Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Truyện Ngắn Chọn Lọc

08/03/200300:00:00(Xem: 4727)
Người muôn năm cũ

Bảo Vũ

LTS: Trong số những nhà văn ở Việt Nam hiện nay, Bảo Vũ là một trong những người tạo dựng thành công cá tính nhân vật qua đối thoại. Truyện ngắn “Người muôn năm cũ” của ông dưới đây chỉ có 2 nhân vật chính là Bà nội vào người Cháu gái, nhưng qua lời đối thoại đầy sống động và sự hồi tưởng của nhân vật, cùng bóng dáng quá khứ và hiện tại chồng chéo ngang dọc, độc giả đã có cơ hội nhìn vào những góc cạnh riêng tư của hai tâm hồn, hai quan niệm về tình yêu, sản phẩm điển hình của hai thời đại đầy dị biệt. Với khoảng cách tuổi tác giữa bà và cháu, và cách xây dựng nhân vật qua đối thoại cùng ngôn ngữ nội tâm, Bảo Vũ đã tạo cho độc giả niềm khao khát hạnh phúc được tìm về với dĩ vãng, được sống với người tình xưa. Hoài niệm quá khứ, thủy chung tưởng nhớ một người tình... ở thời đại nào, và với ai, cũng là một niềm hạnh phúc trong đó có sự tiếc nuối, bùi ngùi và chua xót. Nhưng niềm hoài niệm quá khứ và sự thủy chung thương nhớ người tình của nhân vật Bà nội và quan niệm sống đầy thực tế của người Cháu gái trong truyện còn khiến người đọc thao thức muốn tái tạo một thời đại, ở đó, nhân phẩm, tư cách, kiến thức và những giá trị luân lý được tôn trọng. Trong truyện, tuy Bảo Vũ không hề có bất cứ từ ngữ nào đề cập đến chế độ chính trị CS hiện hành tại VN, nhưng qua nội dung câu truyện, qua các địa danh và lời đối thoại của hai nhân vật, và nhất là qua khoảng cách nửa thế kỷ thời gian giữa Bà và Cháu, độc giả dễ dàng nhận thức được người Cháu gái là nhân vật điển hình đại diện cho sản phẩm “trồng người” của chế độ CS, và Bà nội là nhân vật đại diện cho sản phẩm của thuở vàng son, nhân nghĩa, lễ giáo trước đó 50 năm, cho dù thời đó, Việt Nam sống dưới ách đô hộ của Pháp. Đặc biệt, câu nói thẳng thừng của Bà nội khi nhắc đến người tình xưa của mình, "Bọn con trai chúng nó bây giờ học hành đến mấy, cũng chẳng bằng được người như ông ấy", đã cho thấy, cái quá khứ ngày xưa khi chưa có CS đã tạo ra những con người vừa tài hoa, vừa có kiến thức, lại có tư cách và nhân phẩm. Hai nhân vật khác, ông lang Phổ Độ và ông đồ Đền Mẫu, tuy chỉ thoáng xuất hiện trong truyện, nhưng ngôn ngữ, khẩu khí cùng tuổi đời trên dưới 70 tuổi của họ, đã làm rõ thêm dụng ý của tác giả: Vẽ lên cái quá khứ đôn hậu, có thủy có chung, có nhân nghĩa lễ trí tín, được ướp trong “cái khí xuân thanh sạch nguyên sơ của một thời đã mất”. Đọc truyện, người đọc ngạc nhiên khi thấy Nga tính toán khôn ngoan, nói năng đôi lúc sống sượng, sẵn sàng chạy theo tiếng gọi của vật chất và công khai phô bầy sự tính toán đầy vật chất của mình, mà vẫn giữ nguyên vẻ hồn nhiên, ngây thơ, thông minh dễ thương của một người con gái Hà Nội ở tuổi dậy thì. Trong khi đó thì Hà, bạn gái của Nga thản nhiên a dua với Nga; và Hoàng, người đàn ông có tư cách, đã thầm yêu trộm nhớ Nga từ lâu, cùng Bà nội, người rất thương Nga, thì vẫn thụ động, không hề chống đôái, hay có bất cứ ước nguyện nào muốn cảm hóa Nga. Phải chăng điều này chứng tỏ, trong một xã hội như xã hội CS, khi thói xấu, lòng tham lam, ích kỷ, đầu óc tính toán vụ lợi... đã trở thành “phổ quát, đại trà”, thì mọi người, ngay cả những người ở lứa tuổi đầy lý tưởng và mộng mơ cũng đều không còn biết xấu hổ, và cũng chẳng hề nghĩ đến chuyện phải giấu diếm những tính xấu đó. Dĩ nhiên, sống trong một xã hội như vậy, dù cha mẹ, ông bà là người đàng hoàng và yêu thương con cháu, cũng không ai dám có ý định dậy dỗ cho con cháu trở thành người sống có đạo đức, có nhân phẩm. Vì vậy, ta có thể nói, thái độ tuy đau xót nhưng dễ dãi chấp nhận để cho cháu Nga hư hỏng, chấp nhận để cháu lấy phải người chồng không ra gì, mặc dù vẫn luôn luôn yêu thương cháu, của Bà Ngân, tuy có phần không hợp lý, nhưng đã phản ảnh trung thực bi kịch lớn nhất của xã hội Việt Nam dưới chế độ CS: Bi kịch nhà trường và xã hội đồng lõa trở thành công cụ nhào nặn thế hệ trẻ theo khuôn mẫu của CS, trong khi giáo dục gia đình, giềng mối cuối cùng trong việc đào tạo con người, cũng bị đông lạnh. Và như vậy, trong chế độ CS, càng ngày người Việt Nam càng khó có thể tìm lại được “cái khí xuân thanh sạch nguyên sơ của một thời đã mất”... Cảm ơn nhà văn Bảo Vũ đã sáng tác một câu truyện vô cùng ý nghĩa, và sau đây, Sàigòn Times xin trân trọng giới thiệu cùng qúy độc giả truyện ngắn “Người muôn năm cũ”.

Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ"
(Ông đồ - Vũ Đình Liên)

Nga vừa trút bỏ quần áo vứt bừa lên ghế, vừa hỏi bà nội:
- Có ai hỏi con không, bà"
- Có một cậu; người trông đứng đắn, lễ độ lắm.
- Bà thì chỉ để ý người đứng đắn với không đứng đắn. Thế hắn ta cao thấp, gầy béo, đẹp
xấu,... thế nào"
- Cái con này. Cứ nhìn con giai ở mã ngoài, rồi là khổ một đời đấy con ạ!
Nga lăn ra giường, trên mình độc một cái quần con, ôm lấy bà:
- Cháu mà vớ phải một tên đứng đắn nhưng lại kiết xác, thì mới khổ đời. Thế sao bà biết là hắn đứng đắn.
- Cậu ấy trông cao ráo. Đi xe máy...
- À, được rồi. Con sẽ nạp vào bộ nhớ: Người đứng đắn là người cao ráo, đi xe máy - Nga cười khúc khích - Thế xe gì, Wave hay Spacy, bà"
- Con nỡm. Làm sao bà biết được xe gì. Bà đã nói xong đâu. Cậu ấy đi xe trong ngõ rất chậm, không bấm còi, lại không chiếu đèn chói mắt người ta như đám con nhà Soạn thịt chó trong kia. Cậu ấy hỏi bà nhẹ nhàng lắm. Bà cũng muốn có người nói chuyện, mới đưa chìa khóa bảo: "Cháu mở cửa hộ bà, vào đây chờ Nga". Nhưng cậu ấy giữ ý, không vào. Nhà có mỗi bà lão lẩm cẩm... Thế là người tốt chứ gì"
- Trộm bây giờ siêu lắm bà ơi. - Nga vừa nói vừa ngáp - Hắn không dám vào vì thấy bà mời. Sợ "kẻ cắp gặp bà già". Biết đâu bà có Tê-cun-đô lại cho hắn một cước thì toi. Lần sau, bà cứ ra vẻ không cho hắn vào là hắn tìm cách vào bằng được cho mà xem.
- Con ranh này. Cậu ta bảo là trước cùng họ với mày. Tên là Hoàng.
- Á, à! "Hoàng hấp". - Nga bật cười khanh khách - Người tình cũ. Xưa bà gọi là gì nhỉ" À, "nhân ngãi" của con đấy bà ạ! Xe ấy là xe đi mượn. Hắn đang ở tận miền trung.
- Ừ, nó nói là làm tàu thủy chở hàng từ miền trung ra. Rẽ vào thăm bạn học cũ.
- "Cử động" quá. Tên Hoàng này trước đây sốt cao vì con đấy. Nhưng nhà thì ở tít khu trỏng, lại chỉ độc một món “tim trần” nên hết khóa học, con đánh trượt. Tội gì phải chập với một tên chỉ biết yêu không thôi, bà nhỉ"
- Nói với năng. Ngày xưa con gái mà ăn nói thế là chết đòn, con ạ. Phải thưa gửi, gọi dạ bảo vâng. Cấm có nói tục, nói lóng. Nhỡ miệng thì vả gẫy răng. Mà có dậy mặc quần áo vào không. Cứ trùng trục như đô vật thế này, cảm lạnh thì sao"
Nhưng Nga đã khẽ ngáy gừ gừ như một con mèo con, không để ý đến bài giáo huấn của bà nội. Bà Ngân phải trở dậy lấy cái váy ngủ, rồi vần thân hình Nga lăn lóc một hồi mới mặc được vào cho nó. Bà mệt, vừa thở vừa mắng yêu: "Cha bố nó, nặng như cái cối đá lỗ. Ngày trước, bằng ngần này là đã con bồng con mang". Bà tắt đèn, nằm xuống, phe phẩy cái quạt giấy quạt cho cháu, dù cái quạt trần đang quay.
Đêm đã khuya. Bà Ngân chập chờn giấc ngủ của người già. Tiếng xe cộ ì ầm xa xa. Chợt Nga trở dậy, nhảy thịch xuống giường. Bà nhìn thấy trên nền sáng khuôn cửa sổ, thân hình dậy thì của Nga lồ lộ trong chiếc váy mỏng, ngửa cổ tu bình nước.
- Con gái con đứa mà uống nước như thế à!
- Bà tinh mắt nhỉ. - Nga trèo lên giường, ôm lấy bà nội, cù vào nách. Bà không cười, mà chính nó lại khúc khích - Con đi lấy chồng, không còn ai để mắng mỏ, bà có buồn không"
- Cha bố mày. Bà yêu thì bà mới mắng, cho nên người chứ!
- A, bà cũng yêu đấy nhé! - Ngụm nước lạnh làm Nga tỉnh ngủ - Thế ngày xưa, bà có yêu ông nội không" Gọi là gì nhỉ" À, "phải lòng"! Hôm nọ con thấy ảnh của ông ở cái thẻ gì ấy. Ông để đầu đinh. Trông mô-đen lắm.
- Hồi ấy ông đi làm ký lục lộ trên mạn ngược, bị ngã nước rụng hết tóc, rồi mọc lại ngứa quá, mới húi "cua".
- Thế nên bà mới phải lòng...
Nga lại cười khúc khích. Nó thừa biết cái ông để đầu đinh ấy chỉ là ông nội của nó. Còn người mà bà nó đã "phải lòng" là kép chính của một gánh chèo lang thang. Ông ta con nhà giàu, có học, viết chữ nho đẹp có tiếng; lại có hoa tay, vẽ vời cắt giấy phết hồ chẳng thua thợ hoa man, làm được cả phông màn cho những cảnh diễn. Đã có lần bà hãnh diện nói về người ấy: "Bọn con trai chúng nó bây giờ học hành đến mấy, cũng chẳng bằng được người như ông ấy".
- Bà kể về ông ấy đi.
.........
...Tan đêm chèo, người ấy để nguyên quần áo của chàng Ngưu Lang, tất tả đi vội đến chiếc cầu đá đứng đợi Ngân. Còn Ngân thì không sao thoát ra khỏi căn buồng có cánh cửa gỗ lim kiên cố bị người dì ghẻ khóa trái.
- Rồi làm sao mà bà thoát ra được"
- Anh Ngọ là lực điền của nhà, cũng quen biết người ấy, đã trèo lên nóc nhà, dỡ mái, dòng dây thừng xuống, kéo bà lên. Trăng sáng vằng vặc soi rõ khuôn mặt anh ta buồn rười rượi. Này, hôm nay bà thấy cái cậu Hoàng ấy trông mặt cũng rầu rầu như thế. Người nào cũng vậy; Thời nào cũng vậy. Cứ vướng vào dây tình là khổ. Thì ra anh Ngọ cũng phải lòng con gái nhà chủ.
- Ôi, các cụ cũng "tay ba tay tư, lằng nhằng dây điện" nhỉ"
Ngọ nhón những cọng rạ lợp mái nhà vướng trên tóc Ngân. Cô để yên cho anh ta được làm chuyện đó như một sự thưởng công. Những ngón tay chẳng hề chạm vào tóc Ngân, mà anh ta cũng thấy như đang được hưởng một hạnh phúc to lớn lắm. Ngân cảm thấy thế khi nhìn vào khuôn mặt vuông chữ điền rạng rỡ ánh trăng.
- Cô chạy ngay ra cầu Đá đi. Mau lên,... cậu ấy đứng đợi ở đấy lâu rồi. Cô đi may mắn nhá. Rồi nhắn tin về... cho tôi mừng. - Ngọ vừa nói vừa nuốt nghẹn.
Ngân chạy tắt qua lối vườn Chùa. Khu vườn ngay giữa trưa cũng âm u lạnh lẽo với tiếng cú rúc và tắc kè kêu ghê rợn. Mặc Bà chúa Thượng ngàn xống áo mớ ba mớ bảy vắt vẻo đưa võng trên cây, cười lanh lảnh trêu chọc; mặc ông Hoàng Mười cân đai bối tử trừng mắt đứng bên lăng Sư tổ; mặc cái Gái chết oan ức, quần áo trắng lòa lòa ngồi xõa tóc nỉ non khóc dưới cây quéo kia, Ngân chạy thục mạng, thoát khỏi khu vườn đầy những bóng ma. Rồi cô cắt ngang qua lối gò Trành là nơi chôn người chết. Ngân chạy như ma đuổi. Mà ma đuổi thật. Nghe rõ tiếng chân thình thịch phía sau. Ngân vấp vào một tấm bia đá, ngã như trời giáng. Không phải ma đuổi mà là Ngọ chạy hộ tống đằng sau. Anh nâng Ngân lên, lấy ống tay áo lau máu trên môi cô, nhặt cái tay nải quần áo, tư trang khoác lên vai Ngân:
- Còn một quãng đường quang nữa thôi. - Anh ta đứng trên gò nhìn theo Ngân.
Ngân đến nơi. Trên cầu vắng tanh. Một bóng người đang lúi húi đặt đăng đó dưới chân cầu. Ngân hỏi vọng xuống:
- Bác đánh đăng ơi! Vừa rồi bác có thấy ai đứng trên cầu không"
- Có. Đứng lâu lắm. Khăn áo phơ phất như phường chèo. Nhưng đi rồi.
- Đi lâu chưa, bác"
- Chừng giập bã trầu.
Chiếc cầu trơ trọi. Trụ cầu bằng đá đẽo. Mặt cầu lát đá phiến nhẵn bóng, mỗi phiến bằng nửa cái sập gụ. Ánh trăng khuya làm chiếc cầu sáng sủa mới mẻ như thể nó vừa hóa thành đá xong. Ngân đứng chết lặng trên cầu, nghe có tiếng còi tàu hỏa xa lắc ở phía nhà ga, nơi những ngọn đèn mờ mờ sương đêm. Người ấy đã không thể đợi thêm được. Gánh chèo phải đi kịp chuyến tàu sớm, ngược lên Lạng Sơn, rồi đến hát ở những làng mạc dọc sông Thương. Bao nhiêu đường đất; mịt mù bóng chim tăm cá.
* * *
- Bà cũng lãng mạn nhỉ"
- Cha bố mày. Chỉ được cái hỗn. Bà là bạn mày đấy à"
- I'm sorry!
- Cái gì" Con ranh. Mày rủa cả bà à"
- Đâu mà, ấy là con xin lỗi. Bà có biết không, tên Hoàng ấy cũng lãng mạn một cục. Hắn viết thư cho con, y như phim - Nga ghé sát miệng vào tai bà thì thầm. Môi nó mềm ướt như môi đứa bé còn bú mẹ; hơi thở nóng hổi - “Tàu chạy giữa hai bờ con sông lạ. Nước sông đục ngầu, nhưng hoa cỏ trên bờ tươi xanh. Tôi ước được là thuyền trưởng; tôi sẽ cho tàu cập bờ, lên hái một bó hoa dại thật lớn gửi cho Nga. Vì, lúc đó tôi rất nhớ Nga. Nhớ lắm! Nga ơi!" Con viết cho hắn rằng phải bỏ ngay cái kiểu ngồi trên nóc tàu gật gù lơ mơ, nhỡ lộn cổ xuống sông; lại làm con tốn oan nước mắt. Thế mà hắn viết lại rằng, nếu được con khóc thương thì hắn sẵn sàng nhảy xuống sông...
Nga lại ngủ được ngay, lại gừ gừ khe khẽ như con mèo con.
* * *
Ngân đọc đi đọc lại lá thư một người làng đi buôn trên mạn ngược về, chuyển cho cô. Thư của người ấy. Những chữ rất đẹp viết bằng mực tím. Cô đã thuộc cả những chữ cô không hiểu:
Phủ Lạng Thương, le 25 Novembre 1941
...Ngân ơi! Cái đêm hôm đó Ngân không đi cùng với tôi, thì tôi cũng không dám trách gì Ngân, mà chỉ hận trời xanh. Âu cũng là oan trái từ tiền kiếp nên đôi ta mới lỡ dở... Thôi thì đành đợi kiếp sau. Tôi cầu chúc cho Ngân gặp được người ý hợp tâm đầu, bách niên giai lão. Còn tôi thì trọn đời thương nhớ Ngân. Viết đến đây, lòng tôi đau như dao cắt; tôi nhớ Ngân lắm, Ngân ơi. Mà tôi biết, Ngân cũng chưa quên được tôi. Thật là: Người đi Tam Đảo Ngũ Hồ. Người về khóc trúc thương ngô một mình. Non non nước nước tình tình. Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ...
Đầu năm sau, Ngân lấy chồng. Cái đám mà bố Ngân và dì ghẻ đã xếp đặt từ trước. Anh chàng này con nhà giầu ở Hải Phòng "làm bàn giấy", trông hiền như đất mà cục tính. Anh ta phong thanh biết chuyện, ghen. Có lần đánh Ngân toạc cả đầu, nhưng Ngân vẫn không quên được người ấy; cả khi bố Nga ra đời. Sau này, bố Nga tính cũng cục cằn. Cũng ghen bóng, mà vợ thì lại là người nhan sắc, giao thiệp rộng. Bố Nga đánh vợ đến nỗi phải bỏ nhau khi Nga còn chưa biết đi. Nga được bà nội nuôi từ nhỏ, không nhớ nổi mặt mẹ.
Sáng hôm sau, chủ nhật, Nga ra đầu ngõ mua bát xôi ngô cho bà; rồi son phấn, phóng xe đi mất. Bố Nga ra hiệu sách. Bà Ngân lại ngồi một mình bên cửa sắt xếp. Bà sợ những lúc ngồi một mình, cũng như sợ giấc ngủ chập chờn. Như những kẻ từng chọc trời khuấy nước, đã hết thời; như những giai nhân, mỹ nữ về già; bà Ngân thường ngồi nhớ một thời xuân sắc bà từng có.
Hoàng lại đến, rụt rè lễ độ chào bà như tối hôm qua.
- Hoàng đấy à. Cháu vào đây nói chuyện, chờ Nga. Nó sắp về bây giờ.
Ban ngày, trông Hoàng cũng điển trai. Cũng dáng hào hoa lịch sự như người ấy ngày xưa; và hiền lành phúc hậu như anh Ngọ.
Ngay đêm ấy Ngọ bị đánh đến què chân như quân trộm cướp, rồi bị đuổi. Lúc anh tập tễnh ôm bọc quần áo ra đi, Ngân vẫn bị nhốt trong buồng. Khi ra khỏi cổng anh còn cố nói to lên: "Tôi đi đây! Chẳng biết bao giờ mới được về lại đây nữa. Cô ở lại mạnh khỏe may mắn nhé!" Tên đầy tớ nịnh chủ của nhà Ngân giộng cái đòn ống vào lưng anh thêm một lần nữa. Trong buồng Ngân nghe thấy rõ. Cô khóc nức lên. Sau, nghe nói anh Ngọ phiêu bạt sang tận Nam Vang, rồi biệt tích.
- Cháu uống nước đi. Chè xanh đấy. Bà chỉ uống nước này thôi.
- Dạ. Cháu cũng thích nước chè xanh, nhưng ít được uống. - Rõ là đứa lễ phép, thật thà, chứ không phải nói lấy lòng bà. Bà Ngân bắt đầu cuộc hỏi han về gia thế của Hoàng như Nga đã nói trước khi phóng xe đi: "Tên Hoàng có đến nữa, bà cứ thẩm vấn hắn xong phần tiểu sử là con về". Hoàng chỉ còn mẹ và đứa em gái đang đi học. Trước, nhà cũng khá nhưng bố chết trong một chuyến đi biển nên mẹ con lâm cảnh khổ. Chỉ hơn con Nga một tuổi mà đã là trụ cột gia đình. Bà nhìn Hoàng thương cảm:
- Cháu yêu thương Nga lắm phải không"
Hoàng bị bất ngờ, lúng túng, im lặng.
- Đêm qua Nga đọc cho bà nghe thư cháu gửi cho nó.
- Chết thật, Nga lại đọc thư của cháu lên" - Hoàng ngượng nghịu. - Trước kia Nga cũng yêu cháu, còn bây giờ thì cháu cũng tự biết là không thể như thế được.
- Nó đã thuộc làu lá thư. Cháu thật lòng thế, con Nga không thể vô tình được.
Hai bà cháu nói chuyện đến gần trưa. Hoàng tần ngần đứng lên:
- Cháu xin phép bà... Chiều nay tàu chúng cháu về rồi. Bà ở lại mạnh khỏe. Cháu... nhờ bà chuyển hộ cho Nga cái hộp này. - Rồi thằng bé lủi thủi đi.
Chiều muộn, Nga về cùng với Hà, bạn gái thân của nó và một đứa con trai lạ mặt. Chúng chào hỏi bà chiếu lệ rồi ra phòng khách. Một lúc sau, Hà vào buồng, ghé tai bà thì thào: "Bà ơi! Hắn đấy".
- Hắn nào" - Bà hỏi và linh cảm rằng thằng bé Hoàng hiền lành kia sẽ khốn khổ.
- Nó không nói gì với bà à" Người yêu của cháu đấy. Hơi lùn một tị, nhưng con ông gì to lắm. ở tận Thủ đô mà về đây "chim" cháu gái bà đấy - Hà nhại giọng quê, cười hí hí.
Đến gần tối thằng bé kia mới ra về. Nó ghé vào cửa buồng chào bà. Trông cũng được nhưng đúng là lùn, có khi còn thấp hơn Nga một đốt ngón tay. Cũng đầu đinh. Bà muốn vun vén cho Hoàng. Nhưng bà biết, tất cả do đứa cháu gái bướng bỉnh của bà quyết định. Nó không phải là bà ngày xưa. Bà Ngân thở dài đưa cho Nga cái hộp giấy đựng quà của Hoàng. Đó là những bông hoa bằng thủy tinh. Tàu của Hoàng định kỳ chở cát trắng từ miền trung ra đây cho nhà máy thủy tinh. Cậu ta nhờ người ở phòng thí nghiệm thủy tinh mỹ nghệ làm cho. Những bông hồng mỏng mảnh trong suốt phớt trắng ở diềm cánh tan lẫn trong không gian, như ảo ảnh.
- Đẹp, cứ như là nhìn kỹ cũng vỡ mất. - Hà, bạn gái của Nga bình phẩm.
- Mụ thích, ta cho. - Nga hỏi bạn. Nhưng Hà lắc đầu:
- Chả dại. Đứt tay như chơi.
Nga cẩu thả để những bông hoa lên nóc tủ, rồi mở hộp quà của thằng bé đầu đinh ra kêu lên:
- A, sô-cô-la Pháp, loại có hạt hạnh nhân chiên ròn. Trên cả tuyệt vời!
Bà Ngân từ chối thanh kẹo lạ mắt màu nâu bóng Nga đưa cho, như giận dỗi: "Mùi nó gây gây hăng hắc thế nào ấy. Bà không ăn được!"
Hoàng vẫn gửi thư đều đặn. Nga vừa đọc cho bà nội nghe vừa bình phẩm giễu cợt. Nó bỏ ngoài tai những lời bà nói xa xôi về Hoàng kèm với những câu ví von, ca dao tục ngữ về tình với ngãi. Lúc có Hà, hai đứa đọc thư, thêm bớt câu chữ để cười.
- Mày ác như quỷ ấy. Sao không cắt đi, cứ làm tội hắn mãi" - Hà mắng Nga - Ngày xưa, lính đánh trận bị thương, đau quá, phải van xin người khác giết đi cho đỡ khổ.
- Đau còn hơn chết. Mà thương hắn bằng thừa. Mụ còn lạ gì dân thủy thủ. Bến nào chẳng có đứa con gái chờ hắn, cứ để hắn đấy như món lương khô. Phòng cơ nhỡ.
Hoàng theo tàu ra luôn. Nga reo lên mỗi khi Hoàng đến:
- A, ông lại chở cát ra đấy à" Ông nói chuyện với cụ hộ, Nga đi đằng này một tẹo về ngay!
Và Nga lại mất tăm cho đến khi Hoàng không thể ngồi thêm được nữa. Dù sao cũng có điều tốt. Bà Ngân mong thằng bé như chờ đứa cháu yêu đi xa. Còn Hoàng cũng thấy lòng dịu lại khi nghe được những lời an ủi ân cần của bà. Hai bà cháu nói chuyện rất hợp nhau. Đến nỗi trong đầu Hoàng bóng dáng hiền từ của bà, còn gần gũi thân thiết hơn hình ảnh rực rỡ của Nga. Và mỗi khi rẽ vào cái ngõ quen thuộc, Hoàng không hiểu là mình háo hức vì sắp gặp Nga hay lại gặp bà Ngân.
Có lần đến, thấy Nga đi lại đang bồn chồn bên cạnh bà đang nằm ốm mệt, Hoàng nói luôn: "Nga bận cứ đi, tôi trông bà cho". Và Hoàng cặm cụi sắc thuốc cho bà.
Hoàng đem theo món bánh cáy, chè lam, kẹo vừng làm quà, mỗi khi đến. Những thứ quà quê chế biến theo lối ngày xưa ấy làm Nga buồn cười như nhìn thấy những sản phẩm thô thiển của thổ dân ở một xứ lạ nào; và nó chê bẩn, không dám đụng đến. Còn bà Ngân thích thú đem mời người bạn thân: "Tôi cho các bà nếm lại những thứ quý hóa ngày xưa. Thằng cháu tôi đem ở quê ra đấy!"
Cuối năm, thằng bé trên Hà Nội xin cưới Nga, vì nó sắp đi du học ở Mỹ mấy năm. Hai bố con Nga bàn bạc xong xuôi mới cho bà Ngân biết. Bà cuống lên, nghĩ đến Hoàng. Tội nghiệp thằng bé. Bà chẳng biết phải làm gì cả. Bà làm mặt giận Nga. Nhưng con bé không bận tâm coi đó là sự trái tính, là kiểu giận dỗi mát mẻ của người già.
Tuần sau là ngày cưới. Nga hớn hở, hát cười luôn miệng.
... Những ngày xưa ấy... Cả làng ầm ĩ tiếng lợn kêu, chó sủa, trẻ con la hét, như đã đến Tết. Người ấy ở tít trên mạn đồng rừng heo hút. Ngân chôn chặt chuyện cũ như cất một đồ dùng trái mùa về nhà chồng. Khi lên chiếc xe hơi màu sữa, cô khóc như mưa. Nhưng không ai để ý chuyện con gái khóc khi đi lấy chồng...
- Thôi, bà nín đi, đừng để con khóc theo, hỏng hết cả mặt bây giờ. - Nga cau có.
- Tao khóc kệ tao. Khổ thân nó đã bồ côi bồ cút. Lại gặp phải chuyện này nữa.
- Ơ, bà buồn cười nhỉ. Con có làm gì hắn đâu" Tự hắn xin chết chứ.
- Mày có tắt đi không! - Hà mắng Nga, dỗ dành bà Ngân - Bà chấp con điên kia làm gì. Mà cái tên Hoàng ấy ú ớ như thế thì khổ là đáng đời. Thôi, bà nín đi để con tô môi cho bà. Hôm ăn hỏi, nhà trai, có một bà béo ục ịch, già bằng mấy bà, thế mà làm mặt còn siêu hơn bọn con. Hôm nay bà cũng phải tô một tẹo cho bên đối tác kính nể chứ.
Bà lần từng bậc lên căn gác nhỏ. Bà không bật đèn, ngồi nhìn những khóm cây đen sẫm trong bóng tối ngoài ô cửa nhỏ và khóc. Thằng bé Hoàng bây giờ cũng như người ấy ngày xưa, đang ở tận bờ bến nào, không hề biết cái người mình yêu thương đã thuộc về kẻ khác rồi.
Đám rước dâu về Hà Nội đã đi xa. Bố Nga cùng bạn bè đang ăn uống ở khách sạn. Bộ dàn băng hình bọn trẻ bỏ đấy vẫn nhấp nháy hát.
- Bà ơi,... Con đây! - Có tiếng gọi khẽ. Bà Ngân nhìn ra. Thằng bé đến.
Hoàng nhìn quanh và hỏi bà, giọng khô khan:
- Rước dâu rồi hả bà"
- Có dễ được mươi, mười lăm phút rồi con ạ. Sao con biết" - Bà Ngân lúng túng như có lỗi - Bây giờ, xe phải đến cầu Lạc Long rồi.
Hoàng im lặng. Bà Ngân quay đi không nhìn vào mặt Hoàng. Bà sợ khuôn mặt như mất hồn của thằng bé sẽ làm bà khóc lên mất. Bó hoa trong tay Hoàng chúc xuống đất, trông cũng như héo rũ đi. Bà lại nhìn thấy khoảng không gian mờ mịt của ký ức, người ấy đứng trên chiếc cầu đá đợi bà, áo khăn phơ phất. Chiếc cầu đến giờ vẫn còn, như thể nó đã hóa đá vì đã cùng chờ đợi, và để làm chứng tích.
- Bà đang xem băng ca nhạc đấy à" - Hoàng hỏi như để có chuyện.
- Không, bà có biết băng bó gì đâu. Chúng nó vừa trang điểm cho con Nga, vừa mở máy hát hổng với nhau. Lúc nhà giai đến, cứ bỏ đấy kéo đi. Bà cũng chẳng biết mở tắt thế nào. Cháu không muốn xem thì tắt đi.
Hoàng ngồi xuống nền nhà, tay vẫn cầm bó hoa như cầm một cái chổi. Hoàng nhìn màn hình. Băng karaoké những bài hát hay nhất của nhóm "Boys". Bà Ngân nói với Hoàng những câu an ủi cũ kỹ mà bà cũng thấy là giống như những lời đãi bôi: "Thôi con ạ. Cũng là cái duyên cái số. Nguôi ngoai rồi thì... con giai như con, lấy đâu chẳng được vợ. Con đi về, cứ đến đây. Coi bà như bà nội của con".
Hoàng cúi đầu giọng khàn đi: "Vâng ạ!". Bà Ngân tìm cách nói lảng sang chuyện khác:
- À, cái bài hát này chúng nó mở máy hát theo suốt ngày không chán. Bà nghe quen cũng thấy vui tai. Nó nói cái gì thế hở con"
- Vâng, để con đọc bà nghe. - Hoàng dịch những chữ tiếng Anh trên màn hình - "Em là một nghìn buổi bình minh tuyệt vời. Em là một nghìn buổi hoàng hôn tuyệt vời... Bây giờ tôi đi tìm em khắp phố. Công viên và bờ sông không có em... Tôi đến nhà thờ, xin Chúa chỉ nơi em... Thấy em lộng lẫy trong áo cưới... Tôi đến chậm mười lăm phút... Chỉ mười lăm phút thôi!... Mười lăm phút thôi!"
Hoàng nhắc lại mãi cái điệp khúc đó. Còn bà Ngân thì nước mắt giàn giụa. Bà đến cây cầu Đá chỉ chậm một khoảng thời gian chừng "giập bã trầu". Người ấy đã bỏ đi mãi đến tận bây giờ.
* * *
Ông Phổ Độ, chủ hiệu thuốc Bắc đầu phố, là người quen của bà Ngân đưa mấy gói thuốc cho Hoàng, căn dặn:
- Cậu làm đúng như tôi viết đây. Phải cho bà uống nóng, thuốc mới kiến hiệu. Hết mấy thang này là đỡ đau lưng. Còn chứng phù bàn chân, để sau. - Ông nhìn bức thư pháp lồng khung trên tường, hỏi - Nhà này mới mua được chữ ở đâu thế này" Đẹp thật! Người viết tài hoa khoáng đạt lắm. Cứ nhìn bộ "đao" là biết. Bao nhiêu tiền bức này đây bà"
- Chữ ông đồ đền Mẫu viết cho không đấy, ông ạ. - Bà Ngân trả lời - Để từ năm kia. Tôi muốn treo, con Nga nhà này không nghe, cứ dán ảnh người râu ria, đánh đàn, đá bóng. Bây giờ nó đi lấy chồng, tôi bảo thằng cháu đây treo dịp Tết này.
- Bức này lụa tốt, mực thơm mài bằng rượu. Nét chữ kiểu "hành xà" xoắn bện như thể thắt ruột vắt gan trút hồn lên ngọn bút mà viết. Thường thì là Tài, Lộc, Phúc, Thọ, Phú, Quý. Đây lại là Lựu. Lựu có chữ Lưu là "Gìn giữ", là "Đọng lại". Ờ, nếu chỉ mưu cầu giầu sang phú quý, sống lâu, mà chẳng biết giữ gìn cái Nghĩa cái Nhân, cái Tình thì cũng chỉ là phù phiếm. Lưu ở chữ Lưu luyến, lưu tình. Chút tình còn lại cũng ở chữ Lưu bút. Để lại chữ cho nhau... còn bộ chấm thủy là hàm ý Lưu thủy hay Dư lệ. Hay lắm! Tài hoa, nhưng gian truân một đời.
Bà Ngân cúi mặt, lén lau nước mắt. Ông lang Phổ Độ đeo mục kỉnh, nhìn hai cột chữ nhỏ dã thảo có in triện son trên phía trái bức thư pháp, ngâm nga:
- Nhớ xưa luyến ái Hàn công tử... Xương trắng thành tro hận chửa tan!... - Ông chép miệng - Lý Thương ẩn đời Đường đây. Hằng Nga bay về trời, đã yên vị ở ngôi cao quý nơi tiên giới rồi, vậy mà lòng vẫn còn lưu luyến mối thâm tình cõi phàm trần với công tử họ Hàn. - Ông lang thở dài - Người như lão đồ đền Mẫu này, trong thiên hạ bây giờ chẳng còn nhiều. Mấy vị túc nho vùng này phục lão lắm. Lão chỉ xuất hiện có một bận vào năm kia. Từ năm ngoái, lão biệt dạng. Có người nói hình như lão bị phong hàn, mất ở Bắc Giang rồi. Sống lang bạt sông hồ, chết tha hương. Vậy là số "Lưu hà". Ờ, cũng lại có chữ Lưu!
Ông lang như nói một mình, gật gù đắc ý trước bà già lẩm cẩm và gã thanh niên lộc ngộc dáng thất phu. Hai người kia như những kẻ tàn tật khiếm khuyết tri thức; họ làm sao có được cái cao khoát trong tâm hồn khi thấu hiểu được sự thâm trầm của chữ nghĩa, thi ca.
* * *
Đúng là người ấy rồi. Thì ra cái cảm giác vướng gợn không cắt nghĩa được trong lòng bà hôm xin chữ, là có duyên cớ. Năm kia sáng mồng một Tết, hai bà cháu vào đền Mẫu xin quẻ thẻ rồi đi dạo. Bà Ngân thích cái không khí ở đền Mẫu này. Đó là cái khí xuân thanh sạch nguyên sơ của một thời đã mất. Ngày xưa bà đã gặp người ấy trong một ngày hội Xuân tươi sáng như thế này, ở ngôi đền quê nhà, cũng có tên là đền Mẫu.
Con bé Nga cũng hớn hở vì cái không khí ấy. Ai cũng nhìn đứa cháu gái đẹp rực rỡ của bà. Con bé giống hệt bà nội ngày xưa. Bà đã tái sinh với hình hài của nó. Đến cái ông đồ râu tóc trắng như cước ngồi cạnh cổng đền cũng dừng chiếc bút lông trong tay, nhìn con Nga đăm đắm, rồi lại nhìn bà. Chắc ông cũng nghĩ như mọi người: Một cặp bà cháu đẹp như bức tranh vẽ Phật bà với nữ tiên đồng.


- Chào ông đồ. Xin thầy cho bà cháu tôi một chữ, treo năm mới lấy khước.
Nga ngồi thụp xuống bên cạnh ông đồ già, ngắm nghía cái nghiên mực bằng đá, thỏi mực lớn có hình rồng cuốn, hòn son, ống bút, những vuông lụa bạch, xấp giấy đỏ...
- Bà với cháu muốn chữ gì nào" - Ông đồ ân cần hỏi.
Ông ơi, viết cho cháu chữ "Happy New Year".
- Không được hỗn! - Bà Ngân củng lên đầu đứa cháu lém lỉnh.
Gần hai năm theo học thầy đồ ngày xưa, giờ chẳng còn mấy chữ. Xin Tài, Lộc thì đời cho là tham. Phúc, Tâm thì người ta bảo vì thiếu thứ đó, mới mua về. An là hèn nhát. Còn Thọ dành cho kẻ úy tử cầu sinh. Thôi thì tùy thầy. Bà nói thế, làm ông đồ ngạc nhiên về sự thông thái của một bà già ở tuổi lẩm cẩm.
- Nghe bà suy luận thì rõ người là mẫn tuệ. Chỉ tiếc là... - Ông nhìn con bé Nga lần nữa rồi lại nhìn bà, thở dài - Vậy là tôi vô phép viết đại một chữ mà không dám lấy tiền.
Ông trải vuông lụa bạch nõn có hồ xuống chiếu, quệt ngọn bút lông thật đẫm mực rồi nhíu mày trầm ngâm một lúc. Mặt ông thoáng tái đi, căng thẳng. Đôi mắt đục buồn rầu sau cặp kính như hướng về cõi xa nào không rõ. Ông tìm chữ, nghĩ cách thể hiện, hay đang tâm niệm cho cơn hưng phấn thư pháp đến" Không biết. Bất ngờ một giọt mực như giọt nước mắt lớn từ trong ngọn bút rỏ xuống vuông lụa bạch, cùng với tiếng "ối" của Nga. Con bé nhìn thấy giọt mực đúng lúc sắp rớt xuống.
Nhưng chính giọt mực rớt là một gợi ý. Bàn tay nhập thần hạ bút. Giọt mực tình cờ ấy đã không làm hỏng vuông lụa, mà lại đắc dụng. Hai giọt mưa hay lệ đang rơi, kế tiếp giọt đầu tiên đã xuống đất và bắn lên thành nét phẩy ngược. Để sửa giọt mực vô tình, ông đã thêm bộ chấm thủy vào chữ Lưu mà ông định viết.
Con người lang bạt ấy về đây, có phải vì mong được gặp bà lần cuối trước khi nhắm mắt xuôi tay" Tiễn ông lang Phổ Độ về rồi, bà Ngân quay lại nói với Hoàng:
- Hoàng này. Năm nay bố Nga trực Tết ở sở. Con Nga ra giêng mới về. Nhà vắng vẻ. Con còn chờ chữa tàu, thì đến đây ăn Tết với bà cho vui. Chiều nay, hai bà cháu mình đi sắm Tết. Nhân tiện rẽ qua đền Mẫu.
Hoàng khẽ "Vâng ạ!" Trong đầu anh vẫn vang lên giai điệu bài 15 minutes với giọng ca gào đau đớn của Bill Aston ở cuốn băng hôm đám cưới: "Tôi đến chậm mất rồi... Chỉ mười lăm phút thôi... Mười lăm phút thôi!"
Bà Ngân ước có một phép mầu để chiều nay lại được thấy người ấy ngồi đợi bà bên cổng đền Mẫu với cây bút lông trong bàn tay tài hoa. Và bà biết, dù có chết, hồn đang phiêu giạt đâu đó nơi đầu ghềnh cuối bãi thì linh hồn của một người như thế ắt sẽ tìm về bên bà; để mãi mãi vấn vương, lưu luyến với cố nhân...
Bảo Vũ

Thung lũng ngàn sương
Bảo Vũ
Đoàn thực tập sinh quy hoạch rừng chúng tôi gồm bốn gã con trai chưa vợ, ngồi ngoài hiên, im lặng như những ông phỗng, nhìn trân trân lên cái ngọn núi bình thường như những ngọn núi bình thường khác. Bởi xung quanh là cảnh hoang vu trơ trụi, chẳng có gì hơn để nhìn vào những buổi chiều như thế này. Dân bản gọi ngọn núi ấy là Gạc Nai, mặc dù trông chẳng giống cái gạc nai chút nào. Tay Định trong đoàn chúng tôi là một gã thích nói văn hoa, bảo :
- Các ông nhìn kỹ sẽ thấy giống một con nai đang vươn cổ hốt hoảng nhìn về phía xa. Con nai ấy bị lạc mất bạn đời. Nó buồn đau nghênh đầu đánh hơi trong gió xem bạn tình ở phương nào. Một nghìn năm sau nữa nó vẫn còn đau đờn như nhân loại mãi mãi khổ đau vì tình yêu.
- Hoan hô ! Xin quý vị thưởng cho kẻ hát rong đói khổ vài trăm bạc lẻ !
Chúng tôi vỗ tay tán thưởng đoạn độc tấu mùi như ca cải lương của Định. Bỗng có tiếng ông chủ nhà người Thái nói vọng ra :
- Hết củi rồi. Mai các chú đi kiếm thêm đi, trời còn lạnh lắm đấy ! Rồi ông cho chúng tôi biết không thể đốt những củi cành thường được, mà phải chọn những cây lớn đã đổ từ lâu, vỏ ngoài mục nát, chỉ còn trơ lõi. Củi ấy đốt sẽ rất ít khói, tàn cũng ít mà trắng, sạch. Thứ củi ấy chỉ có ở thung lũng Ngàn Sương, bên kia đèo Cổ Nai.
Chúng tôi hoảng hồn. Cái đèo Cổ Nai ấy, sau hôm đến đây, chúng tôi đã cao hứng định vượt sang bên kia núi để ngắm ngọn thác Ngàn Mê mà tiếng réo ào ào của nó thường vọng đến ngôi nhà chúng tôi ở vào ban đêm. Nhưng rồi cả bọn đều thở hơi ra đằng tai, phải bỏ cuộc khi mới chỉ leo đườc gần lưng chừng đèo. Vậy mà ngày mai, cái đám bạch diện thư sinh này phải trèo qua cái đèo ấy với những khúc của gộc trên lưng.
Sáng hôm sau, thằng Páo - con út ông chủ nhà dẫn chúng tôi đi. Gần trưa mới sang được thung lũng Ngà Sương, mệt lử và đói meo, chúng tôi phải ngả cơm nắm ra ăn ngay. Lúc xuống suối rửa tay, Định bị trượt hòn đá rêu, dập đầu gối. Cái gã cận thị ấy chỉ tài nói năng văn vẻ, lưu loát, còn chân tay thì như đồ hậu đậu. Hắn kêu rống lên. Chúng tôi hốt hoảng không biết làm thế nào thì Páo bảo : "Khiêng nó đến nhà ké Linh, ở đấy có thuốc chữa". Nó chỉ tay lên sườn dốc : Một ngôi nhà sàn ở dưới những tán cây lớn. Chúng tôi dìu Định đến đó.
Tới lúc này tôi mới nhận thấy thung lũng dày đặc sương mù. Đứng trên cao nhìn xuống, thung lũng hẹp và hình khá tròn trĩnh. Phía Bắc là ngọn tháp Ngàn Mê dội ào ào xuống lòng thung. Dân bản bảo trước đây thung Ngàn Sương có đường bằng phẳng thông ra ngoài thuận tiện, nhưng cách đây vài chục năm, núi lở vít mất lối đi ấy.
Ké Linh tỏ ra rất lạnh nhạt với khách. Sau khi nghe Páo nói gì đó bằng tiếng địa phương, ông lừ lừ bỏ vào buồng trong lấy ra một nắm lá khô, hơ trên bếp lửa một lúc rồi bó vào đầu gối định bằng miếng vải chàm cũ. Xong, ké ngồi bên bếp lửa hút thuốc, không nói câu nào. Chúng tôi thấy ngại nhưng vẫn phải để Định ở lại đó, rồi đi kiếm củi.
Đến chiều, kiếm được củi chúng tôi trở lại nhà ké Linh. Định vẫn nằm dài trên sàn nhà, chân đã được bó bằng thứ thuốc khác.
Mới năm giờ chiều mà khắp thung lũng đã mờ tối. Không thể vượt qua đoạn đèo hiểm trở với những khúc của nặng trên lưng và một đồng đội què chân vào lúc này được. Páo bảo : "Cứ ngủ lại đây, mai anh Định khỏi chân hãy về". Páo nói có lý, nhưng ké Linh có vẻ khó tính. Lại còn bữa chiều nay nữa.

- Người bên Nà Ngàn sang đây đi săn, kiếm củi, không kịp về, ké Linh vẫn thường cho ăn ngủ nhờ. - Páo nói thêm cho chúng tôi yên tâm.

Đúng lúc ấy, ké Linh mang một rổ bát đũa vào. Chúng tôi cũng nhìn thấy giữa nhà một nồi cơm to ủ trong than hồng và một chảo lớn món thịt gì đó đang ninh trên lửa, tỏa mùi thơm ngậy làm bọn tôi ứa nước miếng.

Hóa ra ké Linh không phải là người khó tính như chúng tôi tưởng. Ông đã sắp sẵn bữa chiều cho chúng tôi. Mà lẽ ra chúng tôi phải biết rằng những người miền núi không quen vồn vã khi giao tiếp. Tâm hồn họ giống như cánh rừng nhìn từ xa, âm u, bí ẩn mà phong phú, cho ta những thú vị bất ngờ khi đến gần.

Ké Linh bưng ra một vò rượu. Mỗi người chỉ có một cái bát, phải để uống rượu, còn món thịt lợn rừng thì dùng tay không, giống như những hảo hán Lương Sơn Bạc. Đó là bữa rượu thú vị nhất đời tôi.

Páo ăn vội vã rồi trở về để cha nó khỏi mong. Thằng bé là người của núi rừng nên chẳng phải lo gì cho nó.

Ké Linh lặng lẽ uống rượu, không để ý gì đến đám khách bất đắc dĩ. Chúng tôi muốn nói chuyện với ông, nhưng lại không biết tiếng Thái, đành nói chuyện với nhau vậy, và nói về ông.

Vĩnh bảo : "Các ông nhìn ké mà xem, có vẻ từng trải giang hồ lắm. Cứ trông hai cánh tay đầy sẹo thì biết". Trọng gật gù : "Đúng, một cao nhân trong Võ lâm, nay đã rửa tay quy ẩn". Trọng vốn nghiền truyện chưởng.

Tôi đưa ra nhận định của mình : "Ké Linh là một thợ săn. Những vết sẹo ấy chỉ là những dấu tích của một con thú gì đó có móng sắc chưa chết hẳn sau phát súng kíp thứ nhất. Một tai nạn nghề nghiệp. Thế thôi !"

Định đã hết đau vì thứ thuốc không tên của ké Linh. Hắn lên giọng trịch thượng, bác bỏ tất cả. Riêng ý kiến của tôi, Định chê là "kết quả của một tư duy thô thiển, đơn bào, nặng mùi thực phẩm vì chuyện đi săn để lấy thịt ăn.

Tôi chưa kịp trả đòn thì Định đã cao giọng :

- Các chú, hãy nhìn vào mắt của ké, một đôi mắt buồn u uẩn và đau đớn đến mức làm ta muốn khóc lên. Ké có một mối tình đẹp và tuyệt vọng trong dĩ vãng. Những vết sẹo kia là dấu tích của mối tình đó. Chỉ có người có một thể xác và trái tim tan nát vì tình yêu mới chối bỏ tất cả, tìm đến một nơi hẻo lánh, sống cô độc suốt đời để hoài niệm về mối tình xưa.

Tôi đang tính giáng cho định một câu thật đau vì cái thói cứ nhét bừa tình yêu vào mọi chuyện, thì chợt thấy ssau khi Định nói, ké Linh giật mình, để rơi cái bát làm rượu đổ lênh láng.

Chúng tôi ngạc nhiên nhìn ông. Và chúng tôi còn ngạc nhiên hơn nữa khi ông cất giọng trầm, buồn nói bằng tiếng Kinh rất rành rọt :

- Cổ nhân nói đúng. Gặp người tri kỷ còn hơn được ngàn vàng.

Ké Linh rót rượu cho mình và một bát đưa cho Định. Ông nói : "Hôm nay tôi phải nói cho các cậu nghe".

Chúng tôi thấy như có điều gì nghiêm trọng, đâm ra sợ, vì nghĩ rằng mấy gã sinh viên này có gì với ké Linh đâu mà nghe cái bí mật chắc là rất ghê gớm của ông. Như đoán được ý nghĩ đó của chúng tôi, ké Linh nói : "Lẽ ra tôi đem chuyện này xuống mồ, nhưng các cậu là những người có học, đã đoán được tâm sự của tôi. Nói ra được chuyện này, tôi sẽ nguôi phần nào, và cũng coi như tôi đã giúp các cậu qua được một đêm rất dài của miền núi hoang vu này".

Ông nói có lý. Và đêm đó, chúng tôi nằm quanh bếp lửa nghe chuyện của ké Linh trong tiếng thác Ngàn Mê dội ào ào và tiếng thú rừng kêu với đủ mọi cung bậc, âm sắc trong đêm sâu huyền bí.

o0o

Thật khó mà tin được ông già râu tóc bơ phờ, xơ xác, người chằng chịt những vết sẹo và khô sắt như một khúc cây cằn cỗi cháy dở, đang ngồi trước ngọn lửa của thời tiền sử kia lại có một trái tim nồng nhiệt yêu đương đến bất chấp cả cái chết.

Nhưng Định đã đúng khi phán đoán về ông.

Ké Linh kể chuyện về minh như độc thoại, như không có chúng tôi.

Tôi vốn không thú vị với những chuyện tình. Tôi không tài nào đọc được trọn vẹn một cuốn tiểu thuyết tình dù của một đại văn hào. Tôi cho rằng người ta có quá nhiều việc phải làm trong đời, với những sự nghiệp lớn lao. Vì thế không thể để phí thời gian vào những chuyện tình rắc rối. Bởi suy cho cùng, tình yêu, theo tôi chỉ là bước khởi đầu của hôn nhân. Mà hôn nhân lại là chuyện rất thường tình, một "hạng mục" trong vô số hạng mục mà mỗi người phải thực hiện trong đời, cho dù người ta không muốn. Vẫn theo tôi, tình yêu dù có đẹp đến mấy cũng chỉ là cốc rượu khai vị nhỏ uống trước khi ăn, đối với người bình thường. Còn nếu cứ uống tì tì và lấy làm thích thú thì đó là kẻ nát rượu, vô tích sự.

Vì thế, khi ké Linh kể về mối tình thời trai trẻ của ông với cái cô Mai Thi nào đó, thuộc một dòng họ quyền quý của vùng núi này, tôi đã nghe một cách lơ đãng. Chỉ có một điều làm tôi chú ý : Ông là người Hà Nội chính gốc, từng là sinh viên trường thuộc thời Pháp.

Tôi nằm gối đầu lên cánh tay nhìn ngọn lửa chập chờn. Giọng ông già đều đều, lẫn trong tiếng thác Ngàn Mê dội hối hả như muốn trút đi một nỗi phiền muộn triền miên hàng ngàn năm nay. Tuy thế ông có lối kể chuyện là cho người ta hình dung được sự việc, mặc dù đó là câu chuyện ở một thời xa lạ với chúng tôi.

Tôi hình dung ra cảnh Linh gặp sơn nữ Mai Thi đang làm người mẫu ở nhà họa sĩ Paul Hoàng, bạn của Linh. Bông hoa rừng đã tỏa mê hồn hương làm chết đứng chàng sinh viên si tình. Linh yêu say đắm, vội vã nhưng nhiệt thành. Anh nói với Mai Thi rằng anh sẵn sàng chết vì nàng, như trong những tiểu thuyết thường viết. Mai Thi cũng đáp lại nhiệt tình của Linh với một tình cảm chất phác, ngây ngô. Mai Thi đã được hấp thụ lối sống phương Tây sau những năm học ở Hà Nội.

Một lần nàng bảo : "Mai Thi nhớ núi rừng lắm !" Linh dẫn nàng đến vườn bách thú. Nhìn những cây cối thơ thơ đầy bụi bặm và những con thú gầy còm, ngẩn ngơ trong củi sắt, Mai Thi lắc đầu : "ở quê Mai Thi không như thế này". Họ ăn kem. Rồi dưới một bóng cây, Linh ôm hôn nàng. Mai Thi dửng dưng với cái hôn nồng nhiệt ấy. Môi nàng lạnh ngắt và bất động.

Rồi Mai Thi đột ngột bỏ về quê, không một lời từ biệt. Như một gã keo kiệt bị mất hết tài sản, Linh hốt hoảng chạy đến nhà Paul Hoàng, hỏi líu cả lưỡi :

- Toa có biết vì sao Mai Thi bỏ về không "

- Lấy chồng ! - Paul Hoàng miệng ngậm tẩu, tay vẫn quệt lia lịa bút lông trên khung vải, buồng sõng một câu.

- Lấy chồng ư " - Linh như bị đẩy từ trên cao xuống vực thẳm. - Lấy ai mà nhanh thế "

- Lấy một thằng Vừ A Sỉn nào đó, con trai Vua Mèo, một hoàng tử Mèo.

- Nói láo ! Vua èo đâu có họ Vừ !

- Thì đại loại thế. Toa đi mà hỏi en.

Linh xông đến toan giằng cái tẩu không có thuốc, trang trí trên miệng Paul Hoàng để vứt xuống đất, thì chợt sững lại. Bức tranh Hoàng đang vẽ là chân dung của Mai Thi. Nàng ngồi trên bãi cỏ xanh. Xung quanh nàng, sườn núi vàng rực những hoa dại. dưới xa, thung lũng phủ đầy sương mù. Mai Thi trong trang phục thiếu nữ Thái màu trắng, đẹp như một nữ sơn thần, một Đian phương Đông.

Nhưng giờ đây nàng Đian ấy đã lấy chồng.

Linh đau đớn muốn ôm ghì lấy Mai Thi trong tranh để vừa hôn vừa níu giữ lấy nàng. Nhưng Paul Hoàng đã nhắc anh, giọng châm biếm :

- Attention ! Peinture fraiche ! (Chú ý ! Sơn còn ướt !).

Rồi Hoàng nói một cách nghiêm trang : - Chẳng lẽ moa lại vẽ tồi đến mức toa không nhìn thấy gì ở Mai Thi sao " En độc ác một cách thơ ngây. En coi toa là một con gà nhà. En muốn nếm thử xem khác với gà rừng như thế nào. Hiểu chưa " Đồ ngốc !

Linh ngắm kỹ bức chân dung Mai Thi. Mắt nàng có vẻ kiêu ngạo và tàn nhẫn. Khóe miệng hơi mím như sắp bật ra một lời nguyền rủa ác độc. Nhưng đây là bức tranh của một gã họa sĩ theo chủ nghĩa hoài nghi. Linh mắng Hoàng đã vu khống thần tượng của anh bằng đám màu mè lem nhem như món cháo hồ lốn.

Linh tìm đến cái vùng sơn cước đầy sương mù, nơi có Mai Thi của anh. Linh đứng giữa một bãi đất rộng đầu bản Nà Ngàn nhìn những đống tro tàn, xương thú vật rải rác và hoa rừng, rất nhiều, đã héo úa, dấu vế đêm hôn lễ tưng bừng của Mai Thi.

Dù biết vậy, Linh vẫn bỏ dở năm học cuối cùng Đại học Y khoa, ở lại bản Nà Ngàn. Anh đi dạy học, chữa bệnh để sinh sống, để được gần Mai Thi.

Ké Linh vẫn kể chuyện mình như nói về một người khác. Tôi hình dung Mai Thi với bộ váy áo cô dâu rực rỡ, trên lưng con ngựa trắng, mặt rạng ngời hạnh phúc. Vàng Sính, chồng nàng cũng là con nhà quyền quý, giàu có, chỉ huy đoàn lính dõng của quan Châu.

Nàng đi dạo trong rừng, nhìn cảnh vật tươi tắn sau cơn mưa lớn. Linh đi hái thuốc giúp ông chủ nhà, học thêm nghề chữa bệnh bằng thảo mộc. Họ gặp nhau trên lối mòn.

- Mai Thi ! - Linh kêu lên. - Sao em về quê lấy chồng mà không báo cho tôi biết "

- Sao lại phải báo "

- Tôi yêu Mai Thi. Em cũng yêu tôi cơ mà "

- Không yêu !

- Tôi rất yêu Mai Thi. Đáng lã tôi cưới Mai Thi.

- Không ! Anh không phải là người Thái. Anh không tốt, chỉ nói dối. Tránh ra ! - Mai Thi quát lên.

Một bên là sườn dốc, một bên là dòng suối. Linh đứng giữa con đường hẹp, không nhường lối. Anh muốn nói dể Mai Thi hiểu. Nhưng nàng giận dữ quất ngựa rẽ xuống suối để sang bờ bên kia. Đoạn suối nông này ngày thường đi qua dễ dàng, bây giờ sau cơn mưa lớn đầu mùa lũ đã trở nên hung dữ. Con ngựa của Mai Thi loạng choạng giữa dòng nước sôi sục trông băng băng, Linh vội lội xuống suối để lôi nó vào bờ. Nhưng không kịp, con ngựa đã quy ngã, bị dòng nước lũ cuốn đi cùng với Mai Thi. Linh chỉ kịp nhìn thấy một cánh tay nàng giơ lên chới với. Anh lao theo, người đập vào đá ngầm đau điếng, Linh đã nắm được tay Mai Thi khi nàng chỉ còn cách bờ vực vài sải tay, nơi dòng suối đổ xuống ầm ầm như thác. Linh dìu Mai Thi vào bờ. Con ngựa đã chết dưới vực.

Mai Thi ngồi bên bờ suối run rẩy như con mèo nhỏ ướt át, không có vẻ ngạo mạn như trước. Linh đặt tay lên vai nàng, nói : "Tôi đưa em về thay quần áo kẻo ốm mất". Mai Thi lắc đầu rồi lặng lẽ đứng lên, bỏ đi. Linh ngồi lại một mình đến tối mịt, rét run vì gió núi. Đêm đó Linh bị sốt, cơn sốt đầu tiên của căn bệnh sốt rét rừng dai dẳng mà anh phải chịu đựng sau này. Những cơn sốt mà mọi thứ chăn đắp và lửa sưởi đều vô hiệu.

Những gì ké Linh kể sau đó làm tôi vô cùng ngạc nhiên. Tình yêu lại có thể làm thay đổi số phận con người đến như vậy ư "

Tôi như nhìn thấy cái bóng cao gầy của chàng sinh viên Hà Nội, mình khoác tấm chăn da, tay bám vào hàng rào nhà Mai Thi, đứng run rẩy trong đêm sương lạnh. Mai Thi nhìn qua cửa sổ biết đó là Linh. Nàng im lặng. Không hiểu nàng nghĩ gì.

Rồi Vàng Sính, chồng Mai Thi cũng biết. Hán ghép Linh vào tội trú ngụ bất hợp pháp và trộm cướp. Kể ra cũng đúng. Nếu Mai Thi mở cửa, lao vào vòng tay Linh, anh sẽ đưa nàng đi trốn như trong một chuyện tình cổ điển.

Vàng Sính cho lính bắt Linh. Theo một luật riêng của một kẻ có quyền lực ở vùng núi này, Linh bị khép vào tội chết.

Chúng tôi ngồi cả dậy. Sương mù về đêm dày đặc len qua những khe vách gỗ tràn vào nhà, ngưng đọng trong những góc tối không có hơi ấm của lửa. Ké Linh chập chạp rót rượu uống. Không ai giục giã một lời, mặc dù tôi nóng lòng muốn biết tiếp câu chuyện.

Linh bị trói vào một cây cột. Vàng Sính vứt cái roi ngựa xuống sàn và bảo bọn lính : "Đánh chết nó đi !".

Đây là trận đòn thù dành cho kẻ tình địch. Trong cái đầu u tối của Vàng Sính cũng lóe lên một câu hỏi : Liệu có phải trong tay hắn chỉ là thân xác của Mai Thi, còn hồn nàng thuộc về một kẻ hào hoa phong nhã kia "

Hắn hỏi Mai Thi : "Cô có phải lòng nó không "". Mai Thi lắc đầu. "Nó cứu cô ở dưới suối, cô phải thích nó chứ "" Mai Thi lại lắc đầu.

- Được rồi tôi sẽ đánh chết nó !

Mai Thi cũng bừng lên một nỗi căm giận khó hiểu : "Tôi cũng đánh chế nó !"

Vàng Sính vụt một roi vào vai Linh với tất cả sức mạnh, đến nỗi làm rách toạc chiếc áo ngoài của anh. Hắn gầm lên :

- Mày rình mò nhà tao định ăn cắp cái gì " Ngựa, hay vàng bạc "

- Tôi yêu Mai Thi ! - Linh thản nhiên nói. Vàng Sính thét lên như bị một nhát chém. Hắn quất một roi vào mặt Linh. Mai Thi vội quay đi, lấy tay bưng mắt.

- Tôi yêu Mai Thi ! - Linh nhắc lại bằng đôi môi rách ứa máu.

Bọn lính thay nhau đánh Linh đến sáng.

Vàng Sính đánh Linh. Hắn uống rượu say khướt, vừa quất những nhát roi xé thịt, vừa gào lên như hóa điên :

- Mày định ăn trộm ngựa hay vàng bạc "

- Tôi yêu Mai Thi ! - Linh vẫn nhắc lại câu nói đó sau những ngọn roi, đều đặn, dai dẳng như lời kinh cầu của một tín đồ thuộc dòng Khổ hạnh.

Cho đến đêm hôm sau, bọn lính vẫn liên tục đánh Linh. Thỉnh thoảng chúng dội cho Linh một ống bương nước để anh không ngất đi mà nhận biết được sự đau đớn của da thịt đang bị xét nát. Linh đã liếm những giọt nước lẫn máu của mình để sống và nói mãi câu : "Tôi yêu Mai Thi !".

Vàng Sính buông roi ngã vật ra vì mệt, vì say say và vì uất ức. Một tên lính dìu hắn vào buồng trong.

Rồi đích thân Mai Thi đánh Linh.

Nàng vụt những ngọn roi vào thân hình rách nát, bê bết máu trong đó có trái tim vẫn đập đều đặn như con lắc đồng hồ với nhịp điệu : "Tôi yêu Mai Thi - Tôi yêu ..."

Mai Thi thét lên :

- Chết đi ! Chết đi !...

Nàng hết sức vụt ngọn roi cuối cùng. Một ánh chớp lóe lên chói lòa khắp thung lũng. Những chấn song cửa sổ bằng thân cây xù xì sáng trắng lên như được mạ bạc. Tiếng sét khủng khiếp như trời sập.

Linh lếy hết sức một lần nữa : "Tôi ... yêu ... Mai ... Thi".

Mai Thi chỉ nhìn thấy câu nói đó qua cặp môi khô máu, khẽ mấp máy của Linh. Nàng buông rơi ngọn roi, sụp xuống chân anh òa khóc :

- Em cũng yêu anh ! .... - Rồi nàng ôm lấy Linh vừa nức nở vừa hôn như mưa lên những vết thương đẫm máu trên mặt, trên cổ anh.

Bọn lính cũng kiệt sức, nằm ngồi la liệt trên sàn, ngủ gà ngủ gật, không đứa nào thấy được việc làm kỳ lạ của bà vợ ông chỉ huy. Chỉ còn một tên lính tỉnh táo. Hắn không hề đánh Linh roi nào. Cha hắn đã từng được Linh chữa bệnh không lấy tiền. Chính là tên lính thỉnh thoảng lại dội cho Linh một ống nước.

Mai Thi vừa khóc vừa cắt dây trói cho Linh rồi dìu anh vào rừng. Tên lính giúp Mai Thi vực anh lên ngựa. Nàng dặn hắn : "Bảo Vàng Sính rằng tôi đã đánh chết A Linh rồi, tự tay tôi đem xác nó ném xuống vực". Tên lính gật đầu hiểu ý.

Trong cơn mưa lũ và sấm sát dữ dội, Mai Thi đưa Linh đi. Trên lưng ngựa, suốt con đường mòn gập ghềnh, nàng ôm anh trong vòng tay, khóc và hôn anh không ngớt, những cái hôn đẫm nước mưa ngọt lịm và mát lạnh.

ánh lửa lập trong đôi mắt già nua của ké Linh, một thứ ánh sáng sung sướng, mãn nguyện. Ông im lặng một lúc lâu. Ông đang hồi tưởng. Chúng tôi kiên nhẫn chờ. Nhưng rồi tôi đã hỏi ông một câu ngớ ngẩn : "Sau đó bác đưa cô Mai Thi về Hà Nội chứ ""

Không ! Mặc dù Linh rất muốn, nhưng không thể làm như vậy được. Những tập tục từ nghìn đời đã níu giữ Mai Thi. Nàng đem anh đế gửi một thầy mo ở bản khác để chữa vết thương. Khi chia tay, Linh vẫn nằm liệt trên đệm cỏ. Mai Thi cúi xuống hôn Linh và anh nếm thấy vị mặn của nước mắt nàng. Hình như có một truyện cổ nào đó nói rằng nước mắt của tình yêu thực sự sẽ rất mặn. Đó lá cái hôn vĩnh biệt.

Hai tháng sau, khi những vết thương của Linh đã lành thì biến cố lớn lao của năm 1945 đã làm thay đổi mọi chuyện. Anh trở về bản cũ. Nà Ngàn đã thuộc chính quyền cách mạnh. Họ tộc Mai Thi không còn ở thung lũng Ngàn Sương nữa. Anh đi tìm nàng khắp nơi, nhưng không ai biết. Có người bảo hình như họ tộc của nàng đã bỏ sang Lào.

Rồi Linh vào Vệ quốc quân, đơn vị quân y, tham gia tiểu phỉ.

Ké Linh dừng lại, rót một bát rượu nữa, chậm chạp uống. Ông ngồi lặng nhìn ngọn lửa.

- Bác gặp lại cô Mai Thi nữa chứ " - Định hỏi.

Trong một trận tấn công vào sào huyệt bọn phỉ, bộ đội bắt được tên cầm đầu. Đó là Vàng Sính. Hắn bị thương rất nặng. Tự tay Linh băng bó cho hắn. Miệnh hắn rên rỉ đau đớn, nhưng mắt ánh lênh một mối căm thù ghê gớm đối với anh.

- Mai Thi bây giờ ở đâu " - Linh hỏi nhỏ Vàng Sính như nhắc hắn món nợ cũ. Hắn chửi một câu rất tục tĩu và độc địa bằng tiếng Thái. Suốt đêm Linh ở bên hắn, hy vọng một lúc nào đó hằn sẽ cho anh biết về Mai Thi. Nhưng đến gần sáng, hắn gọi tên Mai Thi rồi chết. Cặp mắt hắn mở trừng trừng., Linh vuốt mãi vẫn không khép lại.

Có lẽ chính Vành Sính cũng không biết Mai Thi ở đâu. Vì sau cái đêm mưa gió ấy, chắc gì nàng còn có thể chung sống với hắn.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, những vết thương đã buộc Linh phục viên. Anh trở về thung lũng Ngàn Sương, dựng ngôi nhà sàn này để ở và chờ đợi. Anh vẫn tin rằng sẽ có ngày Mai Thi tìm về đây ...

Ké Tinh ngừng câu chuyện.

Chúng tôi nằm xuống, nhưng không sao ngủ được. Tôi đã phải rũ bỏ khỏi đầu óc những ấn tượng u ám về câu chuyện của ké Linh bằng cách nghĩ tới bức thư mà vợ chưa cưới của tôi mới gửi. Cô là một sinh viên rất có triển vọng của khoa Kinh tế - Kế hoạch. Cũng như tôi, cô coi tình yêu là phù phiếm, chỉ có những lý tưởng, hoài bão mới làm cuộc sống có ý nghĩa. Cô ta giao nhiệm vụ cho tôi mua một số thứ lâm thổ sản, hàng hóa ở đây đem về dùng cho lễ cưới và sau này. Một bản thống kê rất dài với măng khô, nấm hương, mộc nhĩ, mật, cao, vỏ chăn, phích nước, thuốc men... với những trọng lượng khiến tôi phải nghĩ đến một con ngựa thồ.

Gần sáng, tôi thiếp đi. Trong giấc ngủ lẫn với tiếng thác Ngàn Mê réo ào ào, tôi không hề mơ thấy đám cưới của mình. Tôi thấy Mai Thi trên lưng con ngựa trắng, anh chàng sinh viên trường thuốc tay nắm dây cương dắt đi dọc bờ suối. Cả hai người đều trẻ trung, tươi tắn trong hạnh phúc. Dưới chân họ, những bông hoa dại màu vàng rực rỡ.

Chúng tôi thức giấc. Mặt trời đã lên cao chiếu qua sương mù và kẽ lá thành những hình rẻ quạt lộng lẫy như trong khung cảnh thần thoại.

Ké Linh đã sắp sẵn bữa ăn sáng rất chu đáo cho chúng tôi như để lại lời chào từ biệt những người "tri kỷ một đêm", rồi bỏ đi từ lúc nào, chắc là để xem mấy cái bẫy thú rừng.

o0o

Nhiều năm qua rồi. Những gã sinh viên ngồi bên bếp lửa nghe câu chuyện của ké Linh đêm ấy, giờ đã trở thành những vị công chức đứng tuổi, từng trải, với những hoàn cảnh khác nhau.

Vinh là một gã khù khờ, không có khả năng tạo ra một cú "tăng trưởng đột biến" trong nền kinh tế gia đình, nên bị vợ coi là đồ bỏ đi. Vì vậy Vinh luôn luôn ấm ức. Gặp bạn cũ, mắt hắn rơm rớm than tiếc cái thời sinh viên vô tư coi tiền bạc không bằng "cái đinh gỉ".

Trọng có một cô vợ ghê gớm nhưng hắn cũng không vừa. Vợ chồng sống lục đục mãi rồi sống ly thân. Gặp tôi, có lúc hắn hớn hở khoe mới cho mụ vợ một "chiêu độc" trong việc bán mảnh vườn ở quê, bí mật không cho mụ xu nào; lúc thì nhăn nhó bảo vừa bị một bọn du côn nện cho một trận nhừ tử mà không hiểu vì sao, có lẽ đó là âm mưu của mụ vợ.

Còn Định, cái gã luôn mồm nói đến tình yêu ấy, thì đã hai lần ly hôn. Một lần vì hắn chán vợ, lần sau thì người vợ thứ hai chán hắn. Thỉnh thoảng gặp Định đi vơ vẩn ngoài phố, tôi hỏi đi đâu, hắn gật gật cái đầu hoa râm, cặp mắt kính cận thị dầy cộp nhìn xa vời, miệng cười buồn : "Đi đâu ư " Đi tìm tình yêu. Nó ở đâu, hả ông "" Hắn lẩn thẩn từ sau khi bị cô vợ diễn viên đá.

Chỉ có tôi là may mắn hơn cả. Tôi sống yên ổ bên vợ con. Vợ tôi là nhân vật quan trọng của một Bộ quan trọng. Thu nhập của cô ta rất khá vì thường có nhiều người đến nhà tôi, lúng túng móc một món gì đó ở trong cặp đặt lên bàn, cười gượng, xin "bà chị" giúp cho một chuyện nhỏ.... Tôi cũng kính nể vợ, vì cô ấy rất nghiêm khắc với chồng con và mọi chuyện trong nhà đều do vợ tôi xếp đặt. Tôi làm việc như chơi, thường la cà các nhà hàng, khách sạn. Thỉnh thoảng cũng bia ôm tí tỉnh. Vậy mà vào những đêm đông mua phùn ẩm ướt, tôi cảm thấy thiếu thốn một cái gì đó, và một nỗi buồn khó tả làm tôi bứt rứt không yên. Trong những giấc ngủ đầy mộng mị, một vị mặn nồng nàn cứ ám ảnh đôi môi đã nhạt thếch vì những cái hôn "bia ôm" của tôi.

Chính trong những giấc ngủ chập chờn, mộng mị, với nỗi khát khao một vị mặn trên môi ấy, tôi nhớ về một nơi xa lắc trong ký ức. Núi Gạc Nai, thung Ngàn Sương, thác Ngàn Mê, và ké Linh.

Liệu bây giờ ké Linh có còn sống để tiếp tục đợi chờ Mai Thi của mình, và ngôi nhà sàn cô độc giữa thung lũng hoang vắng phủ đầy sương mù ấy, có còn không " ...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Hôm thứ Tư (27/01/2021), Bộ An ninh Nội địa Mỹ ban bố tình trạng báo động khủng bố toàn quốc do mối đe dọa tiềm tàng từ phần tử cực đoan phản đối ông Joe Biden làm tổng thống.
Hôm thứ Tư (27/01/2021), Thủ tướng Anh Boris Johnson cho biết lệnh phong tỏa ở Anh có thể kéo dài đến ngày 08/03/2021, cùng thời điểm trường học được phép mở cửa trở lại.
Hôm thứ Hai (25/01/2021), thượng viện Mỹ đã phê chuẩn bà Janet Yellen là người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo Bộ Tài chính.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cảnh báo nguy cơ "Chiến tranh Lạnh mới" nếu lãnh đạo thế giới không gác lại đối đầu khi phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới.
Một đám cháy đã bùng phát tại Viện Huyết thanh ở bang Maharashtra, Ấn Độ, nơi đang sản xuất hàng triệu liều vaccine Covid-19.