Hôm nay,  

Sẽ Sớm Có Nhiều Loại Thuốc Mới Để Điều Trị Béo Phì

05/01/202400:01:00(Xem: 613)

bao phi
Sự xuất hiện của các loại thuốc mới giúp điều trị béo phì mang đến hy vọng lớn lao nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ. (Nguồn: Chụp lại từ YouTube)


Việc thuốc trị béo phì Zepbound mới được thông qua đã bổ sung thêm lựa chọn cho các loại thuốc giúp giảm cân, nhưng nó cũng đi kèm với những thách thức về chi phí và khả năng tiếp cận, giống như các loại thuốc giảm cân khác trong cùng nhóm.
 
Các loại thuốc trong nhóm này gồm chất chủ vận (agonists), hay chất bắt chước các hormone tự nhiên trong ruột có ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của cơ thể và tín hiệu đói phát ra từ não. Nhưng các loại thuốc đã được chuẩn thuận, các phiên bản tổng hợp của các hormone này, là những phân tử có kích thước lớn nên quá trình sản xuất khá tốn kém và mất thời gian. Điều này khiến cho thuốc có giá cả đắt đỏ và ngày càng khan hiếm. Hơn nữa, hầu hết các loại thuốc này đều là thuốc tiêm chứ không phải thuốc uống, và thường phải được bảo quản lạnh. Với hơn 4 trên 10 người Mỹ – và gần 2 tỷ người trên toàn thế giới – bị ảnh hưởng bởi bệnh béo phì, những loại thuốc mới giúp điều trị căn bệnh mãn tính đang phát triển nhanh nhất thế giới đang phải đối mặt với thách thức về chi phí và khả năng tiếp cận.
 
Ngoài khâu sản xuất phức tạp, số lượng thuốc giảm cân trên thị trường cũng không nhiều, khiến cho giá cả bị đẩy lên cao vì không cần phải cạnh tranh. Trong khi đó, nhiều chương trình bảo hiểm y tế tư nhân chưa bao gồm chi phí cho các loại thuốc trị béo phì. Cũng có nhiều nhà nghiên cứu đang phát triển thuốc trị béo phì dạng thuốc uống với giá rẻ hơn, nhưng chúng vẫn chưa được sẵn sàng để có thể đệ trình lên Cơ Quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm. Hiện nay, các loại thuốc uống có hiệu quả không bằng các loại thuốc tiêm.
 
Tuy nhiên, có khoảng 6 loại thuốc đã vượt qua các thử nghiệm lâm sàng, và một số trong đó sẽ được FDA đánh giá chấp thuận trong vài năm tới.
 
Một loại thuốc đang được phát triển và thu hút sự chú ý là orforglipron, loại thuốc giống như thuốc chủ vận đã được chuẩn thuận nhưng có phân tử nhỏ hơn, giúp sản xuất dễ dàng hơn và giá thành rẻ hơn. Orforglipron cũng là thuốc uống, không cần bảo quản kỹ như thuốc tiêm. Mặc dù chỉ mới bước vào thử nghiệm giai đoạn 3, nhưng hiệu quả của orforglipron trong thử nghiệm giai đoạn 2 cho thấy đây hứa hẹn sẽ là một lựa chọn dễ tiếp cận hơn.
 
Nhiều loại thuốc giảm cân mới
 
Tốc độ chuẩn thuận nhanh chóng cho nhóm thuốc mới này đã dẫn đến một danh sách dài với những cái tên khó nhớ. Lý do chính là FDA chuẩn thuận cùng một loại thuốc hóa học cho các tình trạng khác nhau, và các công ty đặt tên thương hiệu khác nhau cho loại thuốc dựa trên tình trạng điều trị.
 
Có thể nhiều người đã nghe qua Ozempic, tên của semaglutide, được dùng cho bệnh tiểu đường type 2. Cùng là hợp chất đó, semaglutide, cũng được chuẩn thuận để điều trị bệnh béo phì và có tên là Wegovy.
 
Một loại thuốc quan trọng khác trong nhóm này là tirzepatide, được chuẩn thuận để điều trị bệnh tiểu đường type 2 với tên Mounjaro, và là thuốc trị béo phì với tên Zepbound.
 
Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy những người mắc bệnh béo phì đã giảm tới 21% trọng lượng cơ thể với liều lượng Zepbound cao nhất.
 
Tốc độ phê duyệt này phù hợp với nhu cầu đối với chúng, điều không theo kịp là khả năng tiếp cận các loại thuốc này, chủ yếu là do tình trạng thiếu thuốc và chi phí mắc mỏ.
 
Tình trạng khan hiếm Mounjaro dự kiến sẽ kéo dài đến tháng 8 năm 2024. Thuốc này có giá 1,023 MK/tháng nếu không có bảo hiểm. Đối thủ cạnh tranh của nó là Ozempic, có giá 936 MK và số lượng cũng khá hạn chế. Zepbound (cùng hợp chất với Mounjaro) và Wegovy (cùng hợp chất với Ozempic) dự kiến sẽ giúp giải quyết phần nào tình trạng khan hiếm thuốc, với giá cả cũng đắt đỏ không kém. Giá của Zepbound là 1,060 MK, còn Wegovy là 1,349 MK.
 
Ozempic không phải là loại thuốc đầu tiên được tung ra thị trường, nhưng là loại thuốc đầu tiên trở nên nổi tiếng sau khi nhiều ngôi sao nổi tiếng chia sẻ kết quả giảm cân của họ thành công nhờ sử dụng nó. Đây cũng là loại thuốc hiệu quả nhất khi được chuẩn thuận vào năm 2021 với tên thương hiệu Wegovy để điều trị béo phì.
 
Tất cả những loại thuốc này, được gọi là chất chủ vận GLP-1, đều là thuốc tiêm có thể bắt chước tác dụng của peptide-1 giống glucagon (GLP-1), một loại hormone trong ruột kích thích giải phóng insulin.
 
Zepbound là loại thuốc trị béo phì đầu tiên khai thác nhiều hơn một loại hormone đường ruột: nó bắt chước cả GLP-1 và polypeptide insulinotropic phụ thuộc glucose (GIP), một loại hormone khác liên quan đến quá trình trao đổi chất và đóng vai trò gây ra bệnh béo phì. Nhưng GLP-1 và GIP chỉ là hai trong số hàng loạt các hormone trong ruột ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa và các quá trình trao đổi chất khác.
 
Khi các nhà khoa học tìm hiểu thêm về chức năng của các hormone khác trong ruột, họ cũng thử nghiệm các loại thuốc bắt chước các loại hormone đó. Nhiều loại thuốc mới đang được phát triển bắt chước hai hoặc ba loại hormone trong ruột, chẳng hạn như GLP-1, GIP và glucagon.
 
Các loại thuốc này hoạt động theo nhiều cách ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất và tiêu hao năng lượng. Bằng cách kích thích tiết ra insulin sau khi ăn, chúng giúp giảm lượng glucose lưu thông trong máu và giảm tình trạng kháng insulin. Chúng cũng làm chậm quá trình tiêu hóa để giúp người ta cảm thấy no lâu hơn.
 
Ngoài ra, chúng còn kích thích đốt cháy tế bào mỡ và giảm mỡ trong gan. Cuối cùng, quan trọng nhất là chúng cũng gửi tín hiệu no đến não, nói với não rằng nó không cần và cũng không muốn bổ sung thêm calo.
 
Ưu điểm lớn của những loại thuốc mới này là chúng ngăn chặn phản ứng đói không phù hợp gây ra béo phì. Đối với những bệnh nhân béo phì – ngay cả khi họ đang ăn – não của họ vẫn nghĩ rằng họ đang bị đói. Tuy nhiên, với những loại thuốc mới này, “bệnh nhân không những không cảm thấy đói mà còn không còn cảm giác thèm ăn hay suy nghĩ về đồ ăn như trước đây vì não của họ không bị đói.”
 
Vấn đề là chúng không dễ sản xuất và giá cả cũng không mấy vừa túi. Nhưng những kết quả thử nghiệm lâm sàng từ thuốc của Wharton, orforglipron và các kết quả nghiên cứu khác, được công bố tại cuộc họp thường niên của American Diabetes Association (ADA) vào mùa hè và tại cuộc họp của Obesity Society vào mùa thu vừa qua cho thấy rằng các nhà nghiên cứu đang tìm cách giải quyết những trở ngại đó.
 
Các loại thuốc mới sắp tới sẽ cố gắng cải thiện những loại thuốc hiện có theo ba cách; nhiều tác động hơn lên nhiều loại hormone trong ruột hơn để tăng cường tác dụng điều trị; một số là thuốc viên, dễ bảo quản và tiếp cận hơn. Cuối cùng, một số loại thuốc uống đang được phát triển, như của Wharton, được tạo thành từ các phân tử nhỏ hơn, sản xuất dễ dàng hơn và nhanh hơn, khiến chúng rẻ hơn và ít bị khan hiếm hơn.
 
Novo Nordisk, công ty sản xuất Ozempic/Wegovy, đang nghiên cứu một loại thuốc mới có tên là CagriSema, kết hợp semaglutide và cagrilintide, bắt chước amylin. Trong thử nghiệm giai đoạn 2, những người tham gia mắc bệnh tiểu đường type 2 đã giảm lượng đường trong máu và giảm 16% trọng lượng cơ thể.
 
Các công ty dược phẩm khác cũng đang phát triển hai loại thuốc khác bắt chước GLP-1 và glucagon, một loại hormone có thụ thể trong gan. Một trong số đó là survodutide; trong thử nghiệm giai đoạn 2 của loại thuốc này, những người tham gia giảm được 15 đến 20% trọng lượng cơ thể, tùy thuộc vào liều lượng.
 
Loại thuốc kết hợp GLP-1 và glucagon khác là pemvidutide, đang được thử nghiệm để điều trị cả bệnh béo phì và bệnh gan nhiễm mỡ. Trong kết quả mới nhất từ cuối tháng 11, những người tham gia đã giảm 10 đến 20% trọng lượng cơ thể và gần 1/3 số người tham gia sử dụng liều cao nhất giảm cân nặng từ 20% hoặc hơn.
 
Tuy nhiên, giống như semaglutide và tirzepatide, tất cả các loại thuốc này đều có hiệu ứng phụ đối với tiêu hóa: buồn nôn, nôn mửa và tiêu chảy. Thí dụ, cứ bốn người dùng pemvidutide thì có một người bỏ thuốc vì các hiệu ứng phụ này quá mạnh.
 
Loại thuốc tiến bộ nhất trong số những loại thuốc cố gắng bắt chước ba loại hormone trong ruột là retatrutide của Eli Lilly, cùng công ty sản xuất Mounjaro/Zepbound.
 
Retatrutide bắt chước glucagon, GLP-1 và GIP kết hợp. Những người tham gia sử dụng liều cao nhất đã giảm được khoảng 24% trọng lượng cơ thể, nhiều nhất so với bất kỳ loại thuốc giảm cân nào cho đến nay và ngang ngửa với một số loại phẫu thuật giảm cân.
 
Một trong những loại thuốc uống cho thấy hiệu quả cao nhất đối với bệnh béo phì là thuốc semaglutide dạng uống của Novo Nordisk với liều lượng cao hơn Rybelsus hiện tại của họ. Nó đã chứng minh là giúp trọng lượng cơ thể giảm 15%, nhưng công ty chưa đệ trình lên FDA để xin chuẩn thuận.
 
Những người tham gia thử nghiệm orforglipron, loại thuốc mà nhóm Wharton đang phát triển, trong thử nghiệm giai đoạn 2 đã giảm 15% trọng lượng cơ thể của họ. Hiệu quả này chỉ ở mức trung bình so với các loại thuốc khác, nhưng nó dễ sản xuất và giá cả dễ chịu hơn.
 
Nhìn chung, việc tìm ra loại thuốc hiệu quả, ít hiệu ứng phụ, và giá cả phải chăng vẫn là mục tiêu hàng đầu. Các nhà nghiên cứu hy vọng các loại thuốc mới sẽ mở ra nhiều lựa chọn hơn cho người béo phì, tạo ra cơ hội để giảm giá thành và tăng khả năng tiếp cận. Tuy nhiên, bệnh béo phì không phải là một vấn đề đơn giản. Mỗi người có những yếu tố riêng biệt, từ đó cần có giải pháp điều trị cá nhân hóa. Điều này tạo ra một thách thức lớn trong việc tìm ra giải pháp hiệu quả cho từng trường hợp cụ thể.
 
Nghiên cứu về các loại thuốc chống béo phì không chỉ mở ra một cánh cửa mới trong điều trị béo phì mà còn đặt ra thách thức về việc tìm ra giải pháp hiệu quả và phù hợp với mỗi cá nhân, đòi hỏi sự tiếp tục nỗ lực và nghiên cứu sâu hơn.
 
Nguồn: “New obesity drugs are coming. Here's how they could change everything” được đăng trên trang nationalgeographic.com.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong cuốn tiểu thuyết Chuyện Hai Thành Phố (A Tale of Two Cities) của Charles Dickens, được xuất bản năm 1859 và lấy bối cảnh thời Cách Mạng Pháp, có đoạn viết: “Đó là thời đại tốt đẹp nhất, cũng là thời đại tồi tệ nhất, đó là thời đại của sự khôn ngoan, cũng là thời đại của sự ngu xuẩn.” Đại dịch COVID-19 cũng là một thời đại như thế. Một mặt, khoa học đã cứu sống được nhiều người. Chưa đầy một năm sau khi phát hiện virus, Hoa Kỳ đã tạo ra và thử nghiệm vắc xin, rồi cho sản xuất, phân phối và triển khai tiêm chủng hàng loạt miễn phí cho người dân. Ước tính vắc xin COVID đã cứu được ít nhất 3.2 triệu người chỉ riêng ở Hoa Kỳ. Những thành tựu này tạo ra hy vọng về việc chúng ta có thể nhanh chóng ứng phó với đại dịch trong tương lai.
Hơn một thập niên trước, Shria Kumar, bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và là chuyên gia nghiên cứu tại Đại học Miami, bắt đầu chú ý đến một dấu hiệu đáng lo ngại. Có một số bệnh nhân ung thư dạ dày đến gặp bà ở độ tuổi rất trẻ, và rất nhiều người là phụ nữ. Khuynh hướng này vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay. Các khoa học gia đang nỗ lực tìm hiểu tại sao điều này lại xảy ra. Vào mùa xuân năm ngoái, họ đã xác nhận rằng hiện tượng này đang diễn ra ở Hoa Kỳ. Sau khi kiểm tra hệ thống các cơ sở dữ liệu chứa các thông tin chi tiết về các trường hợp ung thư ở nhiều tiểu bang trên toàn quốc, các nhà nghiên cứu nhận thấy ung thư dạ dày đang gia tăng nhanh hơn ở phụ nữ trẻ.
Wegovy, Ozempic và Mounjaro là các loại thuốc giảm cân và điều trị tiểu đường đã gây được tiếng vang lớn trong lĩnh vực tin tức y tế. Chúng nhắm vào các con đường điều tiết liên quan đến cả bệnh béo phì và tiểu đường, và được nhiều người coi là bước đột phá trong việc kiểm soát cân nặng, đường và huyết áp. Nhưng liệu những loại thuốc này có giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của hội chứng chuyển hóa (metabolic disease) không? Điều gì đã thúc đẩy sự phát triển của chúng từ ban đầu?
Gần đây quý vị vừa bị cảm lạnh, cúm, RSV hoặc COVID, bệnh đã qua nhưng mãi vẫn không thể hết ho? Rất nhiều người bị giống như vậy. Triệu chứng này có thể tồn tại trong nhiều tuần sau khi cơ thể chúng ta đã loại bỏ vi-rút. Michael Shiloh, một bác sĩ chuyên nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y tế UT Southwestern cho biết những bệnh nhân bị ho thường kể là họ đã bị bịnh từ 8 tuần trước khi đến gặp ông. Ông nói: “Chúng tôi thực sự không thể phát hiện thấy vi rút gì ở những người này nữa nhưng họ vẫn bị ho.”
Bằng cách bắt chước cơ chế bảo vệ của cơ thể chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn, một nhóm nghiên cứu ở Lund, Thụy điển hy vọng có thể ngăn chặn tình trạng viêm phát triển thành nhiễm trùng máu, theo đài truyền hình SVT, Thụy điển. Nhiễm trùng máu là tình trạng nhiễm trùng có thể đe dọa tính mạng. Thông thường nguyên nhân là do viêm phổi, nhiễm trùng đường tiểu hoặc nhiễm trùng vết thương. Nghiên cứu từ Lund cho thấy hiện nhiễm trùng huyết phổ biến hơn so với trước đây.
Ngày nay, có nhiều người lớn hơn bao giờ hết đang phải đối mặt với chứng rối loạn khả năng tập trung- thiếu khả năng chú ý, hay ADHD. Người ta nghi ngờ nguyên nhân chính của vấn đề này là do công nghệ hiện đại đang gây áp lực lên não bộ của họ. Trong khi có gần 10% trẻ em được chẩn đoán mắc chứng ADHD, một phân tích tổng hợp gần đây từ nhiều nghiên cứu cho thấy gần 6.8% người lớn mắc chứng ADHD – tăng từ 4.4% vào năm 2003.
Bộ não của chúng ta thường có khuynh hướng tìm kiếm và phản ứng với những điều mang lại sự hài lòng, gọi là phần thưởng. Khi chúng ta đói, bộ não hiểu rằng thức ăn là một phần thưởng, còn khi ta khát, nước sẽ là phần thưởng. Nhưng lạm dụng các chất gây nghiện như rượu và các loại thuốc có thể ảnh hưởng đến các con đường tìm kiếm phần thưởng tự nhiên trong bộ não, tạo ra những ham muốn khó kiểm soát và làm giảm khả năng kiểm soát hành vi của chúng ta.
Aissam Dam, cậu bé 11 tuổi, lớn lên trong một thế giới im lặng tuyệt đối. Em sinh ra đời đã bị điếc và chưa bao giờ nghe thấy bất kỳ tiếng động nào. Khi sống trong một cộng đồng nghèo ở Maroc, em đã học cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ký hiệu do chính mình phát minh ra và không được đi học. Năm ngoái, sau khi chuyển đến Tây Ban Nha, gia đình đưa em đến gặp một chuyên gia về thính giác, người đã đưa ra một gợi ý đáng ngạc nhiên: Aissam có thể đủ điều kiện tham gia thử nghiệm lâm sàng sử dụng liệu pháp gen. Vào ngày 4 tháng 10, Aissam được đưa đến điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia, trở thành người đầu tiên được điều trị bằng liệu pháp gen ở Hoa Kỳ cho bệnh điếc bẩm sinh. Mục đích là cung cấp cho em thính giác, nhưng các nhà nghiên cứu không biết liệu phương pháp điều trị này có hiệu quả hay không, và nếu có thì em sẽ nghe được bao nhiêu.
Sau mùa lễ cuối năm là lúc các bậc phụ huynh lo lắng về con đường đại học của con cháu mình. Những con số điểm, những chữ viết tắt như GPA, SAT và ACT sẽ làm phụ huynh nhức đầu và chúng ta sẽ bàn lại về vai trò các điểm này và nhất là tương quan giữa SAT và IQ trong khung cảnh của các thay đổi gần đây ở Mỹ. Năm ngoái, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ quyết định cấm dùng màu da, nguồn gốc sắc tộc để quyết định tuyển chọn một ứng viên, từ chối không cho Đại học Harvard thực hành “tác dụng khẳng định” (affirmative action) để tăng sỉ số da màu không được đại diện đúng mức so với tỷ lệ trong dân số nói chung. Một trong những biện pháp được dùng để giảm bớt sỉ số dân Á Châu là gạt bỏ kết quả kỳ thi SAT hoặc giảm bớt tầm quan trọng của SAT, vì người gốc Á Châu có điểm SAT cao hơn nhiều so với các sắc dân khác.
Hội chứng người cứng đơ (Stiff Person Syndrome – SPS) là một căn bịnh có thể gây co thắt dữ dội và làm suy nhược các cơ, nhưng hầu hết mọi người đều không biết gì về nó mãi cho đến cuối năm ngoái, khi nữ danh ca Celine Dion công bố tình trạng bịnh của mình. Chứng rối loạn thần kinh và tự miễn dịch hiếm gặp này được cho là chỉ ảnh hưởng đến 1 hoặc 2 người trong một triệu người – và hai phần ba trong số những người bị là phụ nữ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.