Hôm nay,  

Tại Sao Ngày Càng Có Nhiều Người Lớn Được Chẩn Đoán Mắc Chứng ADHD?

26/01/202400:00:00(Xem: 1040)

suc khoe

Công nghệ hiện đại đã giúp cho việc đa nhiệm (làm nhiều việc cùng lúc) trở nên dễ dàng hơn, nhưng liệu nó cũng có thể góp phần làm tăng tỷ lệ mắc chứng ADHD ở người lớn? (Nguồn: pixabay.com)

 
Ngày nay, có nhiều người lớn hơn bao giờ hết đang phải đối mặt với chứng rối loạn khả năng tập trung- thiếu khả năng chú ý, hay ADHD. Người ta nghi ngờ nguyên nhân chính của vấn đề này là do công nghệ hiện đại đang gây áp lực lên não bộ của họ.
 
Trong khi có gần 10% trẻ em được chẩn đoán mắc chứng ADHD, một phân tích tổng hợp gần đây từ nhiều nghiên cứu cho thấy gần 6.8% người lớn mắc chứng ADHD – tăng từ 4.4% vào năm 2003.
 
Russell Ramsay, đồng sáng lập chương trình Penn Adult ADHD Treatment and Research của Perelman School of Medicine thuộc University of Pennsylvania, cho biết: “Có khoảng 366 triệu người trưởng thành trên toàn thế giới hiện đang sống chung với ADHD, tương đương với dân số Hoa Kỳ”.
 
ADHD là một chứng rối loạn phát triển thần kinh mãn tính, với đặc trưng là người bị bệnh khó tập trung, năng động thái quá/thiếu kiểm soát bản năng hoặc cả hai. Lidia Zylowska, bác sĩ tâm thần tại University of Minnesota Medical School và là tác giả của cuốn sách ‘The Mindfulness Prescription for Adult ADHD’ cho biết, đây được coi là một chứng bịnh liên quan đến phát triển thần kinh vì “gen và giai đoạn phát triển ban đầu có thể khiến người ta phải đối mặt với căn bịnh từ nhỏ.”
 
Có một số giả thuyết giải thích cho tình hình ngày càng nhiều người trưởng thành mắc chứng ADHD, bao gồm cả kiến thức về bịnh đã trở nên tốt hơn và do chẩn đoán bị sót. Nhưng có một yếu tố môi trường chưa được nghiên cứu nhiều là: ADHD có liên quan đến công nghệ kỹ thuật hiện đại.
 
Jill RachBeisel, bác sĩ và trưởng khoa tâm thần học tại University of Maryland Medical Center, cho biết ở cả trẻ em và người lớn, các triệu chứng của ADHD có thể từ “rất nhẹ đến rất nghiêm trọng.”
 
Nguyên nhân gây ra ADHD vẫn chưa được hiểu rõ, nhưng nghiên cứu mới nhất cho thấy vai trò quan trọng của yếu tố di truyền. “Có những yếu tố môi trường cũng có thể dẫn đến ADHD,” RachBeisel lưu ý.
 
Vai trò của công nghệ hiện đại
 
Giữa những yếu tố môi trường ít được nghiên cứu của ADHD ở người lớn là việc sử dụng công nghệ kỹ thuật quá mức. Một số nghiên cứu đã được công bố về chủ đề này, nhưng nghiên cứu vẫn đang diễn ra.
 
Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí y khoa Journal of the American Medical Association cho thấy việc thường xuyên sử dụng các phương tiện kỹ thuật số như mạng xã hội, game, tin nhắn và xem phim, nghe nhạc hoặc coi TV đang làm tăng nguy cơ phát triển các triệu chứng ADHD lên gần 10%. Các nghiên cứu khác đã đo lường sự liên quan giữa công nghệ và ADHD, bao gồm một nghiên cứu khám phá cách sử dụng các loại kỹ thuật hiện đại khác nhau giữa nam và nữ và nghiên cứu đo lường hậu quả về sức khỏe tâm thần do sử dụng công nghệ thường xuyên. Một nghiên cứu trên diện rộng cho thấy rằng để ngăn chặn những thiếu sót về sự tập trung liên quan đến việc sử dụng công nghệ kỹ thuật, nên hạn chế việc sử dụng điện thoại thông minh trong vòng 60 phút mỗi ngày.
 
Mối liên quan giữa việc sử dụng công nghệ kỹ thuật và các vấn đề về khả năng tập trung cũng có thể là do những người thường xuyên sử dụng công nghệ ít để bộ não của họ nghỉ ngơi ở chế độ mặc định.
 
Elias Aboujaoude từ Stanford University School of Medicine giải thích rằng “trong một thời gian dài, mối liên quan giữa ADHD và việc sử dụng công nghệ kỹ thuật nhiều là một câu hỏi hóc búa trong lĩnh vực của chúng tôi: Liệu người ta sử dụng công nghệ kỹ thuật nhiều vì họ bị ADHD và thấy cuộc sống ảo phù hợp với họ, hay họ bị ADHD do sử dụng công nghệ kỹ thuật quá mức?” Ông nói, những kinh nghiệm và nghiên cứu lâm sàng “ngày càng cho thấy giải thích sau phù hợp hơn.”
 
Một chứng rối loạn thường bị bỏ qua
 
Bất kể nguyên nhân gây ra ADHD ở mỗi người là gì, đây là một chứng rối loạn thường bị bỏ qua ở trẻ em và có thể mãi đến khi trưởng thành mới được chẩn đoán. Hiện tại, để được chẩn đoán là bị ADHD, các triệu chứng cụ thể phải được xác định trước 12 tuổi, theo ấn bản mới nhất của Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM). Tuổi xác định đã được thay đổi từ 7 thành 12 giữa phiên bản thứ 4 và thứ 5 của DSM.
 
Nhưng điều đó không có nghĩa là phải được chẩn đoán trước 12 tuổi; mà chỉ cần có các triệu chứng đó ở trước độ tuổi đó, ngay cả khi các triệu chứng được xác định từ nhiều năm trước hoặc nhiều thập niên sau bằng cách xem lại các nhật ký cũ hoặc ghi chú của giáo viên, hỏi thăm các thành viên trong gia đình, hoặc bản thân bệnh nhân nhớ lại ký ức tuổi thơ của mình.
 
Margaret Sibley, giáo sư tâm thần học và khoa học hành vi tại University of Washington School of Medicine, cho biết: “Đôi khi người ta trưởng thành rồi mới được chẩn đoán là bị ADHD, vì các triệu chứng bị bỏ sót khi họ còn trẻ hoặc bị che giấu bởi các yếu tố khác.”
 
Những yếu tố như vậy bao gồm việc cha mẹ hoặc giáo viên không nhận ra các triệu chứng, hoặc trẻ tìm cách giải quyết, hoặc đơn giản là chưa có nhiều khó khăn để khiến người ta lo lắng.
 
Trẻ con thì thường quậy phá và do đó bị bỏ qua. Và khi đứa trẻ lớn lên, rời khỏi nhà và bắt đầu gặp khó khăn hoặc “nhận thấy rằng họ phải làm việc chăm chỉ hơn gấp hai đến ba lần để đạt được mức độ thành công tương tự như bạn bẻ đồng trang lứa.”
 
Triệu chứng ADHD ở người lớn
 
ADHD ở người lớn có khuynh hướng khác so với ở trẻ em. Craig Surman, bác sĩ và bác sĩ tâm thần, người điều hành chương trình nghiên cứu ADHD dành cho người lớn tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts, nói rằng mặc dù tính cách bốc đồng và hiếu động thái quá của chứng rối loạn này thường giảm đi khi trưởng thành nhưng “những đặc điểm thiếu tập trung vẫn còn.”
 
Người lớn cũng thường kiểm soát sự hồi hộp tốt hơn và thường có kỷ luật hơn để hoàn thành công việc. Do đó, chứng rối loạn này thường biểu hiện khác nhau ở các nhóm tuổi khác nhau.
 
Các yếu tố khác ảnh hưởng đến ADHD ở người lớn
 
Có thể không đơn giản chỉ là việc các triệu chứng bị bỏ sót trong thời thơ ấu vì một số yếu tố, ngoài việc sử dụng công nghệ, một số việc khác cũng có thể góp phần hoặc gây ra các triệu chứng ADHD ở người lớn.
 
Những thay đổi nội tiết tố liên quan đến kinh nguyệt hoặc mãn kinh là một thí dụ khác và thường gây ra các triệu chứng ADHD ở phụ nữ. Phụ nữ trưởng thành là một trong những nhóm đối tượng bị sót nhiều nhất khi chẩn đoán ADHD và thường được cho dùng thuốc trị trầm cảm và lo âu trong khi thực tế, họ đang gặp các triệu chứng liên quan đến ADHD.”
 
Khuynh hướng các triệu chứng ADHD chồng chéo với các tình trạng sức khỏe tâm thần khác xảy ra không chỉ ở phụ nữ.
 
Ở người trưởng thành, ADHD hiếm khi đi một mình. Giống như cơn sốt có thể có nhiều cách giải thích khác nhau, vấn đề về khả năng tập trung có thể do những nguyên nhân khác nhau. Những hành vi và yếu tố như căng thẳng, hiệu ứng phụ của thuốc và ngủ không đủ giấc cũng có thể khiến chúng ta khó tập trung. Tương tự như vậy, các triệu chứng sức khỏe tâm thần hoặc thể chất khác bao gồm lo lắng, trầm cảm, tắc nghẽn hô hấp khi ngủ, thay đổi nhận thức liên quan đến tuổi tác và các vấn đề về tuyến giáp có thể giống với ADHD.
 
Phải làm gì?
 
Có nhiều cách để được giúp đỡ khi được chẩn đoán mắc ADHD. ADHD không được điều trị có thể gây ra nhiều vấn đề khác. Cần phải đánh giá thật cẩn thận. Các phương pháp điều trị thường bao gồm thuốc hoặc các phương pháp điều trị như liệu pháp hành vi nhận thức. Quý vị hãy nói chuyện với chuyên gia chẩn đoán và điều trị ADHD để xác định xem trường hợp của mình thì nên dùng thuốc hoặc các liệu pháp khác.
 
Về tác động của công nghệ kỹ thuật đối với ADHD, người trưởng thành mắc chứng ADHD cần phải thực hiện các bước tích cực sử dụng công nghệ một cách lành mạnh, chẳng hạn như giảm thời gian sử dụng điện thoại thông minh
 
Nói chung, khi được chẩn đoán và điều trị đúng cách, người mắc ADHD vẫn có thể thích ứng và thành công trong cuộc sống. (VB)
 
Nguồn: “Why are so many adults just now being diagnosed with ADHD?” được đăng trên trang nationalgeographic.com.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong cuốn tiểu thuyết Chuyện Hai Thành Phố (A Tale of Two Cities) của Charles Dickens, được xuất bản năm 1859 và lấy bối cảnh thời Cách Mạng Pháp, có đoạn viết: “Đó là thời đại tốt đẹp nhất, cũng là thời đại tồi tệ nhất, đó là thời đại của sự khôn ngoan, cũng là thời đại của sự ngu xuẩn.” Đại dịch COVID-19 cũng là một thời đại như thế. Một mặt, khoa học đã cứu sống được nhiều người. Chưa đầy một năm sau khi phát hiện virus, Hoa Kỳ đã tạo ra và thử nghiệm vắc xin, rồi cho sản xuất, phân phối và triển khai tiêm chủng hàng loạt miễn phí cho người dân. Ước tính vắc xin COVID đã cứu được ít nhất 3.2 triệu người chỉ riêng ở Hoa Kỳ. Những thành tựu này tạo ra hy vọng về việc chúng ta có thể nhanh chóng ứng phó với đại dịch trong tương lai.
Hơn một thập niên trước, Shria Kumar, bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và là chuyên gia nghiên cứu tại Đại học Miami, bắt đầu chú ý đến một dấu hiệu đáng lo ngại. Có một số bệnh nhân ung thư dạ dày đến gặp bà ở độ tuổi rất trẻ, và rất nhiều người là phụ nữ. Khuynh hướng này vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay. Các khoa học gia đang nỗ lực tìm hiểu tại sao điều này lại xảy ra. Vào mùa xuân năm ngoái, họ đã xác nhận rằng hiện tượng này đang diễn ra ở Hoa Kỳ. Sau khi kiểm tra hệ thống các cơ sở dữ liệu chứa các thông tin chi tiết về các trường hợp ung thư ở nhiều tiểu bang trên toàn quốc, các nhà nghiên cứu nhận thấy ung thư dạ dày đang gia tăng nhanh hơn ở phụ nữ trẻ.
Wegovy, Ozempic và Mounjaro là các loại thuốc giảm cân và điều trị tiểu đường đã gây được tiếng vang lớn trong lĩnh vực tin tức y tế. Chúng nhắm vào các con đường điều tiết liên quan đến cả bệnh béo phì và tiểu đường, và được nhiều người coi là bước đột phá trong việc kiểm soát cân nặng, đường và huyết áp. Nhưng liệu những loại thuốc này có giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của hội chứng chuyển hóa (metabolic disease) không? Điều gì đã thúc đẩy sự phát triển của chúng từ ban đầu?
Gần đây quý vị vừa bị cảm lạnh, cúm, RSV hoặc COVID, bệnh đã qua nhưng mãi vẫn không thể hết ho? Rất nhiều người bị giống như vậy. Triệu chứng này có thể tồn tại trong nhiều tuần sau khi cơ thể chúng ta đã loại bỏ vi-rút. Michael Shiloh, một bác sĩ chuyên nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y tế UT Southwestern cho biết những bệnh nhân bị ho thường kể là họ đã bị bịnh từ 8 tuần trước khi đến gặp ông. Ông nói: “Chúng tôi thực sự không thể phát hiện thấy vi rút gì ở những người này nữa nhưng họ vẫn bị ho.”
Bằng cách bắt chước cơ chế bảo vệ của cơ thể chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn, một nhóm nghiên cứu ở Lund, Thụy điển hy vọng có thể ngăn chặn tình trạng viêm phát triển thành nhiễm trùng máu, theo đài truyền hình SVT, Thụy điển. Nhiễm trùng máu là tình trạng nhiễm trùng có thể đe dọa tính mạng. Thông thường nguyên nhân là do viêm phổi, nhiễm trùng đường tiểu hoặc nhiễm trùng vết thương. Nghiên cứu từ Lund cho thấy hiện nhiễm trùng huyết phổ biến hơn so với trước đây.
Bộ não của chúng ta thường có khuynh hướng tìm kiếm và phản ứng với những điều mang lại sự hài lòng, gọi là phần thưởng. Khi chúng ta đói, bộ não hiểu rằng thức ăn là một phần thưởng, còn khi ta khát, nước sẽ là phần thưởng. Nhưng lạm dụng các chất gây nghiện như rượu và các loại thuốc có thể ảnh hưởng đến các con đường tìm kiếm phần thưởng tự nhiên trong bộ não, tạo ra những ham muốn khó kiểm soát và làm giảm khả năng kiểm soát hành vi của chúng ta.
Aissam Dam, cậu bé 11 tuổi, lớn lên trong một thế giới im lặng tuyệt đối. Em sinh ra đời đã bị điếc và chưa bao giờ nghe thấy bất kỳ tiếng động nào. Khi sống trong một cộng đồng nghèo ở Maroc, em đã học cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ký hiệu do chính mình phát minh ra và không được đi học. Năm ngoái, sau khi chuyển đến Tây Ban Nha, gia đình đưa em đến gặp một chuyên gia về thính giác, người đã đưa ra một gợi ý đáng ngạc nhiên: Aissam có thể đủ điều kiện tham gia thử nghiệm lâm sàng sử dụng liệu pháp gen. Vào ngày 4 tháng 10, Aissam được đưa đến điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia, trở thành người đầu tiên được điều trị bằng liệu pháp gen ở Hoa Kỳ cho bệnh điếc bẩm sinh. Mục đích là cung cấp cho em thính giác, nhưng các nhà nghiên cứu không biết liệu phương pháp điều trị này có hiệu quả hay không, và nếu có thì em sẽ nghe được bao nhiêu.
Sau mùa lễ cuối năm là lúc các bậc phụ huynh lo lắng về con đường đại học của con cháu mình. Những con số điểm, những chữ viết tắt như GPA, SAT và ACT sẽ làm phụ huynh nhức đầu và chúng ta sẽ bàn lại về vai trò các điểm này và nhất là tương quan giữa SAT và IQ trong khung cảnh của các thay đổi gần đây ở Mỹ. Năm ngoái, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ quyết định cấm dùng màu da, nguồn gốc sắc tộc để quyết định tuyển chọn một ứng viên, từ chối không cho Đại học Harvard thực hành “tác dụng khẳng định” (affirmative action) để tăng sỉ số da màu không được đại diện đúng mức so với tỷ lệ trong dân số nói chung. Một trong những biện pháp được dùng để giảm bớt sỉ số dân Á Châu là gạt bỏ kết quả kỳ thi SAT hoặc giảm bớt tầm quan trọng của SAT, vì người gốc Á Châu có điểm SAT cao hơn nhiều so với các sắc dân khác.
Hội chứng người cứng đơ (Stiff Person Syndrome – SPS) là một căn bịnh có thể gây co thắt dữ dội và làm suy nhược các cơ, nhưng hầu hết mọi người đều không biết gì về nó mãi cho đến cuối năm ngoái, khi nữ danh ca Celine Dion công bố tình trạng bịnh của mình. Chứng rối loạn thần kinh và tự miễn dịch hiếm gặp này được cho là chỉ ảnh hưởng đến 1 hoặc 2 người trong một triệu người – và hai phần ba trong số những người bị là phụ nữ.
Tạp chí Consumer Reports vừa công bố phát hiện rằng nhựa vẫn hiện diện “rộng rãi” trong thực phẩm bất chấp các nguy hại về sức khỏe, và kêu gọi các cơ quan chức trách đánh giá lại mức độ an toàn của nhựa khi tiếp xúc với thực phẩm trong quá trình sản xuất. Tổ chức vô vụ lợi này cho biết rằng 84 trong số 85 mẫu thực phẩm ở siêu thị và thức ăn nhanh mà họ vừa kiểm tra gần đây có chứa “chất hóa dẻo” (plasticizers) được gọi là phthalates, một loại hóa chất được sử dụng để làm cho nhựa bền hơn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.