Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đại Tướng Cao Văn Viên Kể Lại Chiến Sự 1975: 5 Chính Phủ Tổng Thống Mỹ Và Cuộc Chiến Việt Nam

19/01/200200:00:00(Xem: 4328)
* Các sự kiện liên quan đến chính sách Hoa Kỳ đối với VN
Trong số báo Thứ Bảy tuần, VB đã tổng lược những ghi nhận và phân tích của Đại tướng Cao Văn Viên về 5 sự kiện đã quyết định tình hình cuộc chiến Việt Nam vào giai đoạn cuối cùng. Như đã trình bày, trong 5 sự kiện nêu ra, có 3 sự kiện liên quan đến chính sách Hoa Kỳ đối với cuộc chiến VN. Sự kiện thứ 1 là: lời hứa của Tổng thống Hoa Kỳ Richard M. Nixon sẽ phản ứng mạnh mẽ mà Việt Nam Cộng Hòa xem như là một sự cam kết mang tính cách giữa hai quốc gia lại không được chính quyền kế nhiệm (Tổng thống Gerald R.Ford) tôn trọng, thậm chí vào lúc CSBV vi phạm một cách trắng trợn. Sự kiện thứ 2: Việc quân viện của Hoa Kỳ bị cắt giảm một cách bất ngờ và lớn lao đã làm kiệt quệ khả năng và tinh thần chiến đấu của Quân và Dân Việt Nam Cộng Hòa. Sự kiện thứ ba: Các nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa không nhận ra được chính sách Hoa Kỳ đã thay đổi sang hòa hoãn và tạo thuận lợi cho Cộng sản dù đã phải trả giá cho sự thất hứa với một đồng minh là giúp đồng minh đó giữ vững nền độc lập của mình. Vì vậy các nhà lãnh đạo này không thể hành động phù hợp với thực tế mà vẫn cứ tiếp tục đẩy số phận Việt Nam Cộng Hòa vào thế phải né tránh và thúc thủ.

Về chính sách Hoa Kỳ đối với cuộc chiến Việt Nam, Đại tướng Cao Văn Viên đã nhắc đến các chiến lược của 6 vị Tổng thống Hoa Kỳ: Tổng thống Truman, Tổng thống Eisenhower, Tổng thống Kennedy, Tổng thống Johnson, Tổng thống Nixon. Sau đây là phần tổng lược những ghi nhận của Đại tướng Cao Văn Viên về chính sách Hoa Kỳ đối với VN qua 5 chính quyền Tổng Thống Mỹ. Phần này được biên soạn dựa theo hồi ký của Đại tướng Cao Văn Viên do Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ xuất bản, dịch giả Duy Nguyên chuyển sang Việt ngữ và đồng ý cho VB sử dụng để biên soạn các bài tổng hợp về cuộc chiến Việt Nam.

* Tổng thống Truman, Tổng thống Eisenhower và cuộc chiến VN
Theo Đại tướng Cao Văn Viên, ngoài những nguyên nhân chính vừa nêu trên, dĩ nhiên còn vô số những lý do chằng chịt khác tác dụng vào tạo nên sự suy sụp này. Vào cuối thế chiến thứ hai, sự lãnh đạo của Hoa Kỳ đối với Thế giới Tự do không ai mà không nhìn nhận. Nhưng chừng như khi có cuộc chiến tại Việt Nam và nhất là tại khu vực Đông Nam Á nói chung, chính sách Hoa Kỳ đã thay đổi nhiều lần, mà thoạt đầu là chính sách phi chính sách. Rồi đến khi cuộc can thiệp để chống Cộng sản lên đến giai quyết liệt thì lại nhượng bộ và hòa hoãn. Sự thay đổi này làm ảnh hưởng một cách nặng nề đến chính sách viện trợ và cung cách tiến hành chiến tranh tại phần đất này của thế giới.

Đại tướng Cao Văn Viên cũng nhắc lại một số sự kiện như sau: Tổng thống Franklin D.Roosevelt không bao giờ có quyết định là có nên giúp cho Pháp trở lại tái lập chế độ thuộc địa tại Đông Dương hay không. Chính quyền Truman thì có một phản ứng rõ ràng về trước cuộc xung đột giữa Việt Minh và Pháp trong khoảng 1945-1946. Chính quyền Mỹ từ khước việc Pháp yêu cầu phi cơ và tàu chiến Hoa Kỳ giúp chuyên chở quân lính Pháp đến Đông Dương và đồng thời cũng từ khước việc Pháp yêu cầu trang bị vũ khí cho quân đội Pháp đánh nhau với Việt Minh. Đồng thời chính quyền Truman cũng từ khước lời kêu gọi của Hồ Chí Minh. Tháng 8 và 9 năm 1945, trong khi Việt Minh đang kiểm soát Hà Nội, Hồ Chí Minh, qua trung gian của Văn phòng Cơ quan Chiến lược Hoa Kỳ, đã gửi yêu cầu lên Tổng thống Truman xin cho Việt Nam được hưởng quy chế "như của Phi Luật Tân để được bảo hộ trong thời gian giành độc lập." Từ tháng 10/1945 cho đến tháng Hai năm 1946, Hồ Chí Minh viết cho Tổng thống Truman ít nhất 8 lá thư, chính thức kêu gọi Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc can thiệp để ngăn chận chính sách thuộc địa của Pháp. Không có bằng chứng nào cho thấy các lá thư này được trả lời. Việc Hoa Kỳ không can thiệp chẳng khác gì là không chấp nhận cho Pháp vào vậy. (Bản tóm lược chính sách Hoa Kỳ dựa trên tập "Tài liệu Ngũ Giác Đài" của New York Times xuất bản năm 1971.)

Nhưng khi Việt Nam được công nhận độc lập một phần trong Liên Hiệp Pháp vào tháng Ba năm 1949 do Vua Bảo Đại đứng đầu thì chính quyền Tổng thống Truman lại không hậu thuẫn cho ông, viện cớ là Vua Bảo Đại là do Pháp đặt ra. Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam bắt đầu ló dạng từ khi Mao Trạch Đông bắt đầu nắm vận mệnh Trung Hoa vào cuối năm 1949. Mục đích của Hoa Kỳ là chận đứng sự bành trướng của Cộng sản tại châu Á. Vì vậy khi Nga và Trung Cộng công nhận Hồ Chí Minh vào tháng 1/1950 thì Mỹ liền công nhận Vua Bảo Đại trong chức danh Quốc trưởng Quốc gia VN vào tháng 2/1950 và chỉ ba tháng sau Mỹ tuyên bố sẽ viện trợ kinh tế cho Pháp để Pháp trở lại Đông Dương. Từ một khoản viện trợ khiêm tốn 10 triệu Mỹ kim, số tiền viện trợ này vọt lên đến 1 tỉ (ngàn triệu) Mỹ kim vào năm 1954. Cuộc chiến tranh Đông Dương diễn ra bằng tiền của Mỹ tiếp tế qua tay người Pháp.

Khi Pháp bị thất trận Điện Biên Phủ và buộc phải ký hiệp định Genève năm 1954, Hội đồng An ninh Quốc gia của chính quyền Tổng thống Eisenhower thấy rằng hiệp định này rất thất lợi cho Mỹ nên đã tìm cách chận đựng sự bành trướng thêm nữa của Cộng sản tại VN. Mục tiêu được đặt ra là duy trì "tình thân hữu với những người không Cộng sản tại miền Nam", tức chính phủ Ngô Đình Diệm, và để ngăn chận Cộng sản chiến thắng tại miền Nam bằng một cuộc tổng tuyển cử. Từ đó, Việt Nam Cộng Hòa nhận viện trợ trực tiếp từ Mỹ. Quân đội Quốc gia Việt Nam, do Pháp huấn luyện và trang bị, được cải tổ toàn diện. Những binh sĩ chuyên nghiệp có nhiều kinh nghiệm chiến đấu nhưng mang nặng tư tưởng và hành vi theo Pháp liền được cho giải ngũ. Một thế hệ mới được thu nhận vào và theo cấp bậc mà thăng tiến trong quân đội mới mang tên là Quân lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH-tiếng Anh gọi tắt là ARVN).

Mục tiêu của QLVNCH là khai triển quân đội theo cách tổ chức của Hoa Kỳ, được Hoa Kỳ huấn luyện, trang bị và kỹ thuật chiến đấu từ đầu đến cuối. Để làm quen với cơ cấu tổ chức theo kiểu Hoa Kỳ, nhiều sĩ quan QLVNCH theo học khóa Lãnh đạo Chỉ huy. Về sau nhiều sĩ quan còn được cử đi Hoa Kỳ để học thêm về các ngành chuyên môn của mình.

* Các quyết định của Tổng thống Kennedy, Tổng thống Johnson, và kế hoạch Việt Nam hóa của Tổng thống Nixon
Khi được đắc cử, Tổng thống Kennedy đã chuyển kế hoạch có giới hạn của chính quyền Tổng thống Eisenhower thành một cuộc can thiệp rộng lớn để ngăn chận sự thống trị của CS tại miền Nam. Nhưng sự can thiệp này, mặc dù rộng lớn, không bao giờ thực hiện đúng mức của nó. Phải đợi đến khi chính quyền của Tổng thống Johnson tham gia quyết liệt vào bằng cả Không quân và lực lượng bộ chiến, và giai đoạn gay cấn nhất là quân số Hoa Kỳ lên đến 543,500 người vào đầu năm 1969. Người kế vị Tổng thống Johnson là Tổng thống Nixon. Vị Tổng thống này lập tức đảo ngược phương cách can thiệp bằng kế hoạch Việt Nam hóa, một phó sản khá thuận lợi của học thuyết do ông đưa ra. Thay vì phải trực diện đối đầu, Tổng thống Nixon chủ trương thương thuyết và chiến lược mưu tìm hòa bình của ông được đặt trên "ba cây cột: thiện chí, sức mạnh và tình tương nhiệm". Đó là cách Tổng thống Nixon thường nói. Nhưng nếu có một điểm khác biệt chính yếu duy nhất giữa chủ thuyết Nixon và chính sách của Hoa Kỳ về VN từ năm 1954 là ở chỗ Tổng thống Nixon muốn "phía tương nhiệm gánh vác công việc phòng thủ". Hãy xem bộ trưởng Quốc phòng Melvin R.Laird kịch liệt đả kích chính sách của chính quyền cũ thì thấy rõ.

"Từ quan điểm của chính sách phòng thủ của Hoa Kỳ, thảm trạng Việt Nam là kế hoạch Việt Nam hóa không được thực hiện sớm hơn, trước 1969, bằng phương thức huấn luyện và trang bị cho Quân lực VNCH để họ chiến đấu chống lại Bắc Việt một cách hữu hiệu cũng như đối phó với vấn đề mất an ninh trong nước do Việt Cộng gây ra. Rõ ràng, những cơ hội đó đã bị bỏ qua để thay vào đó những quyết định can thiệp một cách đáng kể của Hoa Kỳ vào mọi giai đoạn của cuộc chiến" (trích Chủ thuyết Nixon: "Từ sự thất vọng ngấm ngầm đến những cơ hội mới" do bộ trưởng Quốc phòng Melvin R. Laird đọc).

* Những thí dụ về trang bị vũ khí
Để giải thích thêm cho sự phân tích của bộ trưởng Quốc phòng Melvin R. Laird, Đại tướng Cao Văn Viên đã nêu ra 1 trường hợp và ghi nhận như sau: Loại súng cá nhân AR-15 mà sau được cải danh thành M-16 là một thí dụ cần nêu rõ. Loại súng này được thí nghiệm tại Việt Nam từ đầu năm 1964. Đây là loại súng rất tuyệt hảo nhờ các đặc điểm: nhẹ, dễ bảo trì và chính xác. Viên đạn nhỏ nên người lính bộ chiến có thể mang theo nhiều cấp số, sức công phá của đầu đạn rất mạnh khả năng xuyên phá sâu nhờ vào tốc độ viên đạn bắn đi nhanh. Nói tóm lại, loại súng này chế tạo cho người lính Việt Nam và cho chiến trường Việt Nam. Tuy nhiên chỉ có khoảng 200 khẩu súng này được đưa ra sử dụng thật sự. Mấy năm say loại súng này mới được chọn làm vũ khí căn bản cho người lính bộ chiến Việt Nam Cộng Hòa, nhưng chỉ sau khi Cộng sản được trang bị loại súng AK-47 có nhiều ưu thế hơn. Đại tướng Cao Văn Viên cũng nhắc đến việc trang bị loại ống phóng hỏa tiễn M-72 chống xe tăng và sau là loại phi đạn TOW chỉ được thực hiện sau khi Cộng quân đã có loại B-40 và B-41.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tuần qua, Nước Mỹ chính thức đưa giới tính thứ ba vào thẻ thông hành. Công dân Hoa Kỳ giờ đây có thể chọn đánh dấu giới tính trên sổ thông hành là M (nam), F (nữ) hay X (giới tính khác).
Sau hành động phản đối quả cảm của cô trên truyền hình Nga, nữ phóng viên (nhà báo) Marina Ovsyannikova đã kêu gọi đồng hương của cô hãy đứng lên chống lại cuộc xâm lược Ukraine. Ovsyannikova cho biết trong một cuộc phỏng vấn với "kênh truyền hình Mỹ ABC" hôm Chủ nhật: “Đây là những thời điểm rất đen tối và rất khó khăn và bất kỳ ai có lập trường công dân và muốn lập trường đó được lắng nghe cần phải nói lên tiếng nói của họ”.
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cử hành Ngày Quốc tế Nhân Quyền Lần Thứ 73 và Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam lần thứ 20.
Sau hơn 30 năm Liên bang Xô Viết sụp đổ, nhân dân Nga và khối các nước Đông Âu đã được hưởng những chế độ dân chủ, tự do. Ngược lại, bằng chính sách cai trị độc tài và độc đảng, Đảng CSVN đã dùng bạo lực và súng đạn của Quân đội và Công an để bao vây dân chủ và đàn áp tự do ở Việt Nam. Trích dẫn chính những phát biểu của giới lãnh đạo Việt Nam, tác giả Phạm Trần đưa ra những nhận định rất bi quan về tương lai đất nước, mà hiểm họa lớn nhất có lẽ là càng ngày càng nằm gọn trong tay Trung quốc. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Tác giả Bảo Giang ghi nhận: “Giai đoạn trước di cư. Nơi nào có dăm ba cái Cờ Đỏ phất phơ là y như có sự chết rình rập." Tại sao vậy? Để có câu trả lời, mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của nhà văn Tưởng Năng Tiến.
Người cộng sản là những “kịch sĩ” rất “tài”, nhưng những “tài năng kịch nghệ” đó lại vô phúc nhận những “vai kịch” vụng về từ những “đạo diễn chính trị” yếu kém. – Nguyễn Ngọc Già (RFA).. Mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của phó thường dân/ nhà văn Tưởng Năng Tiến để nhìn thấy thêm chân diện của người cộng sản.
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.