Hôm nay,  

Giới Thiệu: Lý Tưởng Của Một Quốc Gia Theo Thánh Đức Thái Tử

27/04/202414:46:00(Xem: 1370)
Pho Hoa
LÝ TƯỞNG CỦA MỘT QUỐC GIA 
THEO THÁNH ĐỨC THÁI TỬ
Hajime Nakamura
Tuệ Sỹ dịch
Tủ sách Phổ Hòa
trình bày và ấn hành tại Hoa Kỳ, 2024

Lời nhà xuất bản

Lịch sử Phật Giáo thế giới hơn hai mươi lăm thế kỷ qua không thiếu những câu chuyện có sức thu hút đặc biệt về những đấng minh quân đem Chánh Pháp của đức Phật ra để trị quốc. Chẳng hạn, Vua A-dục (Aśoka – 304-232 BC) ở Ấn Độ, Vua Lương Võ Đế (464-549) ở Trung Hoa, Vua Songtsän Gampo (thế kỷ thứ 7 Tây lịch) ở Tây Tạng, Thánh Đức Thái Tử (574-622) ở Nhật Bản, Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) ở Việt Nam, v.v… Trong đó Thánh Đức Thái Tử là trường hợp rất đặc biệt, như Giáo Sư người Nhật Hajime Nakamura đã giới thiệu như sau trong bài thuyết trình có tiêu đề “Lý Tưởng Của Một Quốc Gia Theo Thánh Đức Thái Tử,” tại Đại Học Vạn Hạnh vào ngày 12 tháng 5 năm 1973, qua bản dịch Việt ngữ của Thầy Tuệ Sỹ:

“Tuy nhiên, phải đợi đến triều Suy Cổ Thiên Hoàng (Kuikoi 592–628), Phật Giáo mới được thành danh tại Nhật Bản. Khuôn mặt ngoại hạng suốt trong thời kỳ này là Thánh Đức Thái Tử, một khuôn mặt nhân đức nhất và tuyệt hảo nhất trong số tất cả những nhà cai trị của Nhật Bản và đích thực là người khai sáng Phật Giáo tại Nhật bản.” (tr. 22)

Một trong những điểm nổi bật mà Thánh Đức Thái Tử đóng góp cho Nhật Bản là việc ông đã dựa vào tinh thần Phật Giáo để soạn ra Thập Thất Chương Ước Pháp (17 Chương Ước Pháp), là Hiến Pháp đầu tiên của nước Nhật, theo Giáo Sư Hajime Nakamura.

“Năm 604 Thánh Đức Thái Tử ban hành văn kiện thường được gọi là “Mười Bảy Chương Ước Pháp.” Đây là pháp chế đầu tiên của Nhật Bản, nó đặc trưng cho dòng phát triển tân kỳ và sáng tạo của tư tưởng Nhật Bản vào thời đó, căn cứ cốt yếu trên tinh thần Phật Giáo và thâu thái các quan niệm của Trung Hoa và Ấn Độ. Có thể nói, đó là Đại Hiến Chương (Magnar Charta) của quốc gia.” (tr. 23)

Điều thật hấp dẫn đối với chúng ta ngày nay là sự kiện một ngàn bốn trăm năm trước, Thánh Đức Thái Tử đã dựa vào tinh thần của Phật Giáo để “bác bỏ chính sách chuyên chế hay sự cai trị độc tài độc đoán, bất chấp tính chất thiết yếu phải thảo luận với kẻ khác,” theo GS. Hajime Nakamura. Và ông cho rằng đó “có thể coi như là phôi thai cho tư tưởng dân chủ của Nhật Bản.” GS. Nakamura đã giải thích thêm về chứng lý để từ đó Thánh Đức Thái Tử có quan điểm và lập trường dân chủ như sau:

“Do đó, hình như nó cho phép chúng ta nhận rằng Thánh Đức đã thừa hưởng và khai triển quan niệm đó từ Thần đạo (Shintô) nguyên thủy. Mặt khác, cũng có thể rằng các qui luật của Tăng đồ Phật giáo đã ảnh hưởng đến tư tưởng của Hoàng Thái tử. Những qui luật này được kể rõ chi tiết trong các kinh điển quen thuộc đối với Thánh Đức, và chúng bao gồm qui luật về quyết định đa số.” (tr. 46)



Điều mà GS. Nakamura gọi là “quy luật về quyết định đa số,” chính là việc tác pháp Yết-ma (Karma), tức là quy tắc tác bạch và lấy quyết định của tập thể Tăng-già hiện tiền để thực hiện các Phật sự của Tăng hoặc Ni chúng. Quy tắc đó là gì? Thứ nhất, tất cả Tăng hiện tiền đều được nghe một vị Tăng trình bạch về vấn đề gì đó để xin quyết định của tập thể Tăng. Số lượng Tăng hiện tiền tối thiểu từ 4 vị trở lên và tùy theo Phật sự mà đòi hỏi 10 vị, 20 vị Tăng hiện tiền. Tiếp theo, sau khi trình bạch thì vị Tăng xin quyết định chung. Tùy theo mức độ quan trọng thế nào đối với Phật sự mà tác bạch được thực hiện một lần, hai lần hoặc ba lần. Khi lấy quyết định thì bắt buộc phải có sự đồng ý của tất cả mọi vị Tăng hiện tiền, nghĩa là đồng thuận tuyệt đối, vì nếu có một vị Tăng không đồng ý thì yết-ma không thành, và do đó phải giải quyết bất đồng để đi đến đồng thuận. Quy tắc tác pháp yết-ma này hiện vẫn còn được sử dụng trong các cộng đồng Tăng hoặc Ni trên thế giới. Đây là cơ chế thực hiện tinh thần dân chủ lâu đời nhất trên thế giới, kể từ thời đức Phật còn tại thế đến nay.

Điểm đặc biệt khác nơi Thánh Đức Thái Tử chính là ông dù là một Phật tử tại gia và bận bịu việc triều chính, cũng đã viết chú giải ba cuốn Kinh: Kinh Thắng Man, Kinh Duy-ma-cật, và Kinh Pháp Hoa, theo GS. Nakamura trong bài thuyết trình nói trên. Nhờ đọc và thâm nhập nội dung Kinh Phật mà Thánh Đức Thái Tử đã hiểu được nội dung thâm diệu của Phật Pháp để đem ra ứng dụng vào việc cai trị quốc gia.

Đó chỉ là giới thiệu tổng quát vài điểm gợi ý trong nội dung của bài thuyết trình của GS. Nakamura. Bài thuyết trình được Thầy Tuệ Sỹ dịch dày hơn 80 trang trong tập sách này còn rất nhiều điểm đáng quan tâm và tìm hiểu về việc làm sao một nhà lãnh đạo có thể trị quốc bằng Chánh Pháp của đức Phật.

Nhận thấy giá trị vượt thời gian của bài thuyết trình, nên dù đã được phổ biến hơn nửa thế kỷ, chúng tôi vẫn không ngần ngại cho đánh máy và in lại để phổ biến đến mọi người có quan tâm và hứng thú tìm hiểu về vấn đề này.

Cầu mong có thêm những nhà lãnh đạo như Thánh Đức Thái Tử, như Vua Trần Nhân Tông để làm cho quốc gia trong sạch, dân chủ, hòa bình và thịnh vượng.

Tủ Sách Phổ Hòa trân trọng giới thiệu.


Nếu quý vị muốn thỉnh sách này hay của NXB Lotus Media / Tủ Sách Phổ Hoà, xin liên lạc với Cư sĩ Tâm Thường Định.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuốn sách này, như chính tựa đề, Đường về thủy phủ, đã báo hiệu điều gì đó huyễn hoặc. Vì vậy, bạn đọc nếu chờ đợi một câu chuyện tiểu thuyết thông thường có đầu đuôi, có lô-gic, có sự tình chặt chẽ hợp lý, xin gấp sách lại, hãy tìm đọc một cuốn khác. Là một tác phẩm siêu hư cấu không có chủ ý đáp ứng những quy củ tiểu thuyết thông thường, Đường Về Thủy Phủ của Trịnh Y Thư là một tập hợp của ba câu chuyện, ba toa riêng lẻ của một chuyến tàu, vận hành trên cùng một đường rầy thiên lý, theo chiều dài của một giai đoạn lịch sử chiến tranh tanh nồng, nơi hành khách là những nhân vật bị ném lên tàu, vất vưởng chuyển động trên một trục cố định, dốc toàn bộ sức lực và trí tưởng tượng gắng tìm cho mình một lối thoát, hay theo tác giả, tìm một lối về.
Thật sự, ở một mức độ nào đó, người đi vào quyển sách đều có thể nhận ra ít nhiều, ở chỗ này hay chỗ khác, qua những góc quay khác nhau, với những mức độ đậm nhạt khác nhau, tất cả các dự cảm vừa được trình bày ở trên. Nhưng nếu nghĩ đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, hay một tiểu thuyết chiến tranh, chúng ta sẽ ngộ nhận tác giả. Tiểu thuyết này, với tính chất và cái nhìn đặc thù của tác giả, không hề có mục đích ấy. Lịch sử có ở đó, cùng với khuôn mặt kinh hoàng, gian trá, điên đảo, và tàn bạo của chiến tranh. Nhưng đây là một cuốn tiểu thuyết chỉ lấy lịch sử làm một cái nền với những gam màu rất mờ nhạt, và, dĩ nhiên, nổi bật lên vẫn là một màu đỏ nhờ nhờ, điên quái, bất tín và bất-khả-tín, khi thì chỉ ươn ướt, chỗ lại đặc quánh những vết thương làm mủ của lịch sử..
Tập sách nhắc đến tiệm phở gần đầu đường Nghĩa Phát, vừa từ đường Bành Văn Trân rẽ vào, là tiệm của bác Huyền, người cùng giáo họ Long Cù, xứ Trực Chính với thày u tôi, là những gia đình công giáo theo các cha di cư vào Nam. Đó là tiệm phở đầu tiên nằm trong giáo xứ Nghĩa Hoà. Được sinh ra và lớn lên trong giáo xứ này, tôi muốn chia sẻ thêm về những quán phở ở Nghĩa Hoà. Sau phở bác Huyền, vào đầu thập niên 1970 có một tiệm phở nữa cũng trên đường Nghĩa Phát gần đầu nhà thờ. Còn theo đường Nghĩa Hoà phía cuối nhà thờ, đi vào đến ngã tư ông Nghìn có tiệm phở của ông giáo Chung.
Đây là tác phẩm thứ 5 trong chuỗi sách góp phần tư duy và thảo luận cho tiến trình dân chủ hóa, được viết và giới thiệu bởi tác giả Đào Tăng Dực. Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm mới nhất của tôi nêu trên. Đây là tác phẩm thứ 5 trong chuỗi sách góp phần tư duy và thảo luận cho tiến trình dân chủ hóa.
Đây là một tuyển tập đặc biệt của Tạp chí Ngôn Ngữ, chủ đề về Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành tháng 5 năm 2024. Nhan đề sách còn là “Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc: Bằng Hữu & Văn Chương.” Sách dày 716 trang, bao gồm tiểu sử, thơ và văn xuôi của vị bác sĩ nổi tiếng, khi làm thơ ký tên là Đỗ Nghê và khi viết văn xuôi ký tên thật là Đỗ Hồng Ngọc. Và phần cuối là tác phẩm của hơn 60 nhà văn, nhà phê bình, họa sĩ và nhạc sĩ viết về, vẽ chân dung, phổ thơ Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc. Tất cả các thơ, văn, bài viết trong tuyển tập đều xuất sắc.
Quý vị có bao giờ tự hỏi cảm giác thật sự khi thốt ra từ “thù ghét” là gì? Như khi nói “tui ghét người đó” hay “tui ghét ăn rau,” chúng ta có thể đang thể hiện sự không hài lòng, căm phẫn, tức giận hoặc có thể là đơn giản chỉ là không thích mà thôi. Từ điển Merriam-Webster mô tả từ “thù ghét” là “sự thù địch và ác cảm mãnh liệt thường xuất phát từ cảm giác sợ hãi, tức giận hoặc cảm giác bị tổn thương.” Trên khắp thế giới, các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu về sự thù ghét từ các lĩnh vực như giáo dục, lịch sử, pháp luật, lãnh đạo, tâm lý học, xã hội học và nhiều ngành khác.
Tôi thích đọc “thơ ngắn” của Đỗ Nghê. Những bài thơ “ý tại ngôn ngoại,” đọc đi đọc lại, mỗi lần đọc đều nhận ra thêm một cái gì mới, khác, mở ra những chiều kích bát ngát hương thơm...
Tôi vừa được nhà văn Duy Nhân tức Nguyễn Đức Đạo trao tặng tập truyện “Trọn Đời Yêu Thương”. Sách dày 336 trang với trang bìa được trình bày thật đơn giản nhưng nội dung rất súc tích. Tập truyện gồm có 29 bài văn xuôi và 7 bài thơ...