng, ví dỏm..
Một người thông minh và có trí nhớ dai mọi tình tiết..
Một người khôn ngoan, bình tỉnh, hiền hòa, đức độ bao dung .
Một người tự nhiên, dễ dàng thu hút cảm tình người đối thoại.
Một nhà thuyết giảng "ăn khách" đủ mọi giới .
Một bộ óc có tầm nhìn rất xa, rất rộng .
Một nhân vật óc tổ chức, có tài lãnh đạo rõ nét.
Một cuộc đời để lại nhiều dấu ấn quan phòng gợi suy nghỉ "
Là người Việt Nam và nhất là người Công Giáo Việt Nam, ai trong chúng ta cũng hãnh diện vì có một người đại diện tại Giáo Đô với những đức tính và tài năng hiếm có như vậy. Đức Hồng Y Thuận là một người Việt Nam yêu nước, là một người Công Giáo trổi vượt, là một linh mục tận tụy việc tông đồ, là ngôi sao sáng chói trong hàng Giám mục Việt Nam, là một hồng y vang danh và được qúi mến không những tại Giáo đô nhưng còn được quí mến trên khắp hoàn vũ. Ngài chính là vinh quang của Giáo Hội Việt Nam và làm rạng danh dân tộc Việt.
ĐHY Nguyễn văn Thuận: Cuộc Đời và Sự Nghiệp
Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sinh ra tại Phú Cam, thuộc Tổng Giáo phận Huế, Tỉnh Thừa Thiên, Việt Nam, ngày 17 tháng 4 năm 1928. Gia đình Ngài có 8 anh chị em: 3 trai và 5 gái, mà Ngài là con cả. Ông Bà Cụ Cố thân sinh của Ngài là Cụ Nguyễn Văn Ấm, qua đời ngày 3 tháng 7 năm 1993 tại Sydney, Australia, và Cụ Bà Elisabeth Ngô Đình Thị Hiệp. Bà là con gái của Cụ Ngô Đình Khả. Bà Cụ Cố hiện đang sống tại Sydney, Australia với người con gái Anna Hàm Tiếu và thọ trên 100 tuổi.
Đức Hồng Y Thuận thuộc một gia đình có truyền thống công giáo lâu đời và tổ tiên từng bị bách hại vì đạo từ năm 1698.
Từ còn nhỏ, Cậu Thuận được giáo dục trong một gia đình đạo đức và do bà mẹ Elisabeth gương mẫu thánh thiện. Bà lo giáo dục cậu khi còn nhỏ, mỗi tối bà dạy con những truỵện Kinh thánh, kể cho cậu nghe lịch sử các Thánh Tử đạo Việt Nam, nhất là về tổ tiên của dòng tộc, giới thiệu cho cậu gương Thánh Nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu; dạy con biết yêu thương và tha thứ cho mọi người; bà cũng dạy cậu hết lòng yêu mến Tổ Quốc Việt Nam.
Khi lớn lên Cậu Thuận nhập Tiểu chủng viện Anh Ninh và sau đó theo học triết học và thần học tại Đại chủng viện Kim Long, Huế. Thày Thuận lãnh chức linh mục ngày 11 tháng 6 năm 1953. Sau khi chịu chức linh mục cha mới Thuận được cử đi làm Phó xứ Họ Thánh Phanxicô Xaviê, Huế, lúc đó Cha sở là Cha Darbon, quen gọi là Cố Triết. Năm 1956 Ngài được gửi sang theo học Phân khoa Giáo luật thuộc Đại học Giáo hoàng Urbaniana, tại Rôma của Bộ Truyền giáo từ năm 1956-1959, và đã đậu tiến sĩ Giáo luật năm 1959, với kết quả ‘maxima cum laude’ với đề tài ‘Tuyên úy quân đội trên thế giới’. Khi học tại Rôma, Cha Thuận đã được cùng Đức Cha Phêrô Maria Ngô Đình Thục (Giám mục Vĩnh Long) là Cậu ruột vào triều yết Đức Thánh Cha Piô XII.
Khi về nước, Cha Thuận được cử làm giáo sư, rồi năm 1962 được cử làm giám đốc Tiểu chủng viện Hoan Thiện từ năm 1959 đến năm 1967 và làm Tổng Đại Diện Tổng Giáo phận Huế từ năm 1964-1967.
Ngày 13 tháng 4 năm 1967 Cha Thuận được Đức Thánh Cha Phaolô VI bổ nhiệm làm giám mục Việt Nam tiên khởi Giáo phận Nha Trang thay thế Đức Cha Paul Raymond Piquet Lợi M.E.P. (Đức Cha Lợi, làm giám mục Nha Trang từ 1957-1967). Lễ truyền chức Giám Mục được cử hành vào ngày 24 tháng 6 năm 1967, lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, tại Huế, do Đức Cha Angelo Palmas, Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam Lào va Campuchia, chủ phong. Khẩu hiệu của Đức Tân giám mục là ‘Vui Mừng và Hy vọng’ (Gaudium et Spes), tên của Hiến chế mục vụ của Công đồng chung Vaticanô II.
Ngày 10 tháng 7 năm 1967, Đức Cha Thuận đã về nhận Giáo phận Nha Trang. Trong 8 năm làm giám mục, Đức Cha đã làm hết sức để phát triển Giáo phận Nha Trang, trước khi thời gian khốn khó xẩy đến (xc. Năm chiếc bánh và hai con cá, tr. 26).

Trọng tâm hoạt động của Ngài là huấn luyện nhân sự, gia tăng đại chủng sinh từ 42 đến 147; số tiểu chủng sinh từ 200 đến 500 trong 4 chủngviện; tổ chức các khóa tu nghiệp cho các linh mục trong 6 giáo phận nằm trong 6 tỉnh Miền Trung Việt Nam; phát triển và huấn luyện các phong trào thanh niên, giáo dân, các hội đoàn giáo xứ, mục vụ, qua các khóa như Phong trào Công lý và Hòa bình, Cursillos và Focolare, Hướngg đạo; thành lập Cộng đoàn La vang, Tu hội Hy Vọng.
Để hướng dẫn cộng đoàn giáo phận Nha Trang, Đức Cha Thuận đã viết 6 thư luân lưu:
Tỉnh thức và cầu nguyện (1968)
Vững mạnh trong Đức tin, Tiến lên trong An bình (1969)
Công lý và Hòa bình (1970)
Sứ mạng Chúa Kitô là sứ mạng của chúng ta (1971)
Kỷ niệm 300 năm (1971)
Năm Thánh Canh tân và Hòa giải (1973).
Trong khuôn khổ Hội Đồng Giám Mục Miền Nam Việt Nam, Ngài là Chủ Tịch Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình, rồi Chủ tịch Ủy Ban Truyền thông xã hội; Chủ tịch Ủy Ban phát Triển Việt Nam; đảm trách hoạt động của cớ quan lo cho các người di tản từ các vùng chiến tranh về vùng an toàn. Ngài là một trong những Giám mục thành lập Đài Phát thánh công giáo ‘Chân Lý Á Châu’ (Veritas Asia, Manila). Ngài đã nhiều lần tham dự các khóa họp của Liên Hội Đồng Giám mục Á Châu (F.A.B.C.). Ngài được chọn làm cố vấn Hội Đồng Tòa Thánh về Giáo dân từ năm 1971-1975. Và trong những lần đi họp Hội Đồng này, Ngài đã có dịp gặp Đức Giáo hoàng đương kim Gioan Phaolô II, lúc đó là Tổng Giám mục của Giáo phận Cracovia (Ba Lan), để học hỏi các kinh nghiệm mục vụ trong những giai đoạn khó khăn dưới chế độ cộng sản ở Ba Lan. Ngài cũng được bổ nhiệm làm cố vấn, rồi thành viên của Bộ Truyền giảng Tin mừng cho các Dân tộc; thành viên của Bộ Phụng Tự và Kỷ luật Bí tích.
Ngày 24 tháng 4 năm 1975, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã bổ nhiệm Ngài làm Giám mục Phó với quyền kế vị Tổng Giáo phận Sàigon, và thăng chức Tổng Giám mục hiệu tòa Vadesi. Nhưng nhà cầm quyền cộng sản thời đó không chấp nhận cho Ngài về Sàigon và đã dùng bạo lực đưa Ngài ra lại Nha Trang.
Ngày 15 tháng 8 năm 1975, Lễ Đức Mẹ Linh hồn và xác lên trời Ngài đã bị bắt giải ra Nha Trang, giam ở Cây Vông, sau đó là Nhà tù Nha Trang, Phú Khánh; nhà tù Thủ Đức; rồi được đưa ra Bắc Việt. Ngài sống trong lao tù 13 năm, trong đó 9 năm biệt giam, trong các trại giam Vĩnh quảng (núi Vĩnh phú), nhà giam của Công an thành phố Hà Nội, rồi bị quản thúc tại Giang xá. Trong năm tù thứ nhất 1976, Ngài đã viết cuốn ‘Đường hy vọng’. Cuốn sách này được Ngài coi là di chúc tinh thần của Ngài gửi tới mọi người công giáo Việt Nam trong và ngoài nước. Sau khi nghe những bài giảng trong đó có những chứng tá về những năm tù ngục của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận trong tuần tĩnh tâm Mùa Chay của Giáo triều Rôma năm 2000, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã có cảm nghĩ như sau trong thư gửi cho Đức Hồng Y, ngày 18-3-2000: ‘Tôi đã ước mong rằng trong năm Đại toàn xá này, có một chỗ đặc biệt được dành cho chứng tá của những người ‘đã chịu đau khổ vì đức tin, đã trả bằng máu sự gắn bó của họ đối với Chúa Kitô và Giáo hội, hoặc chịu đựng những năm thật dài cảnh tù ngục và thiếu thốn đủ loại’ (Tông sắc Mầu nhiệm nhập thể số 13) (Chứng nhân hy vọng, tr. 8).
Ngày 21 tháng 11 năm 1988, lễ Đức Mẹ dâng mình trong Đền thánh, Ngài được thả tự do và được đưa về cư trú tại Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội, nhưng không được phép thi hành công việc mục vụ. Sau đó Ngài được phép đi thăm Ông Bà Cố tại Sydney, Australia, đi Rôma triều yết Đức Thánh Cha, rồi trở về Hà Nội. Năm 1991 Ngài được phép ra nước ngoài và sau đó không được phép trở về Việt Nam. Từ đây Ngài sống cuộc đời lưu vong, nhưng Ngài luôn hiện diện với Giáo hội tại Việt Nam và quê hương Việt Nam. Ngài luôn lo lắng giúp đỡ các công tác xã hội, như các trại phong cùi, các công tác bác ái từ thiện, các công trình nghiên cứu và phổ biến văn hóa Việt Nam và Văn hóa Công giáo Việt Nam, việc trùng tu và xây cất các thánh đường, việc huấn luyện các chủng sinh và giáo dân, theo khả năng Ngài có thể. Trước mọi đau khổ và bách hại bản thân và Giáo hội, Ngài luôn sống và rao giảng sự tha thứ và hòa giải.
Trong thời gian ở ngoại quốc, Ngài đã được mời đi giảng và thuyết trình ở nhiều nơi và cho nhiều giới khác nhau, như tại nhà thờ chính tòa Paris trong một Mùa Chay, hoặc nói truyện tại các Đại học Công giáo trên thế giới; tại Mễ tây cơ vào tháng 5 năm 1998 cho hơn 50.000 giới trẻ. Ngày 11 tháng 5 năm 1996, Ngài lãnh bằng tiến sĩ danh dự tại Đại học Dòng Tên ở New Orleans, LA, Hoa Kỳ. Bộ Truyền giáo cũng ủy thác cho Ngài thi hành các cuộc thăm viếng và kiểm tra các chủng viện tại một số nước ở Phi Châu.
Ngài cũng nhận được những huy chương để đề cao cuộc sống chứng tá, hoạt động kiến tạo hòa bình của Ngài. Ngày 9 tháng 6 năm 1999, Chính Phủ Pháp đã trao tặng Ngài huy chương ‘Commandeur de l’Ordre National du Mérite’ (tại Tòa Đại sứ Pháp bên cạnh Tòa thánh). Ngày 12 tháng 12 năm 2000, tại Tòa Thị chính Rôma, Hội ‘Cùng nhau xây dựng hòa bình’ đã trao tặng huy chương cho Ngài. Tại Torino, ngày 20 tháng 10 năm 2001, Ngài lãnh giải hòa bình do tổ chức SERMIG - hiệp hội truyền giáo của giới trẻ. Sau cùng, ngày 9 tháng 12 năm 2001, Trung tâm Nghiên cứu G. Donati đã trao tặng Ngài giải thưởng hòa bình năm 2001.
Ngày 24 tháng 11 năm 1994 Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm Ngài làm Phó Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh ‘Công lý và Hòa Bình’ và sau đó vào ngày 24 tháng 6 năm 1998, Ngài được bổ nhiệm làm chủ tịch Hội đồng này, thay thế Đức Hồng Y Roger Etchegaray, nghỉ hưu. Ngài giữ chức vụ Chủ tịch cho tới ngày nay.
Sau thời gian bị cầm tù, Ngài đã bị giải phẫu 7 lần, trong đó có ba lần suýt chết vì nhiễm trùng. Lần giải phẫu áp chót vào ngày 17 tháng 4 năm 2001 tại một bệnh viện ở Boston, Hoa Kỳ và cuộc giải phẫu cuối cùng vào ngày 8 tháng 5 năm 2002 tại Trung tâm nghiên cứu về ung thư, Milano (Bắc Italia). Ngài trở bệnh nặng từ đầu tháng 6 năm 2002 và được đưa vào cấp cứu tại Bệnh Viện Agostino Gemelli thuộc Đại học Công giáo Thánh Tâm, Rôma. Sau đó được đưa về Bệnh viện Piô XI để tiếp tục điều trị.
Đặc biệt Mùa Chay năm 2000, Ngài được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mời giảng cấm phòng Mùa Chay cho các viên chức tại Giáo triều Rôma, bắt đầu thiên niên kỷ thứ III. Đức Thánh Cha noí với Đức Hồng Y Thuận: ‘Năm đầu tiên của Ngàn Năm thứ ba, một người Việt Nam sẽ giảng tuần Tĩnh tâm cho Giáo Triều Rôma’. Rồi Đức Thánh Cha nói tiếp: ‘Hãy kể lại cho chúng tôi những chứng tá của Đức Cha’. Trong dịp này, sau khi được Đức Thánh Cha tiếp riêng và tặng một chén lễ, Đức Hồng Y Thuận đã nói như sau: ‘Cách đây 24 năm, khi cử hành Thánh lễ với 3 giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay, tôi không bao giờ tưởng tượng, ngày hôm nay Đức Thánh Cha tặng tôi một chén lễ mạ vàng’ Thiên Chúa thật cao cả và Tình thương của Ngài cũng cao cả’ (Chứng nhân hy vọng, tr. 12.13).
Ngày 21 tháng 2 năm 2001 trong cuộc họp mật viên các Hồng Y, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã trao mũ Hồng Y cho Ngài và đặt Ngài làm Hồng Y Phó tế, hiệu tòa Nhà thờ Santa Maria della Scala (Đức Mẹ tại các bậc thang). Nhà thờ này do các Cha dòng Đức Mẹ Núi Carmelo coi sóc, nằm tại vùng Trastevere, Rôma.
Ngài qua đời lúc 18 giờ ngày 16 tháng 9 năm 2002 tại Rôma.
Rôma, ngày 16-09-2002.
Văn Phòng Phối Kết Mục Vụ VN Hải Ngoại

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Vào giữa tháng 3, chưa đầy một tháng sau khi Nga xâm lăng Ukraine, nhà khoa học chính trị Francis Fukuyama đã đưa ra một dự đoán nổi bật: Ukraine sẽ chiến thắng. Sáu tháng sau, Ukraine đang trên đà tấn công và tái chiếm lãnh thổ quan trọng giữa nhiều dấu hiệu là quyết tâm của Nga đang suy yếu. Các bản tường thuật chỉ ra rằng vũ khí và thông tin tình báo do Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh khác cung cấp đang mang lại cho cuộc phản công của Ukraine một sự thúc đẩy nghiêm trọng. Liên minh NATO vẫn bền vững và đoàn kết đứng sau Ukraine, bất chấp nỗ lực của Nga nhằm làm suy yếu sự thống nhất đó bằng cách hạn chế xuất khẩu khí đốt tự nhiên sang châu Âu...
Trong thời đại kinh tế toàn cầu hoá dựa vào tri thức và thông tin, thì kiến thức trở thành sức mạnh và Internet là phương tiện kết nối. Các kiến thức mới đang được phổ biến tự do trên khắp thế giới và mọi người có thể truy cập được dễ dàng hơn. Trước các chuyển biến dông bão này, tình hình cạnh tranh giữa các cường quốc không chỉ còn nằm trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế và an ninh mà còn canh tân kỹ thuật và nhiều quốc gia cảm thấy đang bị đe dọa bởi sự tụt hậu về kiến thức và trang bị kỹ thuật số...
Cả hai nhà lãnh đạo nữ này đều là những nhân vật xuất chúng, những phụ nữ đầu tiên giữ các vị trí lãnh đạo cao cấp bậc nhất trên đất nước họ. Hình ảnh hai bà kề vai sát cánh trên trường thế giới bất chấp một siêu cường do đàn ông thống trị chuyên đi bắt nạt các quốc gia nhỏ hơn, quả là một thách thức tương phản và là một biểu tượng dũng cảm của thời đại...
Chuyến thăm của bà Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi ở Đài Loan tạo thêm sự đe doạ mới của Trung Quốc đối với hòn đảo này, nó được tạo ra do nhu cầu duy trì việc kiểm soát đối với tình hình ở eo biển Đài Loan sau những chiến thắng bầu cử liên tục của đảng ủng hộ sự độc lập của Đài Loan...
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình... Một cái nhìn viễn kiến về mối hiểm họa xung đột giữa các quốc gia trên thế giới, của nhà Chính trị học lừng danh Samuel P. Huntington, do Bác sĩ Hồ Văn Hiền chuyển ngữ và chú thích. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
✱ MI5: ĐCSTQ áp dụng cách tiếp cận cấp nhà nước, trong đó các doanh nghiệp và cá nhân bị pháp luật TQ buộc phải hợp tác với Đảng ✱ SHU Yenjoon, sĩ quan tình báo Trung Quốc đã bị kết án về tội đánh cắp bí mật thương mại trong lĩnh vực hàng không Hoa Kỳ ✱ MI5: Để ngăn chặn, năm 2020, Hoa Kỳ ngừng cấp thị thực mới cho các nhà nghiên cứu từ các trường đại học Quân đội PLA ✱ ALJ: Giám đốc FBI Cảnh báo các công ty phương Tây rằng Bắc Kinh quyết tâm đánh cắp công nghệ của họ để đạt được lợi ích cạnh tranh. ✱ ĐS Trung Quốc tại London đã bác bỏ các cáo buộc của McCallum (MI5) và Wray (FBI), là "hoàn toàn vô căn cứ”. ✱ AFP: TMT Liên Quân Mỹ cáo buộc ông Tập Cận Bình thất hứa...
SPIEGEL phỏng vấn Ngoại trưởng Mỹ huyền thoại về nỗi ám ảnh và lệnh ngừng bắn của Putin...
Báo cáo năm 2021của Welthungerhilfe, một tổ chức cứu đói quốc tế được thành lập tại Đức từ năm 1992, vừa được phổ biến gần đây, cho thấy thực tế đã đánh tan bao hy vọng. Bảng chỉ số về nạn đói của báo cáo đã báo động về các nguy cơ dinh dưỡng của dân số thế giới và nguồn cung ứng lương thực trong toàn cầu...
Omar là con trai thứ tư của Bin Laden, người khủng bố giết người nổi tiếng khắp thế giới mà vụ gây chấn động hơn hết là vụ 9/11 ở NY năm 2001, hiện đang chọn sanh sống ở Normandie, vùng biển cực Bắc nước Pháp, với nghề vẽ tranh. Hôm đầu tháng 6 vừa qua, ông gặp nhà báo Charles Guyard của tuần báo Le Point, trong câu chuyện với nhà báo, ông kể lại tại sao ông chọn nước Pháp để sanh sống và may mắn, được Pháp chập nhận...
Ba người phụ nữ đầu tiên trên thế giới, được bầu cử vào chức vụ thủ tướng. Năm 1949, Hiến Chương Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh vai trò bình đẳng giữa phái nam và phái nữ, trong mọi lãnh vực, nhưng thời đó chưa có một lãnh đạo quốc gia nào trên thế giới do dân bầu lên là phụ nữ cả...
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.