Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Câu Chuyện Thầy Lang: Dinh Dưỡng, Bệnh Thiếu Máu

16/09/200500:00:00(Xem: 5414)
- Máu là một mô lỏng chứa nhiều chất khác nhau lưu thông khắp cơ thể qua động mạch và tĩnh mạch rồi tới mô và các cơ quan. Máu có rất nhiều tế bào lơ lửng trong một dung dịch gọi là huyết tương. Mỗi người trưởng thành trung bình có 5 lít máu.
Hai nhiệm vụ chính của Máu là: a)hô hấp để lấy dưỡng khí cho cơ thể, thải thán khí ra ngoài; và b)mang chất dinh dưỡng từ hệ tiêu hóa tới tế bào.
Huyết tương chứa chất bổ dưỡng để nuôi cơ thể và các yếu tố chống máu đóng cục.
Đa số tế bào trong máu được sản xuất từ tủy xương và có nhiều nhóm với nhiệm vụ khác nhau:
-Hồng huyết cầu chứa huyết cầu tố để chuyên trở dưỡng khí và thán khí.
-Bạch huyết cầu với nhiều loại và nhiệm vụ riêng biệt như bạch cầu trung tính (neutrophils) chống xâm nhập của vi khuẩn; lymphô bào (lymphocytes) tạo ra tính miễn dịch cho cơ thể; bạch cầu đơn nhân và đại thực bào (monocytes, macrophages) tiêu diệt vi khuẩn; tiểu cầu (platelet) tạo nút bít chỗ hở ở mạch máu và khích động sự tạo máu cục để ngăn ngừa xuất huyết.
Nếu chứa nhiều chất béo, huyết tương có thể đưa tới các bệnh về mạch máu và tim. Hồng huyết cầu chịu nhiều ảnh hưởng của sự dinh dưỡng. Thiếu hoặc dư dinh dưỡng đều gây ra một số rối loạn cho cả tế bào máu lẫn huyết tương trong đó có các bệnh thiếu máu. Thiếu Máu (anemia) là bệnh rất thường xẩy ra.
Thiếu Máu Dinh Dưỡng.
Thiếu máu là bệnh trong đó có sự giảm về kích thước và số lượng của hồng huyết cầu hoặc giảm số lượng huyết cầu tố trong hồng cầu. Hậu quả của thiếu máu là: a) giới hạn sự trao đổi dưỡng khí và thán khí giữa máu và các tế bào cơ thể và b) giảm dinh dưỡng cho các mô bào.
Có nhiều loại thiếu máu:
-Thiếu máu có liên hệ tới vấn đề dinh dưỡng như thiếu sinh tố B12, Folic acid, khoáng chất Sắt.
-Thiếu máu không do dinh dưỡng như băng huyết, các bệnh hủy hoại máu, trong bệnh ung thư bạch cầu, trong một số bệnh nhiễm, do ký sinh trùng, tác dụng của dược phẩm, hóa chất, bệnh bẩm sinh, bệnh kinh niên...
Theo tiêu chuẩn của Cơ Quan Y Tế Thế Giới, thiếu máu xẩy ra khi lượng huyết cầu tố ở dưới 11 mg /100ml máu cho trẻ em từ 6 tháng tới 6 tuổi; dưới 12 mg cho tuổi từ 6 đến 14; nam giới 13 mg; nữ giới trưởng thành không có thai dưới 12 mg; còn có thai thì dưới 11 mg.
Trẻ em và phụ nữ trong thời kỳ sanh đẻ thường hay mắc bệnh thiếu máu liên hệ tới dinh dưỡng. Ở Việt Nam có tới 60% trẻ em tuổi từ 6-24 tháng và 30-40% phụ nữ có thai bị thiếu máu dinh dưỡng. Trong khi đó thì trên thế giới tỷ lệ dân chúng bị thiếu máu dinh dưỡng cũng khá cao: 30%.
Thiếu máu Dinh Dưỡng đưa tới giảm khả năng làm việc bằng chân tay; giảm phát triển trí tuệ và khả năng học hỏi, tập trung của học sinh; tăng các rủi ro sanh non, tăng tử vong của cả mẹ lẫn con; tăng xuất huyết và nhiễm trùng sau khi người mẹ lâm bồn.
Xin tìm hiểu về ba bệnh Thiếu Máu Dinh Dưỡng thường thấy.
1-Thiếu máu vì không đủ Sắt.
Thiếu sắt là hậu quả chính của kém dinh dưỡng. Sắt là một khoáng chất có rất nhiều trong thực phẩm.
Mặc dù cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ, vậy mà thiếu khoáng này là chuyện thường xẩy ra trong vấn đề ăn uống và đưa tới nhiều rối loạn đáng kể.
Sắt giúp huyết cầu tố chuyên trở dưỡng khí đi nuôi tế bào và giúp loại bỏ thán khí khỏi cơ thể. Sắt cũng là một thành phần của nhiều diêu tố (enzyme) trong hệ thống miễn dịch để chống nhiễm vi khuẩn. Sắt còn giúp chuyển hóa beta-carotene thành sinh tố A, tạo ra chất collagene để liên kết các tế bào với nhau. Cơ thể hấp thụ sắt nhiều hơn khi kho dự trữ xuống thấp và ít hơn khi kho có đầy đủ.
Trong thực phẩm có hai loại sắt: heme iron có nhiều trong thịt đỏ, thịt gà, cá; và nonheme iron có nhiều trong thực vật và lòng đỏ trứng.
Heme iron được hấp thụ mau hơn và nhiều hơn là nonheme iron. Nhưng khi ăn chung thực phẩm thực vật với thịt cá hoặc dùng thêm sinh tố C thì nonheme iron được hấp thụ nhiều hơn. Thí dụ ăn sáng với trứng tráng mà có thêm thịt “ham” giúp hấp thụ sắt; thịt gà giúp hấp thụ iron ở gạo ; thịt heo giúp hấp thụ iron trong đậu, strawberry ở oatmeal. Gan bò có nhiều iron hơn thịt bò, thịt gà, thịt heo, cá.
Trong bệnh thiếu máu vì không đủ sắt, hồng cầu thường nhỏ và lượng huyết cầu tố cũng ít. Đây là bệnh thiếu dinh dưỡng thông thường nhất trên thế giới và cũng là bệnh thiếu máu thường thấy ở phụ nữ vào tuổi có thai và ở trẻ em. Bên Việt Nam, theo Bộ Y Tế, lượng sắt trong thực phẩm của dân chúng chỉ có từ 30-40% nhu cầu nhất là ở nông thôn. Thiếu máu do thiếu sắt là điều thường thấy ở các vùng này. Vì thế, giới chức y tế nơi đây đã tăng cường khoáng Sắt trong nước mắm để chấn chỉnh tình trạng thiếu máu vì dinh dưỡng. Nước mắm là món ăn hàng ngày của mọi người.
Nhu cầu sắt.
Nhu cầu cao khi trẻ sanh thiếu tháng: 1mg sắt / ngày. Trẻ sanh bình thường chỉ cần một phần ba số lượng đó. Tới hai tuổi cần 1mg; tăng lên 2mg ở tuổi đang lớn để rồi trở lại mức trung bình mỗi ngày là 1.2mg.
Phụ nữ trong tuổi sanh đẻ thì cần khoảng 2mg để bù lại số sắt thất thoát vào mỗi kinh kỳ. Khi có thai, nhu cầu tăng gấp đôi vào khoảng 6 tháng, gấp ba vào 9 tháng để cung ứng đủ máu cho thai nhi và cho tử cung lớn rộng.
Nguyên nhân
Nguyên nhân đưa tới thiếu máu vì thiếu sắt gồm có:
1-Không dùng đủ sắt vì phần ăn thiếu. Chẳng hạn ăn nhiều thực phẩm thực vật, không có loại heme sắt.
2- Không hấp thụ được vì các bệnh tiêu hóa như tiêu chẩy, không có acid trong bao tử, bệnh ruột, cắt bỏ bao tử, dưới tác dụng của dược phẩm. Các thuốc chữa loét bao tử tagamet, zantac, thuốc tetracycline giảm dịch vị acid trong bao tử.
3- Không sử dụng được sắt như trong trường hợp mắc bệnh bao tử kinh niên.
4- Tăng nhu cầu sắt để tăng khối lượng máu như ở tuổi đang tăng trưởng, có thai, nuôi con sữa mẹ.
5- Tăng thất thoát như băng huyết vì thương tích, loét bao tử, bệnh trĩ, ung thư ruột, ký sinh trùng ruột, khi có kinh nguyệt.
Triệu chứng
Bệnh nhân thường có một số triệu chứng như lơ đễnh, chia trí, mệt mỏi, kém ăn, làm việc mau hụt hơi. Một triệu chứng đặc biệt chưa có giải thích là bệnh nhân thích ăn những món bất thường như đất sét, nước đá cục, mảnh vụn sơn tường. Ăn như vậy có thể đưa tới tổn thương niêm mạc bao tử, ruột.
Ở giai đoạn trầm trọng, da bệnh nhân tái nhợt; niêm mi mắt trắng lạt thay vì đỏ tươi; móng tay mỏng và phẳng; lưỡi viêm chơn bóng như bôi sáp; bao tử không còn chất chua. Trẻ em thiếu máu có thể chậm học hỏi, kém tăng trưởng.

Định bệnh
Thường thường, xét nghiệm kích thước, hình dáng và mầu của hồng huyết cầu sẽ cho ta khái niệm đại cương về loại thiếu máu.
Để chính xác hơn, có thể đo lượng Ferritin trong huyết tương để biết kho dự trữ sắt thiếu hay không; đo lượng transferritin được chuyển cho hồng cầu; đo lượng free erythrocyte protoporphyrin, một chất mà khi hợp với sắt sẽ trở thành huyết tồ. Nếu chất này có nhiều trong máu là dấu hiệu của thiếu sắt.
Thành ra, không phải cứ thấy sắt trong máu thấp là uống sắt, mà phải căn cứ vào mức độ Ferririn và Transferritin.
Điều trị
Điều trị căn cứ vào việc xác định nguyên nhân gây bịnh và trị nguyên nhân. Ngoài ra, cũng cần bổ khuyết cho kho dự trữ sắt. Việc này được thực hiện bằng cách cho người bệnh dùng sắt dưới dạng ferrous sulfate từ 200- 300 mg/ba lần mỗi ngày. Có loại thuốc viên và thuốc nước.
Sắt được hấp thụ dễ dàng khi bụng đói, nhưng lại gây ra kích thích niêm mạc. Để tránh khó chịu bao tử và táo bón, có thể uống khi no bụng. Khi không uống được sắt như là rối loạn tiêu hóa thì có thể chích dung dịch thuốc bổ có sắt.
Về thực phẩm thì thịt bò, cá, gà, gan, trứng, đậu, sữa, đều có nhiều sắt. Sắt trong thực phẩm động vật ( heme iron) được hấp thụ nhiều hơn sắt trong thực vật (nonheme iron).
Sinh tố C, đường lactose trong sữa, acid hydrochloric làm tăng hấp thụ nonheme iron. Chất rượu cũng giúp hấp thụ sắt cho nên các thuốc bổ máu đều có một chút alcohol.
Ngoài ra, nấu thực phẩm với nồi bằng sắt cũng tăng khoáng này trong thức ăn. Vì thế tại nhiều quốc gia người ta thay thế nồi sắt bằng nồi nhôm, thép không rỉ hoặc các hợp kim khác.
Calcium, phosphate, lòng đỏ trứng, trà, chất xơ, đậu nành sống làm giảm hấp thụ nonheme iron. Các thuốc chống acid bao tử, thuốc cimetidine, tetracycline, zantac làm giảm hấp thụ sắt.
Cũng nên lưu ý là khi tiêu thụ quá nhiều sắt thì có thể bị bệnh Nhiễm Sắc Tố Sắt Haemochromatosis trong đó sắt sẽ tích tụ ở gan, lá lách, tủy sống, tế bào tim dưới dạng ferritin và hemosiderin. Sự kiện này xẩy ra khi chẳng may thực phẩm có nhiều sắt hoặc ở một số quốc gia dùng nồi bằng sắt nấu thức ăn. Dùng thêm chất sắt đúng theo hướng dẫn của bác sĩ thì ít khi xẩy ra bệnh này.
Bệnh nhân có các triệu chứng như mỏi mệt, đau bụng, nhức mỏi xương khớp, kinh kỳ không đều, loạn cương dương. Khi trầm trọng, gan sưng to, da thâm mầu đồng đen, đái đường, tim suy và bệnh nhân có thể chết.
Bệnh thường được chữa bằng lọc máu để loại bớt sắt dư thừa đi.
2-Thiếu máu vì thiếu sinh tố B 12
B 12 đứng hàng thứ tám của nhóm sinh tố B được khám phá vào năm 1948 trong gan súc vật. Sinh tố này rất cần cho sự phân bào.
Thực phẩm động vật đều có sinh tố B 12, ngược lại mọi sinh vật mọc từ dưới đất lên đều không có sinh tố B 12 hoặc là có rất ít.
Thiếu sinh tố này thường là do:
a-Không ăn đầy đủ thực phẩm có B12 như thịt, pho mát, trứng sữa bò, sữa chua hoặc chỉ ăn rau trái. Bệnh thường thấy ở người ăn chay thuần túy, trẻ em bú sữa mẹ ăn chay, áp dụng chế độ dinh dưỡng theo sở thích riêng (fad diet) và đôi khi ở người nghiện rượu kinh niên. Điều nên nhớ là lá gan của ta dự trữ nhiều B 12 cho nên bệnh chỉ xẩy ra sau dăm năm không ăn thực phẩm chứa sinh tố này.
b-Không hấp thụ được B 12 là nguy cơ chính của bệnh. Sự hấp thụ này diễn ra ở đoạn cuối của ruột tràng (ileum) với sự hiện diện của một nhân tố nội tại (intrinsic factor) do bao tử tiết ra. B12 bám vào nhân tố này để được hấp thụ vào ruột. Bệnh xẩy ra trước khi kho sự trữ cạn sinh tố này.
Những lý do đưa tới kém hấp thụ là: bệnh bao tử tiết ra không đủ nhân tố nội tại; cắt bỏ một phần bao tử; bệnh ở hồi tràng (ileum) như trong bệnh Crohn; ký sinh trùng trong ruột ăn hết B12. Hấp thụ cũng giảm dần với tuổi cao vì ở tuổi này, dịch vị bao tử ít đi. Vì thế sau 60 tuổi, nên đo mức độ B 12 hàng năm để coi có thiếu và có cần chích B 12 hay không.
c-Không sử dụng được B12 trong các bệnh thận, gan, suy dinh dưỡng, ung thư
Diễn tiến của bệnh rất âm thầm. Người bệnh ăn mất ngon, đại tiện khi bón khi lỏng, đau ngầm ở bụng dưới, lưỡi đỏ rát, mất kí, rối loạn chức năng dây thần kinh ngoại vi.
Khi bệnh đã được chẩn đoán thì bệnh nhân cần được chích B 12. Ban đầu thì chích mỗi tuần cho tới khi hồng cầu trở lại bình thường rồi sau đó mỗi tháng một lần trong nhiều năm để tránh tổn thương thần kinh.
3- Thiếu máu vì thiếu Folic acid
Folic acid có trong mọi loại thực phẩm thiên nhiên như rau, trái cây, gan động vật và trong cereal tăng cường folate. Folic rất dễ bị nhiệt tiêu hủy khi nấu thực phẩm quá kỹ. Vì thế, nếu mỗi ngày đều ăn thực phẩm nấu vừa phải thì không thể thiếu sinh tố này.
Thiếu folate có thể vì thực phẩm không có, bị hủy hoại trong khi nấu hoặc không được ruột hấp thụ. Các dược phẩm chống kinh phong và thuốc ngừa thai cũng làm giảm sự hấp thụ folate.
Điểm đặc biệt là dân nghèo lại hay thiếu vì họ thường nấu thực phẩm rất kỹ. Người ghiền rượu là đặc biệt hay bị thiếu folate. Bệnh do thiếu folate xẩy ra rất mau, chừng vài tháng.
Mỗi ngày cơ thể cần khoảng 50microgram; khi có thai hoặc cho con bú sữa thì người mẹ cần hai ba lần nhiều hơn để ngừa thai nhi bị tật Nứt Đốt Sống Spina Bifida, Khuyết Tật Ống Thần Kinh.
Triệu chứng bệnh thiếu máu vì thiếu folate và B 12 giống nhau ngoại trừ tổn thất về thần kinh và tâm trí chỉ có trong trường hợp thiếu B 12.
Ngoài ra, thiếu sinh tố B6 làm giảm sự tổng hợp huyết cầu tố; thiếu sinh tố E làm màng hồng cầu mỏng manh dễ bị tiêu huyết; thiếu sinh tố C đưa tới bệnh scurvy với chẩy máu nướu răng, dưới da. Các sinh tố này đều có rất nhiều trong thực phẩm ta dùng hàng ngày.
Kết luận
Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất quan trọng đối với các bệnh thiếu máu. Nhưng nếu áp dụng một chế độ dinh dưỡng cân bằng, đa dạng và đầy đủ thì ta có thể tránh được các bệnh này.
Danh từ Thiếu Máu Anemia được y học dùng để chỉ bệnh trong đó có sự thay đổi về số lượng và phẩm chất của hồng huyết cầu. Đôi khi người mình cũng dùng danh từ này để nói về huyết áp thấp và dễ gây ngộ nhận. Với bệnh về áp suất của động mạch blood pressure thì nên có thói quen dùng danh từ Cao hoặc Thấp Huyết Áp, cho chính xác hơn.
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Texas- Hoa Kỳ

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Không có cách nào để bọc đường tin này: Một nửa người Mỹ lớn tuổi sẽ béo phì rất nghiêm trọng trong vòng hơn 12 năm nữa, theo một phúc trình mới tiên đoán.
Ngày 14 tháng 9, 2022, Tổng Giám đốc WHO, Tedros Adhanom Ghebreyesus tuyên bố thế giới chưa bao giờ ở trong tình trạng tốt hơn để chấm dứt đại dịch COVID-19 và kêu gọi các quốc gia tiếp tục nỗ lực chống lại loại virus đã giết chết hơn sáu triệu người. Tuy nhiên, ông nói: “Chúng ta vẫn chưa đến đó”. Đây được xem là nhận xét lạc quan nhất từ cơ quan Liên Hiệp Quốc kể từ khi WHO tuyên bố COVID-19 là tình trạng khẩn cấp quốc tế và gọi virus này là đại dịch vào tháng 3 năm 2020 (VOA).
Virus bệnh đậu khỉ là một poxvirus hình giống như viên gạch. Poxvirus là loại virus hình viên gạch hoặc hình bầu dục với bộ gen DNA sợi đôi lớn (large double stranded DNA genome)...
Nghiên cứu mới nhất cho thấy có bằng chứng rằng trầm cảm không phải là do “mất cân bằng hóa học” trong não – cụ thể là sự mất cân bằng của một chất hóa học gọi là serotonin. Trong suốt ba thập niên, mọi người đã bị “nhồi sọ” rằng trầm cảm là do “mất cân bằng hóa học” trong não – cụ thể là sự mất cân bằng của một chất hóa học gọi là serotonin. Tuy nhiên, nghiên cứu mới nhất của Joanna Moncrieff (Giáo Sư lâm sàng cao cấp, Khoa tâm thần học xã hội và phê bình, UCL) và Mark Horowitz (Nghiên cứu lâm sàng về Tâm thần học, UCL) cho thấy có bằng chứng không hỗ trợ điều đó. Nghiên cứu được đăng trên trang TheConversation.
Giăng biểu ngữ. Cầm bảng. Biểu tình. Hăm dọa… Chiến thắng. Thất vọng. Reo hò. Giận dữ. Cười, Khóc. …như một trận đấu football chuyện nghiệp chung kết hoặc trận túc cầu vô địch quốc tế, nhưng tệ hơn vì hai bên thua và thắng, từ cầu thủ cho đến người ủng hộ sinh lòng oán hận nhau. Chuyện này tạm gọi là “Trận Đấu Bầu,” mà trọng tài là chín thẩm phán Tối Cao Pháp Viện. Nói cho công bằng, cả hai phe: giữ bầu và phá bầu đều có lý do chính đáng, đều có thể thuyết phục đa số nếu cả hai phe đừng ngoan cố chèn ép lẫn nhau, có lẽ vì lòng hiếu thắng hơn là lợi ích, vì lợi ích trực tiếp ở nơi người có bầu hoang, bầu không được thừa nhận, không phải thuộc về đa số người không có kinh hoặc đã tắt kinh. Trong thiên nhiên ngàn năm vẫn vậy, từ chiếc nụ nở thành hoa cho đến khi đơm trái, biết bao nhiêu ong bướm dập dìu, mang phấn nhụy đi reo rắc dòng dõi khắp nơi trên mặt đất.
Chứng nhức đầu “migraine” đang hành hạ hơn 1 tỷ người và là nguyên nhân gây tàn tật đứng hàng thứ hai trên toàn thế giới. Ở Hoa Kỳ, cứ 4 gia đình thì có 1 gia đình mà trong đó có ít nhất một thành viên bị chứng đau nhức đầu, với những cơn đau dồn dập, kinh niên. Mỗi năm, ước tính có khoảng 85.6 triệu ngày nghỉ ốm là do bệnh đau đầu.
Lavender (Oải Hương) là một loài hoa rất phổ biến với các nền văn hóa phương Tây. Với người Việt – đặc biệt là người Việt ở Mỹ- trong vài thập niên qua cũng đã bắt đầu quen thuộc với loài hoa màu tím có hương thơm đặc trưng này. Lavender có tên khoa học là Lavendula, là một loại cây thuộc chi Oải Hương (Lavandula), là loại cây bụi có hoa mùi thơm nồng, xuất xứ từ vùng Địa Trung Hải. Cây hoa Oải Hương đã được biết đến cách đây hàng ngàn năm ở Châu Âu từ thời Hy Lạp cổ đại. Đó là nguồn cung cấp tinh dầu oải hương, được xem như là một thảo dược hữu dụng từ thuở xa xưa. Do mùi hương thơm sạch có tính chất đuổi côn trùng, có tính sát trùng, tinh dầu oải hương được ứng dụng rộng rãi để giúp thư giãn cơ thể, giúp làm lành vết thương, sát khuẩn nhẹ…
Cho đến nay, hầu hết các nỗ lực điều trị bệnh Alzheimer đều tập trung vào việc loại bỏ các dấu hiệu của căn bệnh: các mảng và đám chất độc tích tụ trong não. Những nỗ lực đó đưa đến việc sản xuất ra các loại thuốc có thể làm giảm các mảng và đám, nhưng vẫn chưa có tác dụng gì nhiều để duy trì tư duy và trí nhớ. Các kết quả mới nhất với dịch tủy sống cho thấy các phương pháp điều trị khác có thể có hiệu quả, ngay cả khi chúng không ảnh hưởng đến quá trình cơ bản của căn bệnh.
Ngày 24 tháng 3 là Ngày Lao Phổi Quốc Tế. Lao Phổi là một trong những bệnh truyền nhiễm gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Có đến 13 triệu người tại Hoa Kỳ đang sống chung với nhiễm Lao tiềm ẩn. Nếu không được chữa trị, 5-10% sẽ tiến triển thành bệnh Lao Phổi. Tuy nhiên, nhiều người vẫn tưởng rằng Lao Phổi không còn là một vấn đề đáng quan tâm nữa.
Hôm nay, CDC và FDA tuyên bố là chính phủ cho phép chích mũi vaccine thứ tư cho những người từ 50 tuổi trở lên và cả những người từ 12 tuổi trở lên nhưng cơ thể không thể kháng bệnh như người bình thường. Các cơ quan liên bang đã đi đến quyết định này vì họ sợ rằng con vi khuẩn omicron có thể sẽ mang đến nhiều hiểm họa cho Hoa kỳ, tương tự như những gì đã xẩy ra cho châu Âu. -- Xin đọc bài viết rất thiết yếu cho sức khỏe của tất cả chúng ta, của bác sĩ Nguyễn C. Cường. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.