Hôm nay,  

Bao Nhiêu Tuổi Thì Không Được Làm Bypass Cho Tim?

05/07/202400:00:00(Xem: 714)
bypass

Các cụ cao niên thường bị từ chối làm bypass cho tim vì sợ họ không chịu nổi biến chứng trong quá trình phẫu thuật. (Nguồn: pixabay.com)

 
Còn gì tồi tệ hơn khi được biết mình cần phải làm phẫu thuật “bắc cầu” động mạch vành tim (bypass surgery, thường được gọi tắt là làm bypass)? Đó là bị từ chối phẫu thuật vì lý do tuổi tác.
 
Các bác sĩ tim mạch có thể sẽ có đánh giá khác nhau về độ tuổi của bệnh nhân trong việc quyết định liệu có nên làm bypass cho họ hay không. Hầu hết mọi người đều cho rằng bệnh nhân trên 80 tuổi không nên làm bypass cho tim vì kết quả thường không được khả quan như bệnh nhân ở độ tuổi trẻ hơn. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu, suy nghĩ này nên được thay đổi, các bác sĩ không nên chỉ dựa vào tuổi tác mà từ chối phẫu thuật làm bypass cho bệnh nhân.
 
Vấn đề quan trọng là đánh giá bệnh trạng kỹ lưỡng
 
Karen Alexander, bác sĩ tim mạch và là giảng sư y khoa của Trung tâm Y tế Đại học Duke, đã phân tích dữ liệu từ 67,764 bệnh nhân, trong đó có 4,743 người cao niên trên 80 tuổi. Bà phát hiện rằng những bệnh nhân trên 80 tuổi, nếu được lựa chọn cẩn thận (không có các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác), vẫn có thể phẫu thuật làm bypass tốt như các bệnh nhân trẻ hơn.
 
Theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of the American College of Cardiology, bệnh nhân cao niên trên 80 tuổi có nguy cơ cao hơn khi phải phẫu thuật làm bypass kết hợp với thay van tim. Tuy nhiên, nếu họ không có các yếu tố nguy cơ (risk factor) khác, thí dụ như đã từng làm phẫu thuật tim rồi, hoặc từng bị tai biến mạch máu não (stroke) nặng, họ vẫn có thể làm bypass và hồi phục bình thường sau phẫu thuật.
 
Trong nghiên cứu của bác sĩ Alexander, những bệnh nhân trên 80 tuổi có sức khỏe tốt nhất là những người không có tiền sử bịnh suy tim sung huyết (congestive heart failure), bịnh phổi hoặc bịnh về mạch máu và không cần làm bypass khẩn cấp.
 
Nhìn chung, 8.1% bệnh nhân cao niên đã tử vong trong bệnh viện sau khi phẫu thuật làm bypass. Trong khi đó, tỷ lệ tử vong ở các bệnh nhân trẻ hơn (dưới 80 tuổi) là 3%. Tuy nhiên, khi chỉ so sánh với những bệnh nhân cao niên thuộc nhóm khỏe mạnh nhất, tỷ lệ tử vong là 4.2%, không cao hơn bao nhiêu so với nhóm bệnh nhân trẻ.
 
Trong quá trình làm bypass, bác sĩ có thể sẽ lấy các mạch máu từ chân hoặc động mạch từ vùng ngực gần tim. Những mạch máu này được nối vào phía trên và phía dưới của chỗ bị tắc nghẽn trong động mạch vành, “bắc cầu” qua chỗ bị nghẽn và khôi phục lưu lượng máu như bình thường.
 
Nếu được đánh giá bệnh trạng cẩn thận, ngay cả những bệnh nhân cao niên cũng có thể đạt kết quả khả quan sau ca phẫu thuật làm bypass.
 
Một câu chuyện thành công
 
Albert Carlsen là một kỹ sư về hưu đã 89 tuổi. Cụ đã trải qua một ca phẫu thuật làm bypass vào tháng 11 tại Bệnh viện The Heart Hospital of the Desert ở Rancho Mirage. Hiện nay, cụ đã có thể làm các hoạt động hàng ngày như đi bộ, làm vườn và chơi golf.
 
Cụ Carlsen chia sẻ: “Ở cái tuổi của tôi thì ai cũng biết là phải có nguy cơ cao thôi. Nhưng tôi rất mừng vì đã vượt qua ca phẫu thuật đó một cách suôn sẻ. Mổ được 3 ngày là tôi đã có thể đứng dậy, mặc quần áo và sẵn sàng trở về nhà.
 
Các bác sĩ nghĩ gì?
 
Bác sĩ phẫu thuật Jack Sternlieb, chủ tịch và là nhà sáng lập Bệnh viện The Heart Hospital, nơi Albert Carlsen đã thực hiện thành công ca phẫu thuật, cho biết ông cảm thấy tự tin khi phẫu thuật cho những người cao niên như cụ Carlsen.
 
Ông nói: “Làm bypass là để bệnh nhân được sống tiếp chứ không phải để giết họ. Đó là mục đích của chúng tôi.” Theo Sternlieb, độ tuổi trung bình của bệnh nhân đến bệnh viện The Heart Hospital để làm bypass là 74. Mặc dù tuổi tác đúng là một yếu tố làm tăng nguy cơ, nhưng đó không phải là yếu tố quyết định.
 
Thay vào đó, bác sĩ Sternlieb tập trung xem xét các yếu tố về tâm lý và xã hội, với những câu hỏi như: “Bệnh nhân có thực sự muốn sống tiếp không? Họ ăn uống có được không? Họ có người thân, bạn bè hay ai đó hỗ trợ, giúp đỡ không?” Ông cho rằng với những bệnh nhân ở độ tuổi gần đất xa trời như vậy, không thể chỉ đơn thuần là phẫu thuật cho họ xong rồi là hết chuyện, để họ tự lo.
 
Để ca phẫu thuật có kết quả tốt
 
Sternlieb không đồng ý với tỷ lệ tử vong cao được báo cáo trong nghiên cứu của Đại học Duke. Ông cho rằng phẫu thuật làm bypass cho tim có thể được thực hiện an toàn hơn nhiều.
 
Theo một nghiên cứu của Healthgrades.com, bệnh viện của Sternlieb có tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật tim thấp nhất ở Hoa Kỳ, dựa trên dữ liệu Medicare năm 1998. Trong khi nghiên cứu của Đại học Duke báo cáo tỷ lệ tử vong gần 20% đối với bệnh nhân cao niên sau khi làm cả bypass và thay van tim, bệnh viện của Sternlieb không có ca tử vong nào trong các loại phương thức phẫu thuật này.
 
Dữ liệu về tỷ lệ tử vong được thu thập bởi Health Care Financing Administration (HCFA), cơ quan quản trị chương trình bảo hiểm y tế Medicare. Sau khi thu thập dữ liệu; sau đó sẽ được nhiều tổ chức khác nhau phân tích và chia sẻ.
 
Bác sĩ Sternlieb cho biết tỷ lệ tử vong thấp tại Bệnh viện The Heart Hospital không chỉ nhờ vào việc đánh giá bệnh trạng cẩn thận, mà còn do thiết kế đặc biệt của cơ sở này – một trong số ít các bệnh viện ở Hoa Kỳ chỉ chuyên về phẫu thuật tim.
 
Bệnh viện chỉ có 12 giường, được trang bị để có thể theo dõi bệnh nhân 24/7 và can thiệp kịp thời. Ngay cả khi không đi làm, bác sĩ Sternlieb vẫn theo dõi tình trạng của bệnh nhân qua hệ thống giám sát từ xa đặt tại nhà riêng của mình. Đôi khi, nếu cần thiết, bác sĩ sẽ ngủ lại trong phòng bệnh nhân để đảm bảo an toàn cho họ.
 
Những lưu ý quan trọng
 
Dù đã chứng minh rằng phẫu thuật bypass có thể an toàn đối với bệnh nhân cao niên, Sternlieb cũng nhấn mạnh rằng vẫn có nguy cơ bị biến chứng. Và rằng ở nhiều bệnh viện khác, nguy cơ này có thể rất cao, cao đến mức khó lòng chấp nhận.
 
Bệnh nhân và gia đình nên kiểm tra kỹ lưỡng bệnh viện trước khi quyết định làm phẫu thuật. Thí dụ, trên trang web Healthgrades có đăng một báo cáo hướng dẫn cách chọn bệnh viện dài khoảng tám trang. Tổ chức Joint Commission on Accreditation of Healthcare Organizations (JCAHO, www.jcaho.org) cũng có đánh giá về các bệnh viện trên khắp Hoa Kỳ, giúp mọi người lựa chọn cơ sở phù hợp.
 
Bác sĩ Sternlieb cho rằng quyết định có nên làm bypass cho tim hay không thì phải tùy vào từng trường hợp cụ thể, chứ không chỉ dựa trên tuổi tác. Người cao niên có sức đề kháng yếu hơn và không thể chịu đựng được nhiều biến chứng như người trẻ. Đặc biệt, phụ nữ cao niên có nguy cơ cao hơn do động mạch của họ nhỏ hơn và yếu hơn.
 
Cuối cùng, Sternlieb nhận thấy rằng những bệnh nhân cao niên thường có thể đối mặt với cuộc phẫu thuật một cách bình tĩnh hơn so với những bệnh nhân trẻ. Các cụ không quá lo lắng và sợ hãi về cái chết. Carlsen khuyên các bằng hữu đồng niên đồng tuế rằng nếu phải làm bypass thì cứ làm thôi, và cụ thấy rất hài lòng với quyết định của mình. 

Nguồn: “Too Old for a Bypass?” được đăng trên trang webmd.com.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Marian Cleeves Diamond (1926-2017) là nữ khoa học gia người Mỹ chuyên về não. Bà và nhóm làm việc của bà lần đầu tiên đã công bố bằng chứng cho thấy não có thể thay đổi theo kinh nghiệm và cải thiện theo sự bồi bổ, điều mà ngày nay gọi là khả năng thay đổi của hệ thần kinh để đáp ứng với kích thích bên trong và bên ngoài (neuroplasticity), theo một bài viết đăng trên trang nhà Đại Học UC Berkeley.“Nghiên cứu của bà cho thấy tác động của việc bồi bổ lên sự phát triển của não – một sự hiểu biết đơn giản nhưng có sức mạnh mà đã thay đổi thế giới, từ cách chúng ta nghĩ về chính mình tới cách chúng ta nuôi dạy con cái của chúng ta,” theo giáo sư về sinh học của Đại Học UC Berkeley George Brooks, cũng là một đồng viện của bà Diamond. “Tiến Sĩ Diamond cho thấy về mặt cơ thể học, lần đầu tiên, những gì chúng ta hiện nay gọi là khả năng thay đổi để đáp ứng với kích thích bên trong và bên ngoài của não bộ.
Khi các biến thể mới của Covid đang lan rộng tại Hoa Kỳ, nhiều người sẽ cảm thấy lo lắng cho kế hoạch đi chơi hè của mình. Hướng dẫn mới từ CDC có thể khác một chút so với trước đây. Dưới đây là những điều cần biết nếu quý vị thấy lo lắng, hoặc nghĩ mình có thể bị nhiễm Covid-19 trong mùa hè này.
Khoảng 80 năm trước, ngay sau khi những liều penicillin đầu tiên được sử dụng, vi khuẩn đã bắt đầu tìm cách lẩn tránh, chống lại các loại thuốc kháng sinh (hay trụ sinh, antibiotic). Kể từ đó, cuộc chiến trường kỳ và khốc liệt giữa các loại vi khuẩn nguy hiểm và con người kéo dài đến tận ngày nay. Một nghiên cứu mới chỉ ra rằng, xét về những khía cạnh quan trọng, con người đang yếu thế trong cuộc chiến này.
Trong những tháng gần đây, hai loại thuốc Ozempic và Wegovy đã trở nên rất nổi tiếng vì giúp mọi người giảm cân nhiều và nhanh. Tuy nhiên, khi giảm cân trong một thời gian ngắn, một số người đã nhận thấy những thay đổi bất ngờ trong ngoại hình của mình, đặc biệt là khuôn mặt. Hiện tượng này được gọi là “mặt Ozempic” (Ozempic face).
Một nghiên cứu mới đã tiết lộ về phản ứng miễn dịch của con người khi đối mặt với SARS-CoV-2 và các bệnh truyền nhiễm khác. Hơn bốn năm kể từ khi Covid-19 được tuyên bố là đại dịch với tổng số ca bệnh trên toàn thế giới vượt quá 775 triệu, các nhà khoa học đang làm sáng tỏ những phản ứng miễn dịch cụ thể giúp một số người dường như không bị nhiễm virus.
Các nhà nghiên cứu đã có phát hiện đáng chú ý về một loại protein mang tên UCP1, có khả năng truy ngược lại hơn 100 triệu năm về trước và vẫn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hiện tại. Protein này hoạt động như một máy phát nhiệt, giúp cho các loài động vật có vú có thể sống trong những môi trường có khí hậu lạnh. 120 triệu năm trước, tổ tiên của các loài động vật có vú đã xuất hiện. Nhờ vào công nghệ gen hiện đại, các nhà nghiên cứu từ Đại học Stockholm và Viện Wenner-Gren đã có thể phân tích cấu trúc gen của protein UCP1 từ nhiều loài động vật. Nhờ đó, họ đã có thể tái tạo cách mà protein này được hình thành trong các tế bào sống và khảo sát sự hoạt động của phiên bản cổ đại UCP1 so với phiên bản hiện tại, đặc biệt là ở con người.
Để tìm hiểu thêm về các sinh hoạt sắp tới của Hội Ung Thư Việt Mỹ hoặc ghi danh cho các sinh hoạt, quý vị vui lòng liên lạc 714-751-5805, gửi email đến info@vacf.org, hoặc vào trang mạng www.vacf.org. Địa chỉ của văn phòng là 17150 Newhope Street, Suite 201, Fountain Valley, CA 92708.
Có lẽ không có giai đoạn nào trong cuộc đời trưởng thành của phụ nữ mang lại nhiều thay đổi đáng kể về sức khỏe như ở độ tuổi 50. Ở Hoa Kỳ, độ tuổi mãn kinh trung bình là 51 tuổi. Cả giai đoạn mãn kinh lẫn những năm tiền mãn kinh đều gây ra nững thay đổi ảnh hưởng đến nhiều hệ thống khác nhau trong cơ thể. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ không chuẩn bị sẵn tâm lý cũng như cách đối phó với những thay đổi này.
Nhiều phụ nữ không nhận ra rằng những ly rượu, ly bia mà họ thường uống cùng bạn bè, hoặc để thư giãn trong “giờ nhậu của mẹ” (wine mom moment, một số bà mẹ thích nhâm nhi vài ly rượu hoặc lon bia để thư giãn sau khi bận rộn chăm sóc con cái và gia đình) có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Tuy điều này có vẻ không vui, nhưng lại là sự thật: Rượu, bia thực sự có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.
Một hệ thống miễn dịch khỏe mạnh sẽ giúp bảo vệ cơ thể, chống lại bệnh tật và các tác nhân gây bệnh. Tuy nhiên, đối với 1/10 người và đa số là phụ nữ, hệ thống miễn dịch gặp trục trặc và tấn công các tế bào của cơ thể, gây ra hơn 80 loại bệnh tự miễn dịch, chẳng hạn như lupus, đa xơ cứng (multiple sclerosis) và bệnh phong thấp (rheumatoid arthritis). Một số nghiên cứu gần đây cho thấy phụ nữ thường mắc các bệnh tự miễn dịch nhiều hơn nam giới; nguyên nhân có thể là do có một cơ chế bị lỗi, khiến quá trình tắt nhiễm sắc thể (NST) X trong tế bào diễn ra không đúng cách. Trong các tế bào của phụ nữ, một trong hai NST X được tắt bớt hoạt động. Nếu quá trình này không diễn ra đúng cách, có thể dẫn đến các vấn đề liên quan đến hệ thống miễn dịch và góp phần vào sự phát triển của các bệnh tự miễn dịch.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.