Hôm nay,  

Những Đêm Lửa Trại Với Những Đồi Hoa Sim, Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà

23/06/202300:00:00(Xem: 3857)
hình chính _đêm lua trại
Đêm lửa trại hát với nhau.
 
Trên Việt Báo cách đây mấy tuần có đăng bài viết so sánh hai ca khúc Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài (Phạm Duy) và Cô Hàng Xóm (Lê Minh Bằng), làm nhóm bạn mê nhạc bolero của tôi phấn chấn quá! Có người nói rằng còn nhiều trường hợp nữa để chứng minh rằng nhạc sến phổ biến hơn nhạc Phạm Duy. Một so sánh khác nữa về hai bài nhạc, một Phạm Duy- một bolero, còn thú vị hơn nữa, đó là Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà của Phạm Duy và Những Đồi Hoa Sim của Dzũng Chinh.
 
Lời đề nghị này có lý! Bởi vì cả hai đều là ca khúc phổ từ cùng một bài thơ Màu Tím Hoa Sim của cố thi sĩ Hữu Loan. Và cả hai bài đều thuộc những ca khúc phổ biến vào bậc nhất của dòng nhạc bolero và nhạc Phạm Duy thời Miền Nam trước 1975.
 
Màu Tím Hoa Sim có thể xem là một tuyệt tác phẩm trong số khoảng 60 bài thơ của thi sĩ Hữu Loan. Đó cũng là bài thơ có lẽ được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc nhất. Theo ghi nhận, có ít nhất bốn bài nhạc đã phổ từ bài thơ này được ghi âm trước 1975: Những Đồi Hoa Sim của Dzũng Chinh; Chuyện Hoa Sim của Anh Bằng; ca nhạc sĩ Duy Khánh phổ nhạc và giữ nguyên tựa đề Màu Tím Hoa Sim; và Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà của Phạm Duy.
 
Có một giai thoại âm nhạc rất thú vị về thi sĩ Hữu Loan và ca khúc Những Đồi Hoa Sim được lưu truyền trên mạng xã hội. Trong một lần ghé thăm Sài Gòn sau năm 1975, tình cờ thi sĩ Hữu Loan nghe một người hành khất trên đường phố hát bài Những Đồi Hoa Sim. Ông dừng lại nghe, rồi yêu cầu người hành khất hát lại bài này thêm một lần nữa. Đó là lần đầu tiên ông được nghe bài thơ của mình được phổ nhạc! Ông ngấn lệ, móc hết số tiền nhỏ nhoi trong túi tặng cho người hành khất, nói với người này rằng ông chính là người đã sáng tác bài thơ trong ca khúc đó.
 
Có nhiều người cho rằng Màu Tím Hoa Sim là một trong những bài thơ tình hay nhất thế kỷ 20 của VIệt Nam. Thật ra, so sánh bài thơ tình nào là “hay nhất” cũng hơi khó. Nhưng những người Việt Nam yêu thi ca tiền chiến có thể dễ dàng đồng ý với nhau rằng bài thơ kể về một câu chuyện tình độc nhất vô nhị trong thời kháng chiến chống Pháp. Câu chuyện tình vừa lãng mạn, vừa bi hùng, không hề trùng lắp ý tưởng với bất cứ một bài thơ nào khác. Chàng đi kháng chiến, trở về với bộ đồ quân nhân, đôi giầy đinh bết bùn để làm lễ cưới với người yêu. Rồi trở về đơn vị để lại người vợ trẻ mới cưới. Nỗi lo sợ mình không về từ chiến trận lại thay bằng cái chết của người con gái hậu phương. Để rồi, trong những chiều hành quân ngang qua cánh đồi sim tím, người lính trẻ nhớ về người yêu đã khuất qua lời ca dao biến thể như một điệu ru buồn:

…Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chết sớm mẹ già chưa khâu…
 
Màu Tím Hoa Sim hay như vậy, nhưng do viết theo thể thơ mới, lại có nhiều biến thể nên rất ít người thuộc được bài thơ này. Có thể nói rằng hầu hết mọi người biết đến bài thơ là qua hai bài nhạc Những Đồi Hoa Sim và Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà. Xin ghi lại lời nhạc của hai ca khúc này:

nhung doi hoa sim
 
Những Đồi Hoa Sim (Dzũng Chinh, 1964)

Những đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt.
Vào chuyện ngày xưa nàng yêu hoa sim tím khi còn tóc búi vai.
Mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến.
Ai hẹn được ngày về rồi một chiều mây bay.
Từ nơi chiến trường Đông Bắc đó,
lần ghé về thăm xóm hoàng hôn tắt sau đồi.

Những chiều hành quân ôi những chiều hành quân tím chiều hoang biền biệt.
Một chiều rừng mưa được tin em gái mất chiếc thuyền như vỡ đôi.
Phút cuối không nghe được em nói,
không nhìn được một lần, dù một lần đơn sơ.
Để không chết người trai khói lửa
mà chết người em nhỏ hậu phương tuổi xuân thì.

Ôi ngày trở lại nhìn đồi sim nay vắng người em thơ.
Ôi đồi sim tím chạy xa tít lan dần theo bóng tối.
Xưa, xưa nói gì bên em
một người đi chưa về mà đành lỡ ước tơ duyên.
Nói, nói gì cho mây gió
Một rừng đầy hoa sim nên để chiều đi không hết.

Tím cả chiều hoang nay tím cả chiều hoang đến ngồi bên mộ nàng.
Từ dạo hợp hôn nàng không may áo cưới thoáng buồn trên nét mi.
Khói buốt bên hương tàn nghi ngút trên mộ đầy cỏ vàng
mà đường về thênh thang.
Đồi sim vẫn còn trong lối cũ.
Giờ thiếu người xưa ấy đồi hoang mới tiêu điều.

áo anh sứt chỉ đường tà
Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà (Phạm Duy-1971)

Nàng có ba người anh đi quân đội lâu rồi
Nàng có đôi người em, có em chưa biết nói
Tóc nàng hãy còn xanh, tóc nàng hãy còn xanh
Tôi là người chiến binh xa gia đình đi chiến đấu
Tôi yêu nàng như yêu người em gái tôi yêu
Người em gái tôi yêu  người em gái tôi yêu
Ngày hợp hôn, tôi mặc đồ hành quân
Bùn đồng quê bết đôi giày chiến sĩ
Tôi mới từ xa nơi đơn vị về (2)
Nàng cười vui bên anh chồng kỳ khôi
Thời loạn ly có ai cần áo cưới
Cưới vừa xong là tôi đi (2)
Từ chốn xa xôi nhớ về ái ngại
Lấy chồng chiến binh mấy người trở lại
Mà nhỡ khi mình không về
Thì thương người vợ bé bỏng chiều quê
Nhưng không chết người trai chiến sĩ

Mà chết người gái nhỏ miền xuôi
Nhưng không chết người trai chiến sĩ
Mà chết người gái nhỏ miền xuôi
Hỡi ôi! Hỡi ôi!
Tôi về không gặp nàng
Má ngồi bên mộ vàng
Chiếc bình hoa ngày cưới đã thành chiếc bình hương
Nhớ xưa em hiền hòa, áo anh em viền tà
Nhớ người yêu màu tím
Nhớ người yêu màu sim
Giờ phút lìa đời, chẳng được nói một lời
Chẳng được ngó mặt người
Nàng có ba người anh đi quân đội lâu rồi
Nàng có đôi người em, những em thơ sẽ lớn
Tóc nàng hãy còn xanh, tóc nàng hãy còn xanh
Ôi một chiều mưa rừng, nơi chiến trường Đông Bắc
Ba người anh được tin, người em gái thương đau
Và tin dữ đi mau, rồi tin cưới theo sau
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi sim, đồi tím hoa sim
Tím cả chiều hoang biền biệt
Rồi mùa thu trên những dòng sông
Những dòng sông, những dòng sông, làn gió thu sang
Gió gợn gợn trên mộ vàng
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đoàn quân, những đoàn quân, và tiếng quân ca
Có lời nào ru hời hời
À ơi, à ơi
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chết sớm, mẹ già chưa khâu
Những đồi sim, những đồi sim, đồi tím hoa sim
Đồi tím hoa sim, Đồi tím… hoa... sim…
 
Nói về kỹ thuật phổ thơ, bài Những Đồi Hoa Sim hầu như chỉ lấy ý chính từ bài thơ. Tác giả Dzũng Chinh chỉ kể lại câu chuyện tình của Hữu Loan bằng cách kể của riêng mình, cảm nhận của riêng mình. Trong khi đó, Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà đi sát với bài thơ hơn. Phạm Duy làm công việc giai điệu hóa bài thơ Màu Tím Hoa Sim; ý tứ thơ vẫn là của Hữu Loan.
 
Nói về cảm xúc, tôi muốn mượn một đêm hát lửa trại để nói đến cảm xúc của hai ca khúc này dành cho những người đàn, người hát.
 
Đối với tôi và một số người có tham gia phong trào hướng đạo, đàn và hát trong đêm lửa trại là một trải nghiệm nhiều cảm xúc đặc biệt, mà khi hát ở trên sân khấu hay trong thính phòng không thể có được. Đêm lửa trại thường diễn ra ở giữa khung cảnh núi rừng thiên nhiên. Khi đêm đã về khuya, mọi người hình như sống với cảm xúc nhiều hơn là lý trí. Ngồi quây quần quanh ánh lửa khuya bập bùng, mọi người như mở rộng tấm lòng hơn. Đó là lúc kỷ niệm, quá khứ trở về. Mọi người chia sẻ với nhau những câu chuyện đời đã qua đi, hát với nhau trong tinh thần hoài niệm. Đàn và hát lúc đó đúng là hát với con tim, với ký ức.
 
Hầu như không có đêm lửa trại nào của chúng tôi mà hai ca khúc Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà và Những Đồi Hoa Sim không được nhiều người cùng hát.
 
Có một lần, trong đêm lửa trại, những người hướng đạo trưởng niên ngồi kể cho nhau nghe chuyện đời lính của mình thời trai trẻ. Họ kể lại những chiều hành quân, những lần vào sinh ra tử, những lo toan và ước mơ của những người lính trong thời chiến. Trong đêm lửa trại đó, mọi người dường như thấm thía hơn khi hát hai ca khúc phổ thơ Màu Tím Hoa Sim.
 
Dzũng Chinh cũng là một người lính Cộng Hòa, cho nên dường như những người lính nghe và hát Những Đồi Hoa Sim với tâm sự của chính mình. Như đã nói, Dzũng Chinh như kể lại chuyện tình của Hữu Loan bằng cảm nhận của riêng mình. Trong điệu bolero, hình như cuộc chiến của Những Đồi Hoa Sim là cuộc chiến tranh Nam-Bắc chứ không phải là cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong ca khúc này, “một chiều rừng mưa” như một cơn mưa rừng miền Trung. “Những đồi hoa sim” giống như ở núi đồi Tây Nguyên, chứ không phải ở chiến trường Đông Bắc. Trong giai điệu bolero buồn, đầy tâm sự, những người lính Miền Nam như thấy thấp thoáng đâu đó chính mình trong câu chuyện kể “Những Đồi Hoa Sim”…
 
Còn với Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà, đó là một bản tình ca bi tráng của một thế hệ đi trước. Phạm Duy cũng như Hữu Loan đều từng là những chàng trai Bắc tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. “Những đồi sim”, “những dòng sông trong làn gió thu sang” là của núi rừng Tây Bắc. Phạm Duy đã biến bài thơ thành một câu chuyện kể bằng âm nhạc đầy kịch tính. Có những đoạn giai điệu thứ buồn trong tiết điệu chậm như kể lể. Có những đoạn giai điệu trưởng vui như trong ngày cưới rất vội của người lính. Và cũng chỉ với giai điệu, Phạm Duy như vẽ ra cảnh một đoàn quân đi qua những ngọn đồi phủ đầy hoa sim. Khúc quân hành hùng tráng bỗng dưng dìu dặt lại bằng một lời ru trong câu ca dao, khi có một người lính chợt nhớ về người vợ vừa mất ở hậu phương:  

…Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đoàn quân, những đoàn quân, và tiếng quân ca
Có lời nào ru hời hời
À ơi, à ơi
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chết sớm, mẹ già chưa khâu…

“Phù thủy âm nhạc” Phạm Duy là vậy đó!

Trong đêm lửa trại, khi những người lính kể lại chuyện đời chiến binh ngày xưa, họ hát và cảm nhận Những Đồi Hoa Sim, Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà theo tinh thần tri âm, tri kỷ. Không có nhạc sang hay nhạc sến; không phân biệt Dzũng Chinh hay Phạm Duy. Âm nhạc viết bằng trái tim sẽ ở mãi trong tim của những người có cùng tâm sự…

Doãn Hưng
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vào chiều Chủ Nhật cuối Tháng Sáu, khoảng hơn 400 khán giả đã ngồi chật khán phòng của Huntington Beach Central Library Theater để cổ vũ cho các tài năng âm nhạc trẻ gốc Việt trong chương trình nhạc Emê Concert 2, chủ đề “I Wish It So”.
Thỉnh thoảng có một ngày vui. Gặp nhau trong thân tình, được bày lộ nỗi lòng, nâng ly rượu giao hòa. Đó là buổi ra mắt tập thơ của Họa sĩ Khánh Trường. Chiều, của một ngày cuối cùng tháng Sáu, 2024. Trời Nam Cali mát dịu. Tôi và Kim đến rất đúng giờ nhưng phòng họp đã đầy chật bằng hữu. Tấm lòng yêu mến Khánh Trường quả là rõ thực. Tay này đa tài trên khắp nẻo, hội họa, văn chương, báo chí, cả ngang tàng một cõi thời trai trẻ. Bỗng đủ thứ bệnh tật đến rần rần như rủ nhau đi xem hội. Trên hai mươi năm nay ung thư thanh quản, hộc máu, tắt tiếng, đột quỵ, ngồi xe lăn, bại thận, mỗi tuần bị lụi kim, kim bự tổ chảng, vào người thay máu hai lần. Nhìn hai cổ/ cánh tay của Khánh Trường, từng đụn da thịt gồ lên thấp xuống, như cái dãy… Trường sơn thu nhỏ.
Nhà thơ Đỗ Quý Toàn nói về Khánh Trường-nhà thơ đã không quên nhắc lại “Khánh Trường là người làm được rất nhiều thứ, không những ông là họa sĩ, nhà thơ, mà ông viết văn rất hay. Tôi rất thích đọc truyện Khánh Trường. Nhưng điều tôi phục nhất là Khánh Trường của Hợp Lưu. Khánh Trường của nguyên tắc làm theo ý mình, trái ý thiên hạ. Người ta cho là anh ta phản kháng hay nổi loạn, nhưng theo tôi, KT chỉ làm cái gì mình cho là đúng, hay, phải làm. Tôi rất khâm phục.”
Ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng” là ca khúc thứ hai của nhạc sĩ Thanh Sơn, sau ca khúc “ Tình học sinh” ra đời năm 1962, song bị... chìm lĩm, chẳng một ai chú ý? Năm 1983, trả lời phỏng vấn của chương trình Paris By Night, nhạc sĩ Thanh Sơn kể về sự ra đời của ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng”, sau 20 năm ra đời, đã được hàng triệu người kể cả miền Bắc sau này ưa thích. Đó là vào năm 1953, ông học chung lớp với người bạn nữ tên là “Nguyễn Thị Hoa Phượng”, hè năm ấy, người bạn gái cùng gia đình chuyển về Sài Gòn, ông có hỏi cô bạn: “Nếu nhớ nhau mình sẽ làm sao?”, cô bạn mĩm cười trả lời đại ý là “ Cứ mỗi năm đến hè, nhớ đến nhau, anh cứ nhìn hoa phượng nở cho đỡ nhớ bởi tên em là Hoa Phượng...”, và đó cũng là “đề tài” mà ông ấp ủ để 10 năm sau, khi đó cô bạn gái ngày xưa chắc đã... vu qui rồi?
Không thể chối cãi, trong đầm không gì đẹp bằng sen. Đúng hơn nữa, trong đầm không gì thơm hơn sen. Nhưng vì sao sen lại mọc trong đầm bùn? Vì sao sen không mọc sánh vai cùng Cẩm Chướng, Mẫu Đơn, Hồng Nhung, Anh Đào, Thiên Điểu, Oải Hương, Hướng Dương, vân vân trong những vườn quyền quý cao sang, những nơi chưng bày lộng lẫy? Vì sao sen lại chọn ngâm mình trong nước hôi tanh? Vì sao trong tất cả loại sen, tôi lại quý sen hồng, trong khi đa số yêu sen trắng? Sen và bùn là một lý thuyết chính trị cần thiết cho Việt Nam hiện nay. Hoa sen phải mọc từ bùn, trong bùn. Không thể mọc ở những nơi không có bùn. Vì sao hoa sạch thơm phải mọc và sống từ nơi dơ thúi? Rồi sen phải vượt lên khỏi mặt nước mới nở được hoa đẹp, hoa thơm, nhưng vẫn cần có bùn để tồn tại. Một quá trình hiện thực, một ẩn dụ để tư duy.
Bộ phim Face Off 7: One Wish như đem lại một tín hiệu tốt lành rằng trong một xã hội Việt Nam ngày nay đang có quá nhiều điều nhiễu nhương, những nét đẹp truyền thống của văn hóa Việt Nam vẫn còn có chỗ để tồn tại…
Hồi nhỏ, tôi thường nghe cha tôi đọc hai câu ca dao này: “Còn cha gót đỏ như son, đến khi cha chết gót con đen sì.” Lúc ấy tôi chừng năm bảy tuổi, nên nghe rồi thuộc lòng mà không hiểu hết ý nghĩa, chỉ biết hời hợt là nếu cha chết thì mình sẽ khổ lắm! Nhưng ngay cả khổ ra sao thì cũng chẳng hình dung được. Câu ca dao nói trên cho thấy truyền thống ngày xưa, người cha đóng vai trò then chốt trong gia đình. Ông vừa là trụ cột kinh tế để nuôi gia đình, vừa là tấm gương đức hạnh để cho con cái noi theo. Đặc biệt là với truyền thống phụ hệ con cái mang họ cha, nên việc “nối dõi tông đường” đặt lên vai người con trai, hay người đàn ông. Đó có thể là yếu tố cấu thành quan niệm “trọng nam khinh nữ” ngày xưa tại các nước theo phụ hệ như Việt Nam, Trung Hoa, v.v…
Tháng 3/2022, Bến Bạch Đằng Saigon bị đổi tên thành “Ga Tàu Thủy Bạch Đằng”. Sự kiện này đã dẫn đến những tranh luận trong dân gian chung quanh đề tài: Ngôn ngữ Hà Nội (ngôn ngữ miền Bắc) đang làm mờ dần sắc thái đặc biệt của ngôn ngữ miền Nam Việt Nam...
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Điều tôi muốn nhắn nhủ với các thế hệ nam nữ thanh-niên trẻ là chúng ta phải sống làm sao cho đáng sống kiếp người. Nói theo ngôn ngữ của Lý Đông A, con người phải sống đủ 3 mặt là: Sống - Còn - Nối tiến hóa. Gói gọn là sống Nhân Chủ, dựa vào Nhân Bản, rồi Nhân Chính và Dân Chủ...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.