Hôm nay,  

Rượu Bia Và Các Loại Thuốc Có Thể Thay Đổi Cấu Trúc Bộ Não Chúng Ta Như Thế Nào?

26/01/202400:00:00(Xem: 753)

ruou bia

Rượu bia và các loại thuốc có thể ảnh hưởng đến bộ não nhiều hơn những gì chúng ta vẫn nghĩ. (Nguồn: pixabay.com)

 
Bộ não của chúng ta thường có khuynh hướng tìm kiếm và phản ứng với những điều mang lại sự hài lòng, gọi là phần thưởng. Khi chúng ta đói, bộ não hiểu rằng thức ăn là một phần thưởng, còn khi ta khát, nước sẽ là phần thưởng. Nhưng lạm dụng các chất gây nghiện như rượu và các loại thuốc có thể ảnh hưởng đến các con đường tìm kiếm phần thưởng tự nhiên trong bộ não, tạo ra những ham muốn khó kiểm soát và làm giảm khả năng kiểm soát hành vi của chúng ta.
 
Nói cách khác, khi chúng ta sử dụng các chất gây nghiện như rượu hoặc các loại thuốc, cảm giác về phần thưởng được “tăng cường” quá mức, và đối với những người sử dụng thường xuyên, điều này có thể dẫn đến những cảm giác ham muốn rất khó kiểm soát và làm suy giảm khả năng kiểm soát hành vi của họ, gây ra tình trạng nghiện.
 
Một quan niệm sai lầm phổ biến cho rằng một người bị nghiện là do ý chí họ yếu kém. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của thông tin và công nghệ trong lĩnh vực di truyền phân tử trong thập niên qua đã làm thay đổi đáng kể những hiểu biết cơ bản của chúng ta về chứng nghiện.
 
Trước đây, nhiều người tin rằng người nghiện thiếu ý chí mạnh mẽ để kiểm soát hành vi của mình. Nhưng với sự tiến bộ trong lĩnh vực di truyền phân tử, hiện nay chúng ta hiểu rằng nghiện có một cơ sở mạnh mẽ về mặt di truyền và thần kinh. Có nghĩa là, có những biến đổi di truyền và tác động lên hệ thống thần kinh trong não làm tăng nguy cơ ai đó dễ bị nghiện. Và những hiểu biết mới về cách hình thành chứng nghiện có thể giúp thay đổi cách điều trị.
 
Rượu và thuốc ảnh hưởng đến hoạt động của gen trong não
 
Mỗi tế bào não của chúng ta đều chứa mã gen di truyền được lưu trữ trong các chuỗi DNA dài. Để nén tất cả số DNA đó vào một tế bào, nó cần phải được cuốn xung quanh các “cuộn” protein gọi là histones. Những chỗ mà DNA được tháo ra chứa các gen hoạt động mã hóa cho các protein phục vụ các chức năng quan trọng trong tế bào.
 
Khi hoạt động của gen thay đổi, các protein mà tế bào sản xuất cũng thay đổi theo. Những thay đổi như vậy có thể xảy ra từ một kết nối thần kinh duy nhất trong bộ não cho đến cách chúng ta cư xử. Điều này cho thấy rằng mặc dù gen ảnh hưởng đến cách bộ não phát triển, nhưng gen nào được bật / tắt khi chúng ta học những điều mới sẽ luôn linh động và thích nghi để phù hợp với nhu cầu hàng ngày của từng người.
 
Dữ liệu nghiên cứu mới từ các mô hình động vật cho thấy việc lạm dụng rượu và các loại thuốc có ảnh hưởng trực tiếp đến sự biểu hiện gen ở các vùng não giúp thúc đẩy các phản ứng trí nhớ và phần thưởng.
 
Có nhiều cách mà các chất gây nghiện có thể thay đổi sự biểu hiện gen. Chúng có thể thay đổi những protein nào kết nối với DNA để bật và tắt gen, và những đoạn DNA nào được tháo ra. Chúng có thể thay đổi quá trình DNA được đọc và dịch thành protein, cũng như thay đổi những protein quyết định cách tế bào sử dụng năng lượng để hoạt động.
 
Thí dụ, rượu có thể gây ra một biến thể gen được biểu hiện trong mạch trí nhớ ở ruồi và người, dẫn đến những thay đổi trong các thụ thể dopamine (dopamine là chất dẫn truyền thần kinh được tạo ra trong não. Nó đóng vai trò như một “trung tâm khen thưởng” và tham gia vào nhiều chức năng của cơ thể, bao gồm trí nhớ, vận động, động lực, tâm trạng, sự chú ý, v.v.) và các yếu tố phiên mã (transcription factors) liên quan đến các tín hiệu phần thưởng và chức năng tế bào não. Tương tự, chất á phiện cocaine có thể gây ra một biến thể gen được biểu hiện ở trung tâm các tín hiệu phần thưởng của chuột, khiến chúng ham muốn có thêm nhiều cocaine hơn.
 
Cách những loại thuốc này gây ra những thay đổi trong việc điều chỉnh gen vẫn chưa được tìm hiểu ngọn ngành. Tuy nhiên, mối liên quan trực tiếp giữa việc sử dụng rượu và những thay đổi trong biểu hiện gen ở chuột mang lại một số manh mối. Một phụ phẩm của rượu khi bị phân giải trong gan gọi là axetat có thể vượt qua hàng rào máu não và ‘tháo’ DNA khỏi các histones trong mạch trí nhớ của chuột.
 
Rượu, nicotine, cocaineopioid cũng kích hoạt các con đường truyền tín hiệu quan trọng, là những chất điều chỉnh quan trọng của quá trình chuyển hóa. Điều này cho thấy chúng cũng có thể ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của chức năng thần kinh và do đó ảnh hưởng đến gen nào được biểu hiện.
 
Lối sống thay đổi hoạt động của gen não
 
Cách mà các chất gây nghiện thay đổi chức năng tế bào là rất phức tạp. Phiên bản gen mà chúng ta có khi mới sinh ra có thể được sửa đổi theo nhiều cách trước khi nó trở thành protein chức năng, bao gồm cả việc tiếp xúc với rượu và thuốc. Sự phức tạp này là bằng chứng cho thấy những thay đổi biểu hiện gen trong não của chúng ta không phải là vĩnh viễn. Chúng cũng có thể được thay đổi bởi các loại thuốc và lối sống.
 
Nhiều loại thuốc thường được kê toa để điều trị rối loạn sức khỏe tâm thần cũng ảnh hưởng đến biểu hiện gen. Thuốc chống trầm cảm và thuốc ổn định tâm trạng có thể thay đổi cách sửa đổi DNA và gen nào được biểu hiện. Thí dụ, một loại thuốc điều trị trầm cảm phổ biến có tên là escitalopram ảnh hưởng đến mức độ cuốn của DNA và có thể thay đổi biểu hiện của các gen quan trọng đối với độ linh hoạt của bộ não.
 
Ngoài ra, các phương pháp điều trị dựa trên mRNA có thể thay đổi các gen cụ thể được biểu hiện để điều trị các bệnh như ung thư. Trong tương lai, chúng ta có thể khám phá ra những liệu pháp tương tự để điều trị chứng nghiện rượu và chất gây nghiện. Những phương pháp điều trị này có thể nhắm vào các con đường truyền tín hiệu quan trọng liên quan đến chứng nghiện, thay đổi cách hoạt động của các mạch trong não và cách thức rượu và thuốc ảnh hưởng đến chúng.
 
Lối sống cũng có thể ảnh hưởng đến biểu hiện gen trong não của chúng ta, mặc dù các nhà nghiên cứu vẫn chưa biết liệu chúng có thể điều chỉnh những thay đổi được gây ra bởi các chất gây nghiện hay không. Giống như rượu và thuốc, thay đổi chế độ dinh dưỡng cũng có thể ảnh hưởng đến biểu hiện gen. Ở ruồi, chế độ dinh dưỡng giàu đường có thể lập trình lại khả năng cảm nhận vị ngọt thông qua mạng lưới biểu hiện gen liên quan đến quá trình phát triển.
 
Tập thiền, dù chỉ sau một ngày, cũng có thể ảnh hưởng đến việc điều chỉnh gen trong não thông qua các cơ chế tương tự. Tham gia một khóa tu thiền trong khoảng một tháng có thể làm giảm sự biểu hiện của các gen liên quan đến viêm nhiễm, và những thiền giả giàu kinh nghiệm có thể giảm sự biểu hiện của gen gây viêm nhiễm chỉ sau một ngày thiền sâu chuyên sâu.
 
Nghiên cứu trên động vật cũng chỉ ra rằng tập thể dục làm thay đổi biểu hiện gen bằng cách thay đổi cả các histones và các tag phân tử gắn trực tiếp vào DNA. Điều này làm tăng hoạt động của các gen quan trọng đối với hoạt động và độ linh hoạt của tế bào thần kinh, ủng hộ ý kiến cho rằng tập thể dục giúp cải thiện khả năng học tập, tăng cường trí nhớ và có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh trí nhớ suy giảm (dementia).
 
Từ việc tham gia Tháng Giêng Khô Ráo (Dry January) hoặc nhiều phong trào kiêng cử lành mạnh khác, nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng sâu sắc đến sinh học não bộ. Lên kế hoạch giảm sử dụng rượu và thuốc, cũng như áp dụng những thói quen sống lành mạnh, có thể giúp ổn định và mang lại lợi ích lâu dài cho sức khỏe thể chất và tinh thần của quý vị.
 
Nguồn: “Alcohol and drugs rewire your brain by changing how your genes work – research is investigating how to counteract addiction’s effects” được đăng trên trang TheConversation.com.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hơn một thập niên từ sau cái chết bất ngờ của mẹ, Sehrish Sayani mắc chứng rối loạn tâm thần hậu chấn (PTSD). Suốt những năm đó, những cơn hoảng loạn dữ dội nhất đã giảm dần, nhưng các triệu chứng như nghi ngại thái quá (hypervigilance), trở nên đặc biệt nhạy cảm với một số yếu tố và những giấc ngủ chập chờn đã trở nên quen thuộc trong cuộc sống của cô.
Trong cuốn tiểu thuyết Chuyện Hai Thành Phố (A Tale of Two Cities) của Charles Dickens, được xuất bản năm 1859 và lấy bối cảnh thời Cách Mạng Pháp, có đoạn viết: “Đó là thời đại tốt đẹp nhất, cũng là thời đại tồi tệ nhất, đó là thời đại của sự khôn ngoan, cũng là thời đại của sự ngu xuẩn.” Đại dịch COVID-19 cũng là một thời đại như thế. Một mặt, khoa học đã cứu sống được nhiều người. Chưa đầy một năm sau khi phát hiện virus, Hoa Kỳ đã tạo ra và thử nghiệm vắc xin, rồi cho sản xuất, phân phối và triển khai tiêm chủng hàng loạt miễn phí cho người dân. Ước tính vắc xin COVID đã cứu được ít nhất 3.2 triệu người chỉ riêng ở Hoa Kỳ. Những thành tựu này tạo ra hy vọng về việc chúng ta có thể nhanh chóng ứng phó với đại dịch trong tương lai.
Hơn một thập niên trước, Shria Kumar, bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và là chuyên gia nghiên cứu tại Đại học Miami, bắt đầu chú ý đến một dấu hiệu đáng lo ngại. Có một số bệnh nhân ung thư dạ dày đến gặp bà ở độ tuổi rất trẻ, và rất nhiều người là phụ nữ. Khuynh hướng này vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay. Các khoa học gia đang nỗ lực tìm hiểu tại sao điều này lại xảy ra. Vào mùa xuân năm ngoái, họ đã xác nhận rằng hiện tượng này đang diễn ra ở Hoa Kỳ. Sau khi kiểm tra hệ thống các cơ sở dữ liệu chứa các thông tin chi tiết về các trường hợp ung thư ở nhiều tiểu bang trên toàn quốc, các nhà nghiên cứu nhận thấy ung thư dạ dày đang gia tăng nhanh hơn ở phụ nữ trẻ.
Wegovy, Ozempic và Mounjaro là các loại thuốc giảm cân và điều trị tiểu đường đã gây được tiếng vang lớn trong lĩnh vực tin tức y tế. Chúng nhắm vào các con đường điều tiết liên quan đến cả bệnh béo phì và tiểu đường, và được nhiều người coi là bước đột phá trong việc kiểm soát cân nặng, đường và huyết áp. Nhưng liệu những loại thuốc này có giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của hội chứng chuyển hóa (metabolic disease) không? Điều gì đã thúc đẩy sự phát triển của chúng từ ban đầu?
Gần đây quý vị vừa bị cảm lạnh, cúm, RSV hoặc COVID, bệnh đã qua nhưng mãi vẫn không thể hết ho? Rất nhiều người bị giống như vậy. Triệu chứng này có thể tồn tại trong nhiều tuần sau khi cơ thể chúng ta đã loại bỏ vi-rút. Michael Shiloh, một bác sĩ chuyên nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y tế UT Southwestern cho biết những bệnh nhân bị ho thường kể là họ đã bị bịnh từ 8 tuần trước khi đến gặp ông. Ông nói: “Chúng tôi thực sự không thể phát hiện thấy vi rút gì ở những người này nữa nhưng họ vẫn bị ho.”
Bằng cách bắt chước cơ chế bảo vệ của cơ thể chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn, một nhóm nghiên cứu ở Lund, Thụy điển hy vọng có thể ngăn chặn tình trạng viêm phát triển thành nhiễm trùng máu, theo đài truyền hình SVT, Thụy điển. Nhiễm trùng máu là tình trạng nhiễm trùng có thể đe dọa tính mạng. Thông thường nguyên nhân là do viêm phổi, nhiễm trùng đường tiểu hoặc nhiễm trùng vết thương. Nghiên cứu từ Lund cho thấy hiện nhiễm trùng huyết phổ biến hơn so với trước đây.
Ngày nay, có nhiều người lớn hơn bao giờ hết đang phải đối mặt với chứng rối loạn khả năng tập trung- thiếu khả năng chú ý, hay ADHD. Người ta nghi ngờ nguyên nhân chính của vấn đề này là do công nghệ hiện đại đang gây áp lực lên não bộ của họ. Trong khi có gần 10% trẻ em được chẩn đoán mắc chứng ADHD, một phân tích tổng hợp gần đây từ nhiều nghiên cứu cho thấy gần 6.8% người lớn mắc chứng ADHD – tăng từ 4.4% vào năm 2003.
Aissam Dam, cậu bé 11 tuổi, lớn lên trong một thế giới im lặng tuyệt đối. Em sinh ra đời đã bị điếc và chưa bao giờ nghe thấy bất kỳ tiếng động nào. Khi sống trong một cộng đồng nghèo ở Maroc, em đã học cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ký hiệu do chính mình phát minh ra và không được đi học. Năm ngoái, sau khi chuyển đến Tây Ban Nha, gia đình đưa em đến gặp một chuyên gia về thính giác, người đã đưa ra một gợi ý đáng ngạc nhiên: Aissam có thể đủ điều kiện tham gia thử nghiệm lâm sàng sử dụng liệu pháp gen. Vào ngày 4 tháng 10, Aissam được đưa đến điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia, trở thành người đầu tiên được điều trị bằng liệu pháp gen ở Hoa Kỳ cho bệnh điếc bẩm sinh. Mục đích là cung cấp cho em thính giác, nhưng các nhà nghiên cứu không biết liệu phương pháp điều trị này có hiệu quả hay không, và nếu có thì em sẽ nghe được bao nhiêu.
Sau mùa lễ cuối năm là lúc các bậc phụ huynh lo lắng về con đường đại học của con cháu mình. Những con số điểm, những chữ viết tắt như GPA, SAT và ACT sẽ làm phụ huynh nhức đầu và chúng ta sẽ bàn lại về vai trò các điểm này và nhất là tương quan giữa SAT và IQ trong khung cảnh của các thay đổi gần đây ở Mỹ. Năm ngoái, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ quyết định cấm dùng màu da, nguồn gốc sắc tộc để quyết định tuyển chọn một ứng viên, từ chối không cho Đại học Harvard thực hành “tác dụng khẳng định” (affirmative action) để tăng sỉ số da màu không được đại diện đúng mức so với tỷ lệ trong dân số nói chung. Một trong những biện pháp được dùng để giảm bớt sỉ số dân Á Châu là gạt bỏ kết quả kỳ thi SAT hoặc giảm bớt tầm quan trọng của SAT, vì người gốc Á Châu có điểm SAT cao hơn nhiều so với các sắc dân khác.
Hội chứng người cứng đơ (Stiff Person Syndrome – SPS) là một căn bịnh có thể gây co thắt dữ dội và làm suy nhược các cơ, nhưng hầu hết mọi người đều không biết gì về nó mãi cho đến cuối năm ngoái, khi nữ danh ca Celine Dion công bố tình trạng bịnh của mình. Chứng rối loạn thần kinh và tự miễn dịch hiếm gặp này được cho là chỉ ảnh hưởng đến 1 hoặc 2 người trong một triệu người – và hai phần ba trong số những người bị là phụ nữ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.