Hôm nay,  

bảy mươi chưa phải là lành…

29/12/202300:00:00(Xem: 3338)
Oil on Wood Panel - Nguyễn Việt Hùng
Tranh "Oil on Wood Panel"  của Họa sĩ Nguyễn Việt Hùng
 
Hầu như người Việt nào cũng biết câu, “nhân sinh thất thập cổ lai hy”. Tuổi thọ ngày xưa thật đúng là khó có người sống qua bảy mươi tuổi vì điều kiện sống, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc y tế còn hạn chế, là chưa nói tới tâm lý người lớn tuổi được sống vui với con cháu, xóm làng, hay tuổi già neo đơn vì hoàn cảnh cũng tác động nhiều đến tuổi thọ. Ngày xưa, người sáu mươi tuổi đã được con cháu mừng thọ dịp sinh nhật thứ sáu mươi. Ai tới bảy mươi là con cháu mừng ông (bà) đại thọ. Hiếm hoi có người sống tới tám mươi thì con cháu mừng thượng thọ. Qua tám mươi cũng có nhưng rất hiếm vì bảy mươi đã được coi là hiếm hoi - cổ lai hy. Nhưng nay đời sống sung túc hơn, hiện đại hơn, và y học tiến bộ hơn nên những lão ông, lão bà bảy mươi bây giờ còn khoẻ re vì họ còn có thể vui chơi, du lịch, tham gia sinh hoạt xã hội, cộng đồng… bệnh tật của họ có bác sĩ chăm sóc với y khoa hiện đại. Đời sống tinh thần vui hay không cũng tùy người, tùy suy nghĩ cá nhân vì người thấy nhà vắng con cháu thì buồn, trong khi người khác thích yên tịnh. Dù sao thì người bảy mươi tuổi bây giờ sức khoẻ và ngoại hình của họ không đến nỗi già khú để chỉ có thể ở nhà như vài thập niên trước.
  
Nhưng tiếng Việt cũng có câu nói tới tuổi già, chỉ là không được biết đến nhiều bằng câu “nhân sinh…” nói trên. Ông bà ta cũng nói, “bảy mươi chưa phải là lành”. Lành trong câu tục ngữ này không đơn giản là lành mạnh, mang nghĩa an lành trong tuổi già như sống không vất vả với cơm áo gạo tiền nữa khi con cái đã trưởng thành, ổn định. Nói về sức khoẻ người cao niên đương nhiên có vấn đề không ít thì nhiều nhưng không đến nỗi nằm một chỗ đã là lành.
  
Nghĩa đen của câu tục ngữ dễ hiểu là thế, nhưng nghĩa bóng sâu xa, nội hàm thuộc phạm trù tâm linh không hẳn vì phước phần mỗi người thấy có là có, thấy không là không như ông bà ta cũng nói, “có thờ có thiêng có kiêng có lành”. Người cao niên quan tâm đến việc ăn hiền ở lành sẽ tốt cho sức khoẻ về mặt thể chất, và ăn hiền ở lành theo nghĩa tích phước cho con cháu cũng làm cho tâm lý người lớn tuổi thấy thoải mái hơn tâm lý bon chen khi còn trẻ, khi thấy người khác có thì mình phải có cho bằng chị bằng em. Bây giờ biết bằng lòng với hiện tại là giải thoát, là bình an… nội hàm của lành.
  
Nhưng vụ việc cuối năm làm khó nghĩ về người bạn là người chồng, người cha tốt với gia đình anh ta từ mấy mươi năm quen biết. Nay tuổi già gõ cửa, rồi xông vào nhà anh xồng xộc khi từng người con trưởng thành, lập gia đình và sống riêng. Cơn đại dịch covid-19 can qua kẻ mất người còn, nhưng anh vẫn vững như bàn thạch khi nhà, xe trả hết từ lâu, con cái học xong, lập gia đình, sống riêng êm thắm. Vợ chồng anh không bị cô vật, hai người biết lắng nghe nên không trở thành thế lực thù địch như những cặp vợ chồng khác khi về già. Rõ ràng là anh bước vào cuộc sống an lành của tuổi già vì sức khoẻ anh còn khá, ít nhất là hơn nhiều người bằng tuổi anh nhưng họ đã như cọng bún thiu. Anh bước vào chữ lành tâm linh là ở hiền gặp lành, mong thế.
  
Kinh tế sau đại dịch tăng trưởng mạnh trên mặt báo, tỷ lệ thất nghiệp giảm thấp nhất trong nhiều năm qua cũng vẫn là tin của truyền thông phải gió, Nhà trắng mập mờ. Anh bạn tôi về hưu vì tự trọng, vì những người trẻ trong hãng bị cho thôi việc, họ nguyền rủa những người già tham lam, chết có ôm tiền theo được không mà cố làm cho tới chết; làm hết việc của những người trẻ.
  
Vấn đề là anh làm gì cho hết thời gian trong ngày? Lớn tuổi nên ngủ ít thì năm giờ sáng hai vợ chồng đã dắt nhau đi bộ thể dục quanh khu nhà họ ở. Sáu giờ, chị nhà lo tưới cây, hái rau ăn cho ngày mới bắt đầu, anh xem tin tức trên tivi. Bảy giờ ăn sáng. Chị lại ra vườn chăm sóc cây trái, rau ăn; anh mỏi mắt với tivi thì nhắm mắt dưỡng thần trên sofa tới cơm trưa. Ăn cơm trưa xong lại ngồi chờ cơm chiều. Ăn cơm chiều xong lại ngồi chờ trời tối để đi ngủ. Lên giường nằm lại mong trời mau sáng để đi bộ thể dục cho thảnh mảnh…
  
Rồi việc gì đến sẽ đến, nhàn cư vi bất thiện là đi sinh hoạt cộng đồng. Anh không đủ kiên nhẫn để xem phụ nữ mặc đồ ở nhà, mang dép kẹp nhảy đầm ngoài Trung tâm sinh hoạt cộng đồng, Hội cao niên… anh lại về ẩn cư. Thỉnh thoảng theo bạn bè đi câu cá, nhưng anh không câu được cá bao giờ nên cũng sớm nản; theo vợ đi làm công quả cho chùa thì chùa cũng nhiễu nhương không khác ngoài xã hội chia phe lập nhóm. Thế là anh thất nghiệp theo vợ, thất nghiệp toàn tập là đi làm công quả cũng không xong trong ngôi chùa “đồi thông hai mộ”. Lúc nào đi ngang chùa cũng nghe karaoke om xòm đồi thông hai mộ với đắp mộ cuộc tình ra rả như loa của Việt cộng trên cột đèn ngày xưa.
  
Bạn tôi về ngồi đếm quỹ thời gian còn lại tới khủng hoảng thì có tin vui giữa giờ tuyện vọng. Cô cháu gái bên vợ làm đại lý bán vé máy bay, khai thuế, chuyển tiền về Việt nam, làm hồ sơ bảo lãnh toàn diện là diện nào cũng làm, đủ thứ dịch vụ chung trong cái laptop nhỏ mà có võ thời hiện đại. Theo cô cháu gái cho biết, những người già về Việt nam khi mua vé máy bay họ thường nhờ đại lý thuê luôn dùm họ người đưa đón ra phi trường cho tiện, vì những người đưa rước đồng hương ra phi trường đều rành ngõ ngách trong phi trường hơn người thỉnh thoảng mới ra phi trường; người có hợp tác với đại lý bán vé máy bay rất uy tín, không bỏ khách đã hẹn làm trễ chuyến bay của người ta… Tóm lại là cô cháu ngoài việc bán vé máy bay sẽ được năm đồng tiền cò của người chạy phi trường mỗi chuyến cô ấy lấy khách dùm người chạy, nhưng với dượng thì cháu không lấy tiền cò.
  
Ông bạn tôi vui vẻ với công việc đưa đón người ra phi trường vì cháu gái cũng lựa khách cho ông đi vào những giờ không kẹt xe, không quá khuya hay quá sớm… Ông cũng đâu cần chạy nhiều, chỉ chạy cho vui, cho có việc làm, bớt nhàm chán ở nhà ngồi xem tivi miết.
 
Bây giờ anh khác xưa, dù xưa nói tới chỉ chừng hơn năm nay. Sau khi anh về hưu, biết làm gì hơn ngồi đợi cuối tuần để hẹn những người bạn làm chung đi uống cà phê, ăn sáng. Mọi người sẽ giành khâu trả tiền vì anh về hưu rồi, trong khi anh em còn đi làm. Nhưng bây giờ anh giành trả hết vì anh đã làm chủ dịch vụ đưa người cửa trước rước người cửa sau của anh… tôi vẫn ghẹo anh với câu Kiều đáo để vì trong lòng mừng cho anh có việc làm phù hợp sức khoẻ và tuổi tác. Tiền kiếm được không quan trọng bằng tâm lý anh sau khi về hưu luôn cảm thấy mình vô dụng, cái điện thoại cả tuần không reo một lần cho đỡ phí tiền điện thoại thì bây giờ điện thoại reo lia chia, đang ngồi cà phê với anh em mà điện thoại reo có khách cần đón ở phi trường, anh vui vẻ lắm… Anh hẹn anh em: chiều nhậu. Tôi chạy tuần này tới sáu chuyến. Làm gì cho hết mấy trăm bạc, chiều nay tôi đãi anh em một chầu cá nướng Đồng quê với bò lá lốt, anh em mình nhậu chơi cho vui…
  
Ai cũng mừng cho anh có việc làm phù hợp sức khoẻ và anh lại thích, người năng nổ mà cứ ngồi nhà thì chịu sao nổi. Nhưng bảy mươi chưa gọi là lành, ách giữa đàng bỗng quàng vào cổ. Nguyên hai bà già mua vé về Việt nam là hai chị em, họ thuê luôn dịch vụ đưa ra phi trường. Cô cháu bán vé máy bay giao việc cho dượng là ông già uy tín nhất của đại lý cho cả ba người già được yên tâm.
  
Rồi ngày ấy đến, đúng là trước hai, ba ngày. Khách hàng gọi, không phải nhắc nhở ngày đi mà bà khách cho biết, “Chị tôi ở Oklahoma. Đúng như hẹn là chị tôi sẽ về Dallas để cùng đi với tôi, nhưng giờ chị tôi không khoẻ, phải đi bệnh viện. Chị tôi đã hủy vé máy bay, nhưng tôi vẫn đi một mình, vẫn nhờ ông anh đưa tôi ra phi trường. Nhưng nhờ thêm ông anh một việc là chị tôi muốn gởi cái va li hành lý của chị về Việt nam cho bà con vì toàn đồ chị mua sắm làm quà cho người nhà bên đó. Nay nhờ ông anh đến nhà chị tôi bên Oklahoma, lấy cái va li đó đem về Dallas cho tôi đem về Việt nam dùm chị tôi. Tiền xe ông anh đi Oklahoma lấy va li cứ tính thêm, tôi trả thêm.
  
Cô cháu bán vé máy bay không cho dượng đi xa vì lái qua Oklahoma City tới bốn tiếng lái, nhưng ông già ham vui, không ham tiền bằng vui và cũng muốn thử lại sức già đã lâu không lái xe đi xa… Ông đi Oklahoma City lấy cái va li, chở theo vợ cho có bạn đường nói chuyện, chống buồn ngủ… Ai ngờ được đường về quê xa lắc lê thê, trót nghe theo lời u mê… như lời nhạc hồi xưa. Cảnh sát quay đèn ít khi vô cớ, ông bạn tôi lái xe có bao giờ quá tốc độ đâu? Hẳn có vấn đề, nhưng anh vẫn nghĩ không ra… cho tới khi cảnh sát xét xe mới lòi ra cái búa tạ của ông trời giáng xuống là một gói hàng cấm trong va li của bà khách bên Oklahoma gởi về Dalas.
  
Anh ấy lặng người, chết điếng, không biết nói gì nữa; chị nhà ngất xỉu, cảnh sát phải gọi xe cứu thương đưa vào bệnh viện. Cảnh sát không thể làm gì hơn là còng tay hai ông bà với tội danh vận chuyển chất cấm.
  
Bạn tôi đã ngoài bảy mươi, đúng câu bảy mươi chưa phải là lành. Tai bay vạ gió, tai ương hoạn nạn rơi xuống đầu không biết đâu mà đỡ. Người ta tới nhắm mắt xuôi tay cũng chưa chắc là lành vì xe nhà quàn cũng bị đụng văng quan tài như thường…
  
Chung quanh vụ việc còn bao la những đoán mò vì không ai nhận tội. Tội cho anh chị bạn tôi sống cả đời tôn trọng luật pháp lại vướng vào lao lý lúc về già bởi cảnh sát chỉ biết người lái xe và hàng cấm có trong xe. Vụ việc do hai người đàn bà khách hàng dựng chuyện để lừa ông già lái xe vận chuyện chất cấm cho họ; hay họ cũng là nạn nhân của người nhà, con cháu trong gia đình họ mới biết việc thuê người đi lấy va li và ra tay qủy kế khiến ông già lái xe phải vạ. Điều nghi vấn khả thi nhưng không có bằng chứng khác là một âm mưu chứ không phải vô tình, không thể vô tình, là cố ý của một người, nhóm buôn hàng cấm có tổ chức; và quan trọng nhất là băng nhóm chơi nhau, chỉ điểm cho cảnh sát chận xe chứ ông già lái xe đâu có phóng nhanh vượt ẩu gì… Trong hằng hà nghi vấn, biết giả thuyết nào đáng tin cậy, có cơ sở để thành bằng chứng. Việc trước mắt là con cháu rối tung, chạy lung lung để lo tại ngoại trước rồi tính sau. Bạn bè hữu sự không quên nhau nhưng mấy ông già ngoài gọi điện thoại cho rối thêm chứ giúp được gì. Viễn cảnh tương lai là khủng hoảng tâm lý cho hai vợ chồng hiền nhưng lành đâu chẳng thấy.
  
Cuộc sống, cuộc đời mỗi chúng ta không biết đâu mà lường hung hiểm, lòng người. Nhưng sống là giao tiếp, xã hội là những quan hệ, con người không dễ tách ra khỏi giao tiếp xã hội cho đến khi xe nhà quàn tới nơi không bị đụng văng mất quan tài thì nghĩa trang bị giải toả cũng vẫn là khả năng để ngỏ… Chữ lành như không còn nữa trong đời sống bây giờ, ăn hiền ở lành thì cứ ăn cứ ở, nhưng cuộc đời có lành không thì phải hỏi cao xanh, “bắt phong trần phải phong trần/ cho thanh cao mới được phần thanh cao…”
  
Có “Kiếp sau xin chớ làm người/ làm cây thông đứng giữa trời mà reo…” cũng không được như ý đâu vì thợ cất nhà, thợ đóng tủ bàn ghế họ chờ từng cây thông đủ lớn…
 
Phan
   

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.