Hôm nay,  

Rue Cler – Để nhớ một thời

27/12/202312:30:00(Xem: 1790)
Tùy bút

rue cler

Có nhiều lý do để tôi không thích và thường tránh né khi phải lái xe vào khu trung tâm thành phố. Một trong lý do chính là hầu hết các con đường trong trung tâm thành phố trên toàn nước Mỹ đều là đường một chiều. Thành phố càng lớn thì đường một chiều càng nhiều. Ngặt một nổi các cơ quan hành chánh địa phương thường đặt văn phòng trong khu vực này, nên khi cần làm bất cứ giấy tờ gì, bất đắc dĩ chúng ta cũngphải lái xe vào. Có điều cũng lạ, gần như những con đường một chiều trong khu trung tâm thành phố đều mang số như: đường số Một, đường số Hai… Thành phố càng lớn thì những con số càng nhiều. Durham, thành phố tôi ở rất nhỏ, nên chỉ đến đường số 7th là hết.
    Có những điều trong đời thường, dù không thích, không muốn nhưng chúng ta đành phải “tuân theo” như một quy luật cần thiết. Như cuộc đời, như số phận. Con đường một chiều là số phận con người trong cuộc sống đời này? Chỉ một lần đến, một lần qua và sẽ mãi không bao giờ trở lại. Mỗi một thời gian trôi qua, mỗi một kỷ niệm in dấu, mỗi một nghiệt ngã hằn sâu đớn đau, mỗi một dấu tích lịch sử khắc ghi… đều là những sự kiện, nối kết thành một chuổi đời dù ta muốn hay không, ý thức hay vô tình bỏ mặc! Những con đường “một chiều” mà tôi không thích, luôn muốn tránh né vẫn là những con đường huyết mạch tạo ra những sinh hoạt sống còn của trung tâm thành phố tôi đang ở…
    Buổi chiều cuối tuần, một người bạn làm cùng công ty rủ tôi đi cà phê Pháp chính hiệu mới khai trương. Hắn là người Mỹ gốc Pháp. “Rue Cler” là một tiệm bán cà phê và bánh ngọt của Pháp, lại nằm ngay trong khu trung tâm thành phố Durham, trên con đường một chiều. Bên ngoài không có gì đặc biệt, nhưng bên trong là một không gian kiến trúc rất Pháp. Đúng hơn rất Paris. Thêm vào đó, người bạn tôi cho hay, mỗi cuối tuần đêm thứ Sáu và thứ Bảy còn có cả trình diễn nhạc sống.
    Khoảng tám giờ ba mươi tôi và Vinay đã có mặt. Chương trình nhạc sống cuối tuần sẽ từ chín đến mười một giờ đêm. Khách trong quán không đông lắm, vẫn còn nhiều bàn trống. Có lẽ thành phố này không có nhiều cư dân gốc Pháp. Phía cuối quán là sân khấu nhỏ đã chuẩn bị sẵn sàng với đàn guitar, chiếc organ điện, kèn saxophone, violin và vài chiếc trống tay… Pháp văn là môn sinh ngữ 2 của tôi thời trung học. Còn nhớ trong mấy năm liền liên tục, tôi rất yêu và chăm chỉ học môn Pháp văn hơn cả môn sinh ngữ chính là Anh ngữ. Lý do đơn giản là người dạy Pháp văn trong liền 3 năm đó là cô Huỳnh Thị Liễu. Lớp tôi là lớp đầu tiên cô Liễu vừa ra trường sư phạm giảng dạy. Ngày đó tôi không biết “hoa hậu” đẹp cở nào, nhưng chắc chắn không thể sánh với cô Liễu dạy Pháp văn lớp tôi. Cô “hình hạc sương mai”, cao ráo, khuôn mặt ngọc ngà với mái tóc dài nửa lưng óng ả và đôi mắt to lồ lộ “chìm đắm” lòng người. Nhờ cô Liễu mà tôi có chút vốn luyến và mê nghe nhạc Pháp từ dạo đó!
    Vinay và tôi gọi một dĩa 4 cái Pâté Chaud, hai ly cà phê đen pha với chút bơ ngọt. Hắn uống không đường, còn tôi phải pha thêm vài muỗng đường và sữa tươi cho ly cà phê của mình. Qua làn kiếng lấm tấm hơi sương, bên ngoài đã vắng xe và tĩnh lặng…Tiếng nhạc bắt đầu trổi lên. Người nữ ca sĩ trẻ có dáng gầy, tóc ngắn và rất cao cúi chào khách bằng hai ngôn ngữ Pháp và Anh. Cả quán chợt im lặng, tôi có thể nghe hơi thở nhẹ của cô trong lời giới thiệu bài hát đầu tiên của mình.
    “Xin chào mọi người, tôi tên là Donna Wittmer. Chúc tất cả các bạn sẽ có đêm nhạc vui vẻ, đầm ấm. Để mở đầu chương trình tôi xin trình diễn bài hát nổi tiếng của ca sĩ Françoise Hardy có tên là Tous Les Garçons et Les Filles. Mong quý vị thưởng thức.”
    Tiếng đàn guitar dạo đầu vút cao, hòa quyện với tiếng organ như một luồn điện lạnh chạy dọc vào mọi cảm giác của tôi. Tiếng hát trong trẻo, dày dặn, thiết tha như cơn lốc cuốn mênh mông tôi vào thật sâu của miền ký ức:
 
    Tous les garçons et les filles de mon âge
    Se promènent dans la rue deux par deux
    Tous les garçons et les filles de mon âge
    Savent bien ce que c'est d'être heureux

***
           
Đêm văn nghệ cuối năm trường Marie Curie như mới hôm qua của hơn 40 năm về trước. Không biết đào ở đâu mà Duy có được hai giấy mời tham dự, nên “ưu ái” rủ tôi đi. Sau khi kết thúc, tôi và Duy chạy hai chiếc xe đạp theo sau ba chiếc xe đạp phía trước. Chắc cả ba cô nàng đã biết hai đứa tôi đang lẽo đẽo theo, nên gửi lại những nụ cười khúc khích sau lưng. Một trong ba, là người con gái tóc ngắn đã hát một ca khúc Pháp lừng lẫy một thời Sài Gòn của ca sĩ Françoise Hardy: “Tous Les Garçons et Les Filles” trong đêm văn nghệ cuối năm tối nay. Tôi đã từng nghe nhiều lần nhạc phẩm này qua tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Lan với lời Pháp lẫn Việt "Những Nụ Tình Xanh" – lời Việt của Phạm Duy. Nhưng đêm nay, tiếng hát ngây thơ trong trẻo, làn hơi mỏng ngọt, đôi lúc lạc giọng của cô nữ sinh trường Marie Curie đã thật sự chiếm trọn niềm xúc cảm của tôi. Khuôn mặt dài thánh thiện, có chút như lai tây, cô gái có đôi mắt to sâu vời vợi trong từng ca từ chuẩn ngữ cả Việt lẫn Pháp:
 
    Bao nhiêu uyên ương trong cơn yêu đương
    Đôi chân miên man hân hoan
    Lang thang giữa phố phường.
    Bao nhiêu duyên vui xuân xanh

Qua khỏi bùng binh ngả Sáu cổng xe lửa đường Lê Văn Duyệt là hướng về khu vực Chí Hòa. Cũng hơn 10 giờ đêm, đường vắng xe và ba cô gái đạp xe nhanh hơn. Tôi nói với Duy: “Theo mấy nàng cũng coi như đi hộ tống làm phước…” Nhiều lần tôi định vượt lên nói vài câu làm quen, không hiểu sao lại thôi. Chừng như có cái gì đó, giác quan thứ sáu cho tôi biết “bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu” (Chiều, Xuân Diệu). Đang lan man nghĩ ngợi, thì ba cô gái quẹo nhanh vào khu Chí Hòa. Mấy cây đèn đường ít hơn, ánh điện lưa thưa không in nổi mấy chiếc xe đạp trên đường. Duy và tôi cố bám gần hơn, đủ để nghe mấy tiếng nói cười nho nhỏ. Chợt phía trước hiện rõ một bờ tường cao, quanh đèn sáng tỏ. Cả ba cô nàng dừng trước chiếc cổng nhỏ bên hông chiếc cổng sắt cao, sừng sững trang nghiêm. Người con gái cao gầy, hát nhạc Pháp xuống xe, nói gì đó với hai bạn rồi quay lại ra dấu chào tạm biệt chúng tôi. Rồi nàng khuất sau chiếc cổng nhỏ khép lại, hai cô bạn cười đáp rồi đạp xe đi thẳng. Tất cả diễn ra khá nhanh, bất ngờ khiến cả tôi và Duy không kịp phản ứng gì. Khi định thần, tôi mới chợt thấy bên trên chiếc cổng sắt lớn có tấm bảng ghi: “Dòng Nữ Tu Bác Ái”.
    Nhiều buổi chiều sau đó, tôi đứng đợi trước cổng trường Marie Curie nhưng không tìm thấy người con gái cao gầy trong đám đông. Nhiều đêm sau đó, tôi ngồi lặng yên trước cánh cổng sắt nhà dòng, mong gặp lại nhưng vẫn "bóng chim tăm cá". Như thể tất cả không có thật. Như thể tất cả chỉ là một thoáng mơ qua... Đời người có biết bao nhiêu câu hỏi và rất ít câu trả lời. Người con gái hát đêm cuối năm hôm đó là một, mãi mãi chỉ là câu hỏi. Rồi đêm lại nối ngày, ngày trôi tuần tự trên mỗi số phận con người vạn ngả chia xa. Có ánh mắt, có nụ cười thánh thiện đó như giấc mơ có thật luôn hướng tôi về một niềm tin yêu vời vợi trên cao…
 
***
 
Thời gian không chờ nhau và khuôn mặt người con gái ngày nào, nay lờ mờ trong trí nhớ của tôi. Những bốn mươi năm, mà ngỡ chừng hôm qua. Càng cố nhớ, khuôn mặt, ánh mắt, nụ cười của nàng càng tan vỡ, khuất xa… Chỉ còn lại là tiếng hát, tiếng hát của ca khúc nhạc Pháp “Tous Les Garçons et Les Filles “, vẫn mãi vang vọng một đời không quên…
    Tiếng vỗ tay, dứt nhạc kéo tôi về thực tại. Bài hát nào rồi cũng dứt, khúc nhạc đời cũng thoáng chốc trôi xa. Kỷ niệm nào còn đó chút dư âm. Mùi hương người thánh thiện chưa bám phấn bụi đời. Tất cả sẽ về đâu giữa mênh mông cuộc đời hệ lụy. Như viên ngọc quý, tôi nâng niu từng kỷ niệm chợt có chợt không. Tiếng nhạc lại trổi lên, người thanh niên trẻ ôm chiếc đàn guitar ngồi xuống chiếc trên sân nhỏ nhỏ cuối quán. Đêm càng khuya khách càng đông, để lẫn lộn trong tiếng nói cười chung quanh, giọng hát trầm ấm, âm thổ đục vút cao:
 
    Si je t'oublie pendant le jour
    Je passe mes nuits à te maudire
    Et quand la lune se retire
    J'ai l'âme vide et le coeur lourd, lourd
 
Quyện đâu đó trong không gian quán nhỏ, đêm mùa đông chợt mới bắt đầu. Ngoài kia những ngọn đèn đường cũng như người ngủ muộn, bừng dậy từ một giấc mơ tiếc nuối giữa muôn trùng. Khúc hát của ai như đang réo gọi biết bao nỗi nhớ cùng tận ập về… Đêm ơi, xin hãy để những nốt nhạc đời trôi nhẹ, rơi mênh mông tình cờ trên môi người hữu hạn, cưu mang…
 

– Nguyễn Vĩnh Long

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.