Hôm nay,  

Tổ hợp mì sợi

22/03/202319:33:00(Xem: 3017)
Truyện

alley-in-saigon

Sau khi công sản chiếm miền Nam Việt Nam họ chủ trương lùa dân thành phố đi kinh tế mới, một đề án to lớn mà rỗng tuếch vì không hề được đầu tư chuẩn bị. Bao nhiêu gia đình đã phải ra đi dù họ không hề mong muốn. Họ đập phá nhà cửa để lấy tôn, lấy gỗ hoặc là mang đến vùng kinh tế mới để cất lại nhà cửa, hoặc bán lấy tiền, nhà gỗ nhà tôn trở thành có giá trị hơn nhà xây gạch kiên cố vì còn lấy được những vật liệu. Nhưng dù là nhà loại nào cũng để lại thảm cảnh người đi rồi bỏ trơ lại căn nhà bị đập phá nham nhở, vách tường chênh vênh, nền hoang, sân lạnh. Trông thật đau lòng.

Người mừng vui chiến thắng! Người nhà cửa tan hoang!

Tại phường tôi cư ngụ hai cán bộ tuyên truyền đi đến từng hộ nhà dân để khuyến khích và thúc đẩy dân đi kinh tế mới. Hai cán bộ, một nam một nữ này đến nhà ai thì chủ nhà thường tìm cách lánh mặt không tiếp nên họ cứ đến rồi đi, rồi đến nữa, nên hầu như ai cũng quen mặt. Tôi cũng một lần phải tiếp khách không mời này. Họ là cán bộ kinh tế của phường, hai người thay phiên nhau ca ngợi về vùng kinh tế mới ở rừng lá Thuận Hải, sẽ có chuyến xe đưa đồng bào đi về vùng đất mới, đến đó lập nghiệp chúng ta sẽ khai hoang rừng thành ruộng đất tha hồ mà trồng lúa ngô, khoai sắn hay rau quả, rồi nuôi thêm gà vịt dần dần tiến lên heo, bò, chẳng bao lâu chúng ta sẽ làm giàu từ hai bàn tay trắng.

Anh cán bộ kết luận: Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

Tôi ngoan ngoãn lắng nghe họ thao thao nói những điều tốt đẹp về vùng đất mới, cứ nghĩ đến chuyện đốn cây rừng, phá bụi rậm gai góc, xẻ đất, cuốc xới trồng trọt là tôi đã kinh hồn hoảng vía, nhưng tôi không có công ăn việc làm, chồng lại là “lính nguỵ” đang đi “học tập cải tạo” thì họ chỉ muốn tống ra khỏi thành phố thôi. Tôi coi như số phận mình không thoát khỏi kinh tế mới nên tôi cố vớt vát may ra đời có chút gì vui. Kiên nhẫn đợi họ nói xong tôi mới e dè hỏi:

– Thế rừng lá có… đẹp không ạ?

Chị cán bộ tưởng cá đã cắn câu, chị ta vẽ vời thêm:

– Rừng lá đẹp lắm, có suối reo, có chim hót, nhà chị ở sẽ trồng giàn bầu, giàn bí… đời sống sẽ thanh thản êm đềm hơn hẳn ở thành phố.

Anh cán bộ nhấn mạnh:

– Chị đưa các con đi kinh tế mới thì chồng chị đang học tập cải tạo sẽ chóng về.

Tôi hứa liều:

– Vâng, để tôi suy nghĩ.

 

Tôi đã nghĩ về rừng đẹp như chị cán bộ diễn tả và như tôi từng mộng mơ thời con gái, nào biết rằng trong rừng ngoài suối reo chim hót còn có rắn rít muỗi mòng, có vắt và các loại côn trùng độc hại khác. Nhưng tôi biết làm gì trong khu rừng lá xa lạ ấy? chưa kể cái tội sợ ma nữa. Làm sao mà tôi sống ở trong rừng với 2 đứa con thơ được! May quá đúng lúc này thì tôi nghe tin từ người bạn quen có một nhóm người ở Xóm Mới đang thành lập tổ hợp mì sợi tại phường tôi, họ đã đăng ký và xin được giấy phép rồi chỉ cần thêm vài hội viên góp vốn để trả chi phí lắp đặt máy móc và thành hình. Tôi đã liên lạc được với anh Tình trưởng nhóm xin “một chân” trong tổ hợp và đồng ý góp cổ phần.

Thế là khi 2 cán bộ kinh tế mới ghé nhà tôi lần nữa để thúc giục tôi đăng ký đi kinh tế mới tôi đã tự tin trả lời:

– Tôi sắp đi làm trong tổ hợp mì sợi cũng là góp sức lao động sản xuất thực phẩm phục vụ đồng bào, xã hội. Bao giờ chồng tôi đi học tập về thì sẽ tính chuyện đi kinh tế mới sau.

Đó là năm 1978.


Hai tháng sau thì tổ hợp mì sợi bắt đầu hoạt động, địa điểm họ thuê là 2 căn nhà tôn trong khu gia binh cũ phá các vách ngăn ra cho rộng để làm nơi sản xuất, rất gần nhà tôi, đi bộ chừng 10 phút là tới. Tuy là từ căn nhà ở như hộ dân nhưng ở mặt tiền đường, treo bảng hiệu lên cũng đập vào mắt người ta “Tổ Hợp Mì Sợi Gia Công Phường10 Gò Vấp”. Bên trong tiếng máy chạy ầm ĩ (chắc vì máy cũ, phụ tùng dổm mới kêu to đến thế?) và tiếng nói cười của mười mấy công nhân mỗi ca cũng làm khối người mơ ước được vào làm tổ hợp như tôi.


Từ một cỗ máy cũ và mớ sắt hư vụn nào đó, anh Tình đã cải tiến thành cỗ máy làm mì sợi liên hoàn trông cũng oai lắm, đầu máy là thùng trộn bột đoạn giữa máy là cán bột và cuối cùng là máy cắt thành sợi mì. Nhân viên tổ hợp đa số là cư dân trong xóm chúng tôi chưa bao giờ biết làm mì sợi là gì. Khi thì tôi đứng chỗ máy cán bột khi thì tôi cắt mì và khi thì tôi vắt mì, hai bàn tay lả lướt đưa những vạt mì sợi chảy từ máy xuống nia xuống mẹt sao cho không bị rối để chốc nữa sẽ cho vào lò hấp, khi mì chín hoặc là sẽ giao mì sợi tươi hoặc là nắm thành từng vắt phơi khô giao cho tổ lương thực của phường tùy theo hợp đồng gia công. Làm vài ngày quen tay quen việc nên chẳng bao lâu ai cũng thành thạo dù đứng ở khâu nào. Tổ hợp mì sợi có 2 ca, ca sáng sớm đến chiều và ca chiều đến khuya. Ai cũng phải làm 2 ca, thay qua đổi lại cho công bằng.

Hồi ấy tôi còn trẻ vẫn còn mê ngủ, nếu tôi làm ca sáng thì có bác Mộc cùng làm và nhà bác gần nhà tôi là người đến gọi tôi dậy. Mỗi buổi sáng tờ mờ bác đứng trước cổng rào và gọi to mấy lần:


– Bông ơi là Bông! Dậy chưa?


Khi tôi giật mình thức giấc thì chắc rằng mấy nhà hàng xóm bên cạnh nhà tôi cũng thức giấc theo vì bác Mộc gào to quá. May là hàng xóm Việt Nam dễ tính và thông cảm không ai khiếu nại gì cả.

Lần nào tôi ra đến cổng cũng bị bác Mộc trách:


– Tao gọi mày như gọi đò sang sông!


Bác Mộc gốc dân Hà Nội, di cư từ 1954, trước 1975 gia đình bác là gia đình sang cả trong xóm, hai vợ chồng phong lưu dáng cậu mợ và đứa con gái duy nhất của bác từ bé đã hay diện áo đầm đi giày màu hồng xinh xắn thường làm tôi lúc bé đã ước ao và ghen tị. Tôi và con gái bác bằng tuổi nhau nên bác Mộc xem tôi như hàng con cái.


Từ khi bác trai mất đi gia đình bác sa sút, rồi biến cố 1975 lại càng thêm sa sút, bác Mộc gái phải ra chợ bán hàng nhưng bác vẫn “quý phái” kiểu Hà Thành, tóc vấn trần cài lược, áo trắng nõn, cổ đeo chuỗi hạt ngọc màu xanh dù bác Mộc ngồi bán xôi vò, chè, bánh trôi, bánh chay chình ình giữa chợ kẻ qua người lại và bụi rác ngổn ngang. Hôm nào hàng ế, bác bưng cả rổ bánh chay hay xôi vò đến nhà tôi bán tống bán táng giá “mão”  rẻ bèo bắt tôi mua bằng được. Bác bảo nhà mày em đông mua cho chúng nó ăn.


Bác cũng đóng tiền vào tổ hợp mì sợi cho yên thân, khỏi phải mỗi ngày nấu nướng chè bánh và bưng ra chợ bán nữa. Có bác Mộc ca chúng tôi vui nhộn hẳn lên vì bác hay thơ phú và kể chuyện tiếu lâm, chuyện tiếu lâm của bác thanh mà tục, tục mà thanh, ai cũng thích nghe. Có hôm bác ngâm thơ “Đồi thông hai mộ”:


Anh Đinh Lăng giờ đây đâu nhỉ?

Anh của em yêu quý nhất đời.

 

Có hôm bác trải chiếc chiếu xuống đất để mọi người ngồi vắt mì sợi thành từng nắm đem phơi khô, bác liền ngâm nga hai câu thơ, không biết là ca dao tục ngữ của dân gian hay do bác sáng chế ra:


Trải chiếu ra đôi ta nằm xuống,

Xong cuộc rồi ta cuộn chiếu lên.

 

Một bác gái khác vội phản đối:


– Ấy chết bác Mộc đừng ngâm thơ loại này nữa, ở đây có mấy đứa xa chồng đừng làm hư chúng nó.

Khi tôi đổi sang làm ca tối, tôi vốn nhát gan sợ ma thì có cô Tỵ làm cùng ca đưa về tận nhà vì nhà cô phải đi ngang nhà tôi. Một đêm khuya khi tôi và cô Tỵ  đang đi trong khu xóm đến nhà thờ tôi trông thấy một bóng người mặc áo khoác dài như áo mưa đang đứng nép mình vào góc cổng nhà thờ. Tôi sợ hãi vừa chạy nhanh vừa la to:


– Cô Tỵ ơi, có người! Có người!


Cô Tỵ cũng sợ vội chạy theo cho kịp tôi, khi hoàn hồn cô Tỵ nói:


– Bông ơi là Bông, sao em dại thế, bóng người ấy là kẻ gian đấy, đang đêm mà mặc áo khoác dài tới chân đi lang bang trong xóm là để rình mò nhà người ta thôi. Nó thấy mình nó sợ phải ẩn mình trong góc cổng nhà thờ mà Bông lại sợ nó thế mới ngược đời. Thằng kẻ cắp ấy được một phen tha hồ cười.


– Nhưng nó việc gì phải mặc áo khoác hay áo mưa thế hả cô Tỵ?


– Để không ai đoán ra hình dạng nó đấy mà.


– Lần sau em sẽ rút kinh nghiệm, nếu gặp nó chúng mình cứ hiên ngang đi qua mặt nó nhé.


Tuy nói thế nhưng trong thâm tâm tôi vẫn nghĩ cứ… chạy là tốt nhất, còn cô Tỵ có chạy hay không thì mặc cô ấy. Nghe chuyện này bác Mộc lại thân mến mắng tôi:


– Bông ơi, mày đi làm mà như công chúa đi chơi, sáng có người đến gọi đi, khuya có người đưa về tận nhà.


Tôi đi làm thì nhởn nhơ như vậy, em và con tôi lại hay đến tổ mì tìm tôi vì đủ những lý do. Chưa có ai đi làm mà thoải mái và “tiện nghi” như tôi. Cũng may vì từ tổ trưởng đến tổ viên của tổ hợp mì sợi toàn là người cùng chế độ cũ, cùng hoàn cảnh và là hàng xóm nên gần gũi và thông cảm nhau lắm.

Cô em gái áp úp tên Thoa lúc ấy trông coi thằng Bí con tôi mới lên 3 tuổi những khi tôi đi làm. Thằng Bí sinh tháng 8 năm 1975 vào cái năm lịch sử buồn của miền Nam Việt Nam. Mẹ tôi mới mất nên chị em tôi ở chung một nhà. Tôi là chị cả đầu đàn. Dì mới 12 tuổi đầu bế cháu vẹo cả sườn vì thằng bé mập mạp, đi bộ từ nhà đến tổ mì. Hai dì cháu nó đứng ngoài cửa sổ tổ mì nhìn vào trong, hễ thấy bóng tôi là cùng reo lên mừng rỡ rối rít như bắt gặp được vàng hoặc như ngàn trùng xa cách lâu lắm mới gặp lại nhau:


– Chị Bông ơi… chị ơi… chị ơi…


– Mẹ Bông ơi… mẹ ơi… mẹ ơi…


Tôi cũng mừng vui không kém nhưng phải tất tả chạy ra bên cửa sổ và giả bộ mắng em gái:


– Mày bế cháu đến đây làm gì?


– Thằng Bí khóc đòi gặp mẹ, em bế nó đến đây chơi cho nó vui.


– Chỗ người ta làm việc chứ có phải công viên đâu mà chơi cho vui.


Thằng Bí nào hiểu chỗ làm việc là gì, cứ đòi hỏi:


– Mẹ về nhà đi, mẹ bế con đi.


– Còn lâu mẹ mới về.


Thoa nhanh nhẩu:


– Em với thằng Bí chơi ở ngoài sân đợi chị về luôn.


Thế là tôi vừa làm việc vừa thỉnh thoảng trông thấy con và em mình lấp ló ở khung cửa sổ. Khi nào rảnh tay tôi lại chạy ra cửa sổ để mỉm cười với chúng nó, như muốn nói với thằng con bé bỏng rằng “Con ơi, mẹ vẫn ở bên con nè”. Thoa bế thằng Bí đến tổ mì thường xuyên như cơm bữa, đến chơi vớ vẩn hoặc có lý do đàng hoàng. Có hôm Thoa bế cháu đến, tôi lại hiện ra ở khung cửa sổ tổ mì để “giao lưu” với em mình, chưa kịp hỏi thì Thoa đã nghiêm trọng nói:


– Chị Bông ơi, thằng phường đội vừa đến nhà mình hỏi anh Thủy đâu? Em nói là đi học lâu lắm mới về.


Con bé thông minh và khôn ngoan lắm dù chỉ là nghe hóng mà đã hiểu chuyện, nó biết là thằng phường đội đến nhà nào là đưa giấy báo “trúng tuyển nghĩa vụ quân sự” cho nhà nấy, nên nhà nào có con trai đến tuổi lính rất lo sợ thằng phường đội ghé nhà. Tôi dặn Thoa:


– Trưa nay Thủy về thì em nói Thủy ăn cơm xong đạp xe lên Hàng Xanh nhà bác Châu tạm trú vài ngày nhé, thằng phường đội sẽ đến vài lần nữa không gặp Thủy để giao giấy báo “trúng tuyển” thì cũng qua đợt giao quân nghĩa vụ quân sự, là Thủy sẽ thoát được đợt này.


Thế là tuy tôi đi làm nhưng vẫn “chỉ huy” và “điều hành” được công việc ở nhà.


Thời sau 1975 nhà nào có con em bị nhận giấy “trúng tuyển nghĩa vụ quân sự” cũng đau khổ như nhận giấy báo tử. Tôi quen một gia đình ở Xóm Mới, bà cho thằng con trai và đứa cháu ngoại đi vượt biên bị chết biển mà bà khóc thương thằng cháu ngoại vật vã hơn là thương thằng con trai. Hỏi ra thì bà giải thích:


– Thằng con trai tôi bị gọi đi “nghĩa vụ quân sự” thì coi như trước sau gì cũng chết, chỉ thương thằng cháu ngoại ngây thơ vô tội.


Rồi bà Bắc kỳ di cư ở Xóm Mới đay nghiến:


– Tiên sư cha chúng nó, chúng bắt buộc thanh niên đi bộ đội mà còn giả nhân giả nghĩa, láo khoét và mồm mép gọi là  “trúng tuyển” làm như khó khăn lắm, cạnh tranh lắm và vinh dự lắm mới được đi. Con ông cháu cha chúng nó chẳng đứa nào được “trúng tuyển” cả, mà toàn đi du học hay lao động Đông Âu, Liên Xô đua nhau gởi hàng hóa về Việt Nam như đi buôn hay chúng nó làm việc trong nước thì cũng là ăn trên ngồi trốc thiên hạ, nhà cửa mình chúng chiếm, công việc ngon chúng hưởng.


Có hôm thì Thoa có lý do khác khi bồng bế cháu đến tổ mì gặp tôi:


– Chị Bông ơi, sổ mua chất đốt để ở đâu để em nộp cho tổ trưởng tổ dân phố ngày mai mua dầu hôi.


– Vẫn trong kệ sách đấy.


Cái kệ sách màu nâu yêu quý của tôi, cái kệ sách mà tôi đã thuê bác Tùng thợ mộc trong xóm đóng theo đúng kiểu tôi vẽ ra, kê ngoài phòng khách không còn thuần túy là sách nữa vì tôi đã phải đốt hay vứt đi khá nhiều những cuốn không thích hợp với chế độ mới nếu không muốn bị kết tội “tàng trữ văn hóa phẩm phản động và đồi truỵ”, nên kệ sách lỏng le, đựng đủ thứ lặt vặt trời ơi đất hỡi, không biết Thoa có bới tìm ra cuốn sổ chất đốt không, hay lại chạy ra tổ mì hỏi tôi lần nữa.

Hôm thì Thoa đến để bàn chuyện ăn uống:


– Sáng mai đến lượt tổ mình được mua bánh mì tổ. Mai chị đừng làm món mì sợi hấp chấm xì dầu nữa nhé, em ngán lắm.


– Chị cũng ngán nói chi em. Thôi để hôm nào lãnh lương chị sẽ nấu một nồi xúp xương chan mì sợi rắc hành ngò tiêu ớt vào ăn ngon lắm.


Thoa tươi nét mặt, háo hức nhưng thắc mắc:


– Em cũng thích ăn mì sợi có chan nước lèo như thế, nhưng mà có thịt không?


Tôi trả lời nước đôi, nó muốn hiểu sao thì hiểu:


– Chị không chắc là xếp hàng chen lấn nổi với người ta để mua thịt heo theo sổ đâu, mà mua thịt chợ đen thì đắt lắm.


Ôi, tôi chán làm sao cảnh xếp hàng mua thịt ở ngoài chợ, cả một đám đông các bà các cô dù ở nhà thanh lịch cỡ nào đến đây cũng hơn thua, xô đẩy chen lấn, cũng bu đen bu đỏ quanh phản thịt như đàn kiến bu quanh hũ đường nhưng tay vẫn cầm chặt cuốn “Sổ thực phẩm” như cầm một báu vật không thể đánh rơi đánh mất, người đứng vòng ngoài không thể nào nhìn thấy mặt mũi miếng thịt. Thấy mặt mũi cô bán thịt cũng khó như thấy dung nhan thủ trưởng cơ quan nào đó. Cô hàng thịt cắt thịt thoăn thoắt và cũng thoăn thoắt thảy miếng thịt lên bàn cân, cái cân còn nghiêng ngửa, chông chênh chưa ồn định thì cô đã nhanh tay lấy thịt ra đưa cho khách hàng mà ai cũng hiểu là miếng thịt ấy cân non chưa đủ số lượng, nhưng vẫn “hồ hởi” nhận miếng thịt để thoát ra khỏi vòng vây còn hơn là khiếu nại đã không được giải quyết còn bị cô hàng thịt sưng xỉa, cửa quyền và chảnh chọe: “Nếu không muốn thì trả lại thịt đây”.Hoặc cô lườm nguýt mắng cho: “ Chỉ làm mất thì giờ của đám đông tập thể bà con”.


Cô đã lấy danh nghĩa “tập thể” ra đe dọa là quan trọng lắm, không ai dám giằng co với cô thêm nữa. Mỗi ngày bán hàng xong ít ra cô hàng thịt cũng kiếm được mấy ký thịt “thặng dư” mang về nhà. Đấy là cảnh chợ búa, tại các cơ quan cũng “phàm phu tục tử” chẳng kém. Khi mà Việt cộng chơi trò quản lý bao tử, làm con người thiếu thốn đói khát thì con người bỗng trở nên thực tế, tầm thường và có cả hèn mọn. Bạn tôi là giáo viên kể rằng mỗi khi mua thịt heo định kỳ các giáo viên lên văn phòng để chia chác mỗi người nửa ký, có những ganh tị, bất đồng và tranh dành vì miếng thịt này không ngon bằng miếng thịt kia.


Nếu các học trò mà chứng kiến được cảnh này thì không biết hình ảnh thầy cô giáo của chúng có còn đáng trân trọng nữa không? Tan trường giáo viên ra về với miếng thịt heo buộc dây treo lủng lẳng ở tay lái xe đạp đã là một ngày hoan hỉ. Nét mặt Thoa lại ỉu xìu đưa tôi thoát dòng suy nghĩ, về với thực tế:

– Nhưng chị ơi, ngày mai món bánh mì tổ ăn với chuối hay hấp mỡ hành ăn với rau sống chấm nước mắm em cũng ngán luôn. Chị mua trứng về tráng ăn với bánh mì nhé? “Bánh mì tổ” khác với bánh mì ngoài chợ đen, vì vừa cứng vừa dở, bánh để nguội, để cũ là cứng như đá, ném ai chắc cũng chảy máu đầu hay gây thương tích… trầm trọng!

Tôi gắt lên:


– Chưa biết, mai ăn thì mai tính.


Thời buổi xã hội chủ nghĩa, thực phẩm bán theo quy chế, hạn chế mỗi đầu người, ngoài phần gạo ít ỏi theo tiêu chuẩn mà gạo thì đầy bông cỏ và sạn, họ còn bán kèm theo mì sợi, bột mì, hay khoai lang, khoai mì, hạt bo bo. Đến nhà nào cũng thấy ông già bà cả hay trẻ con ngồi trước cái mâm trải gạo mỏng ra để nhặt sạn hay bông cỏ trước khi nấu cơm. Thế mà có khi vẫn còn sót, nhiều người đang nhai cơm vấp phải hạt sạn tế tái cả răng và tê tái cả cõi lòng.


Thoa nhà tôi thích công việc nhàn hạ này, nó thường ao ước:


– Cầu trời khi lớn lên ai thuê em làm công việc nhặt bông cỏ và sạn gạo.


Tôi rên rỉ:


– Thoa ơi, tới lúc ấy mà vẫn phải ăn loại gạo xấu kém chất lượng này sao! Em phải cầu trời là mai mốt không phải làm công việc nhặt sạn và bông cỏ gạo nữa nhé.


Ngoài ra còn những “công việc” như nay đi xếp hàng mua nước mắm hay mớ cá ươn ở “Cửa hàng thủy hải sản”, mai xếp hàng mua bó rau gìa qủa héo từ “Cửa hàng rau qủa”. Biết là hàng không ngon kém chất lượng nhưng vì gía rẻ hơn gía chợ đen nên người ta vẫn chen lấn chờ đợi để mua cho bằng được. Mốt lại cũng xếp hàng, mua nhu yếu phẩm tại “Cửa hàng bách hóa tổng hợp”, gồm mấy gói thuốc lá Hoa Mai hay Đà  Lạt ( dù nhà có hút hay không họ vẫn cứ bán theo tiêu chuẩn) một dúm bột ngọt, nửa ký đường v.v... Thế là phát sinh ra “nghề” mua đi bán lại hàng nhu yếu phẩm. Người mua đứng xếp hàng trước cửa hàng bách hóa thì mấy con buôn đứng luẩn quẩn gần đó, mua hàng ra bán ngay tại chỗ, tiền trao cháo múc vô cùng nhanh chóng và thuận lợi. Đã gọi là “nhu yếu phẩm” thì nhà nào chẳng cần dùng, tiêu chuẩn ít ỏi chưa đủ dùng, nhưng vì thiếu thốn, vì cần tiền nên phải nhịn dùng để bán đi lấy tiền chi tiêu cho chuyện khác cần kíp hơn.


“Cửa hàng bách hóa tổng hợp” cái tên nghe to lớn và lộng lẫy thế mà hàng hoá chỉ lèo tèo và đơn điệu bày trên kệ, những món mà không ai muốn mua vì vừa đắt vừa không cần thiết, món nào có giá thì các cô nhân viên bán hàng chỉ bán ra một ít lấy lệ còn thì các cô chia nhau mua và tuồn ra chợ đen kiếm lời. Tóm lại các nhân viên bán hàng cho các cửa hàng nhà nước vừa ăn chận của dân vừa ăn hiếp dân, không cần biết lịch sự là gì. Xã hội chủ nghĩa đã tạo ra những loại người ấy.


Ấy là chưa kể thỉnh thoảng còn phải đi họp tổ dân phố, nhiều nhà “phái” cha mẹ gìa, tai điếc, mắt mờ hay con trẻ, tuổi vị thành niên đi họp, hiểu được nội dung cuộc họp hay không? Không thành vấn đề, miễn là …có mặt., để khỏi bị tổ dân phố phê bình kiểm điểm.


Ông già bà cả và trẻ con thật là hữu ích. Thành ra sống dưới xã hội chủ nghĩa ai cũng bận rộn và có việc làm cả ngày. Ban đầu nghe danh từ “hạt bo bo” tôi hí hửng tưởng hạt bo bo tôi thường ăn trong ly sâm bổ lượng ngày xưa, vừa trắng vừa mềm vừa bùi bùi. Nhưng hoá ra là hạt bo bo khác, bo bo màu vàng ngà ngà, nếu chà vỏ rồi còn đỡ cứng, chưa chà vỏ thì hạt bo bo vừa dai vừa cứng là nguyên nhân chính đưa đến sau này nhiều người dân thành phố miền Nam bị bệnh đau bao tử. Nhưng cũng… nhờ hạt bo bo mà dân chúng có thêm nghề mới nữa là máy chà vỏ hạt bo bo và  máy xay hạt bo bo cho vỡ nhỏ ra. Trong cái khó ló ra cái khôn để mà sống.


Nghe đồn món bo bo này của đất nước xã hội chủ nghĩa anh em nào đó vốn là thực phẩm nuôi ngựa, trâu, bò của nước họ, viện trợ cho Việt Nam dùng làm thực phẩm cho con người. Hàng xóm đua nhau chế biến các sản phẩm thay cho lương thực lúa gạo ấy, nhà nọ bắt chước nhà kia. Món bột mì tôi cũng chế biến thành bánh canh nước dừa, nhồi bột, cán mỏng cắt sợi làm bánh canh và nấu với nước cốt dừa nêm mắm muối bột ngọt. Món mì sợi thì hấp vào nồi cơm mang ra chấm xì dầu hay nước mắm tỏi ớt. Khoai lang, khoai mì thì luộc ăn chơi ngao ngán đến điêu đứng, ăn không hết, khoai lang bị sùng thì đem gọt vỏ phơi khô bán cho mấy người nuôi heo vớt vát được đồng nào hay đồng ấy. Còn món bo bo chỉ có nước chà vỏ, xay nhỏ rồi độn vào gạo nấu thành cơm.

 

Một hôm tổ hợp mì sợi long trọng tổ chức liên hoan để đón tiếp ông phó chủ tịch đặc trách kinh tế của phường đến tham quan và có buổi họp cực kỳ quan trọng, tất cả công nhân không làm việc để tham dự buổi họp này. Ông phó chủ tịch diễn thuyết một hồi lâu và đưa ra những ý tưởng mà ông hớn hở cho là sẽ thành hiện thực không xa:


– Nay mai tổ hợp mì sợi của chúng ta sẽ tiến xa hơn, sẽ phục vụ nhu cầu của nhân dân nhiều hơn, thành nhà máy sản xuất mì sợi chứ không phải trong căn nhà tuyềnh toàng như thế này, sẽ có nhà ăn cho công nhân viên, sẽ có nhà trẻ cho con em công nhân viên và những quy chế phúc lợi khác nữa.


Sau buổi họp của ông phó phường ai cũng phấn khởi. Tôi thì lo xa nếu tổ hợp mì sợi biến thành nhà máy thì 2 dì cháu Thoa và thằng Bí hết còn chỗ đến đây chơi và gặp tôi, vì nhà máy sẽ có cổng rào, có nhân viên bảo vệ, ai cho dì cháu nó bồng bế nhau vào được? Một chị bạn hiểu ý tôi, an ủi:

– Đừng lo nhé Bông, lúc ấy mày sẽ gởi thằng Bí vào nhà trẻ trong khu nhà máy càng gần con chứ sao.


Nghĩ tới điều đó tôi mừng vui hết lo buồn nữa, tôi tưởng tượng giờ nghỉ trưa sẽ sang khu nhà trẻ thăm con, chiều tan ca tôi bế nó về. Nhưng bác Mộc đã thức tỉnh giấc mơ của tôi:


– Bông ơi, mày tin gì lũ Việt cộng hả? chúng nó nói thì như thánh như thần. Đơn gỉan ai cũng hiểu là bột mì ở đâu ra để nhà máy sản xuất mì sợi chứ? nước Việt Nam mình đâu có trồng lúa mì, chỉ đang nhận viện trợ lúa mì khẩn cấp từ nước Nga trong thời gian khó khăn này thôi, mai kia mốt nọ Nga Xô hết viện trợ thì tổ hợp mì sợi cũng đóng cửa chứ đừng nói nhà máy to tướng trong tương lai.. Với lại dân mình dùng lương thực chủ yếu là gạo chứ có phải mì sợi đâu. Chúng ta cứ  làm việc được tới đâu hay tới đó còn hơn là ngồi không ở nhà bị gọi đi làm thủy lợi không công cho nhà nước, để chúng nó bóc lột sức lao động của mình..


Mỗi lần họp tổ dân phố mà phổ biến tin đi làm thủy lợi, ai rảnh rang không có công ăn việc làm như tôi là lo âu hồi hộp vì mình sẽ  được “ưu tiên” đi trước. Làm thủy lợi là đào đất ven bờ hay đào vét trong lòng kinh, lòng rạch cho kinh rạch thông thương xuôi chảy. Công việc bẩn thỉu, nặng nhọc và vất vả vì tất cả công đoạn đều làm bằng tay chân cuốc xẻng, bằng sức người, nên chẳng ai muốn đi.

Tôi đã một lần đi làm thủy lợi tại xã Bình Mỹ A thuộc Củ Chi ráp ranh với Hốc Môn, quần sắn cao lên, lội xuống con kinh đầy bùn rác hôi hám. Một dãy người cũng tư thế như tôi đứng xếp hàng cạnh nhau để chuyền tay nhau những cục đất vừa đào xới lên ở đầu kia. Tôi là người đứng cuối cùng ở đầu này.

Khi cục đất đến tay tôi, thay vì phải chụp nhanh và quăng lên bờ thì tôi chợt rụng rời khi nhìn thấy mấy đầu con giun đang lòng thòng ngọ nguậy nên không đỡ cục đất mà họ đã tốn bao công phu từ người đào lên đến qua tay hơn chục người. Cục đất rơi xuống lòng kinh, thế là toi công còn tôi thì vẫn bàng hoàng sợ hãi mấy con giun đất và tủi thân đứng khóc giữa lòng con kinh dơ bẩn của xứ Củ Chi.

Tôi cũng mấy lần nghe tin đồn là bột mì viện trợ đến từ nước Nga, chẳng biết họ lấy thông tin từ đâu, nhưng 1 cô bạn tôi là  nhân viên cửa hàng lương thực quận đã cả quyết thế vì cô thấy bao đựng bột mì ghi chữ Nga ở bên ngoài.


Tôi vặn vẹo hỏi bạn:


– Mày có biết chữ Nga bao giờ đâu. Đoán mò hả?


– Thì cứ thấy dòng chữ có mẫu tự nào viết ngược là tiếng Nga, cần gì phải đoán cho mất công.


Đúng thế, người ta kể rằng những người đi vượt biển ra khơi thấy tàu có chữ nào ngược là tàu Nga thì tránh cho xa không đến gần, nó không cứu mà còn bắt giao cho đàn em xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nó. Lời bác Mộc thật có lý, một người lớn tuổi giàu kinh nghiệm đời và nhất là kinh nghiệm cộng sản từ ngày xưa ngoài Bắc. Bác Mộc đã than thở:


– Tôi phải bỏ “bác Hồ” từ Bắc chạy vào Nam mà “bác” không tha còn đuổi theo.


Tôi lại có cái lo khác, sợ tổ hợp mì sợi hết bột làm và đóng cửa ngang xương khi tôi lãnh lương chưa đủ gỡ lại vốn liếng đã đóng góp cổ phần. Ở xóm tôi cũng như nhiều xóm khác mấy đàn bà con gái loại vô công rỗi nghề đang lao động làm công việc đan mây tre lá mà họ đùa vui gọi vắn tắt là nghề “xỏ lá”. Ngồi gù lưng cả ngày, nhà cửa bề bộn mây tre để đan thành những cái rổ, cái khay, v.v… gia công cho tổ hợp, món hàng rẻ tiền nên công cán chẳng là bao.


Chị hàng xóm khoe với tôi:


– Nay mai tổ hợp mây tre lá sẽ xuất khẩu hàng thủ công ra nước ngoài mang lại công ăn việc làm dồi dào cho chị em, làm không hết việc, nâng cao thu nhập.


Trời! Chắc tổ hợp mây tre lá này cũng đã được ông phó chủ tịch phường đến tham quan và hứa hẹn những lời bay bổng như ông đã nói với tổ hợp mì sợi chúng tôi sau khi đã nhận những phong bì và ăn uống liên hoan chiêu đãi. Tính tôi không kiên nhẫn, ngồi xỏ lá thì thế nào lá cũng đâm vào tay làm đứt tay chảy máu. Hay là tôi sẽ mua 1 cái máy se cói về se cói gia công? Không xong, món này cũng bừa bộn nhà cửa lắm, con tôi đi qua đi lại thế nào cũng vấp ngã, tội nghiệp nó! Hay là mua cái máy chà gạo gia công cho hàng xóm vì nhà cha mẹ tôi ngay mặt tiền đường dễ mở tiệm ? Cũng không thích, vì bụi cám làm bẩn nhà và hít bụi vào làm hại phổi, tôi chết sớm ai nuôi con tôi trong khi chồng đi tù tội chưa biết ngày về?


Tôi thật sự chán nản khi nghĩ đến những “ngành nghề” ấy.


Sự lo xa của tôi không vô lý và lời phán đoán của bác Mộc càng có lý. Tổ hợp mì sợi của tôi làm việc được hơn 1 năm thì bắt đầu sa sút vì thiếu bột mì, tổ lương thực phường không có bột để nhờ tổ mì chế biến gia công nữa. Bác Mộc thở dài dạy cho tôi một bài học:


– Mày thấy chưa? chớ bao giờ tin lũ chúng nó. Thử hỏi bột mì ở đâu ra mà chúng nó cấp giấy phép lu bù cho người ta đua nhau mở tổ hợp sản xuất mì sợi khắp quận Gò Vấp này và những quận huyện khác trong thành phố để bây giờ cùng chết yểu, chết chùm cả lũ?


Tôi thật sự ngưỡng mộ sự hiểu biết khôn ngoan của bác Mộc nên lo lắng hỏi sang chuyện khác với vẻ tin cậy hết lòng:


– Bác Mộc ơi, thế họ nói mấy ông sĩ quan đi trình diện “học tập cải tạo” 10 ngày sẽ về mà nay đã hơn 4 năm rồi. Vậy bác biết bao giờ về không?


– Mày đã trồng cây mít bao giờ chưa? Ba năm mít mới có quả, thì cứ từ hai lần cái 3 năm ấy trở lên may ra chồng mày mới được tha về.


Tôi chán nản:


– Nghĩa là bình quân từ 6 năm và hơn nữa hở bác? hở trời?


Cuối cùng thì tổ hợp mì sợi chính thức đóng cửa khi tôi chưa thu hồi đủ vốn đã đóng góp  đúng như tôi đã lo ngại. Anh Tình tổ trưởng chỉ biết hứa hẹn an ủi mọi người:


– Bao giờ tôi bán được cái máy làm mì sợi liên hoàn kia sẽ bồi thường lại các tổ viên mỗi người một ít.


– Nhưng thời buổi này bột mì khan hiếm ai mua máy về làm gì hở anh?


Anh Tình chán nản:


– Thì đành bán đống sắt vụn như từ lúc nó chưa thành hình cái máy liên hoàn mì sợi này.


Ối giời ôi, không biết lúc này ông phó phường đặc trách về kinh tế, người đã nhận mấy lần phong bì của anh Tình tổ trưởng từ lúc bắt đầu đăng ký xin thành lập tổ mì đến khi đi vào hoạt động, người đã mấy lần ăn liên hoan phủ phê với tổ mì, đã đến tham quan và tổ chức buổi họp quan trọng với tổ mì sợi của chúng tôi có còn nhớ những lời phát biểu vàng ngọc “vô gía” của ông không? Tổ hợp mì sợi sẽ tiến lên thành nhà máy mì sợi. Bây giờ cái máy liên hoàn làm mì sợi cũng đang thành đống sắt vụn “vô giá” nằm chơ vơ chờ rỉ sét kia kìa. Nhà máy sản xuất mì sợi trong tương lai của ông phó phường chỉ là một hồn ma bóng quế không bao giờ là thật.


Những ngày nghỉ ở nhà tôi chưa biết làm gì vì vẫn thấp thỏm “canh chừng” tổ hợp mì sợi với hi vọng biết đâu nước Nga lại thương tình mà viện trợ bột mì cho Việt Nam một lần nữa thì tôi lại có công ăn việc làm. Hoặc là cái máy làm mì sợi liên hoàn kia bán được thì tôi cũng sẽ được chia ít tiền. Tình trạng tổ mì của tôi sống dở chết dở chỉ là chuyện nhỏ. Nông trường Lê Minh Xuân huyện Bình Chánh trồng trái thơm do thanh niên xung phong  đổ bao nhiêu mồ hôi công sức cuốc đất và trồng trọt mới là chuyện lớn. Kế hoạch nhà nước đưa ra hô hào thanh niên xung phong trồng thơm để sản xuất đã thất bại não nề.

 

Thơm tới mùa thu hoạch, cả nông trường thơm chín vàng mà không có nơi tiêu thụ, đóng hộp xuất khẩu thì còn non kém làm sao kiếm ra khách hàng, bán trong nội địa càng ế ẩm vì thơm tươi ngon đầy rẫy, người ta mắc mớ gì phải mua thơm đóng hộp vừa kém phẩm chất vừa đắt tiền. Thế là trái thơm tuôn ào ào ra khắp các chợ búa lớn nhỏ trong thành phố, đi đâu cũng thấy một trời màu vàng của trái thơm đập vào mắt. Loại thơm trái nhỏ tròn này mùi thơm và ngọt rất xứng đáng mang tên “Thơm”, thơm bán trên quầy, bên lề đường, hè phố, và vỏ thơm thì ngập ngụa trương sình khắp các chợ tha hồ cho ruồi bu kiến đậu.


Chưa hết, chắc thơm thu hoạch còn ứ đọng nhiều tại nông trường Lê Minh Xuân nếu không mau thanh toán thì sẽ hư thối nên các anh em thanh niên xung phong mặc đồng phục, đội mũ tai bèo, chân đi dép râu cũng rời nông trường về phố xá đẩy những xe ba gác đi bán thơm vào tận hang cùng ngõ hẻm trong các xóm lao động. Chưa bao giờ dân thành phố được ăn trái thơm với gía rẻ bèo đến thế.


Tôi mua thơm và hỏi chuyện hai thanh niên xung phong rất trẻ. Hào khí tuổi trẻ của bao nhiêu thanh niên nam nữ đã bị người ta bóc lột và tận dụng không thương tiếc tại những nông trường và những lâm trường hoang vu cách xa thành phố, thiếu thốn ngay cả những tiện nghi tối thiểu nhất của đời thường. Nhiều người bị bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng, vàng da sốt rét kinh niên.


Ở xóm tôi có một anh đi thanh niên xung phong bị chết thảm khốc tại một lâm trường khi đang đốn chặt tre nứa. Thay vì phạt con dao vào gốc nứa sao cho phần gốc chặt ra ngã đổ về phía trước thì anh đã vụng về hay sơ ý làm phần gốc cây nứa ngã ngược lại, đầu nứa vừa chặt nhọn hoắt đã  theo đà đổ nhào thật mạnh của thân cây đâm phập vào bụng anh lòi cả ruột gan.


Một hôm tôi gặp chị Đình gánh nước mắm đi bán ngang nhà liền gọi vào mua nước mắm và hỏi chuyện vì Đình là em ruột anh Tình tổ trưởng tổ hợp mì sợi của tôi. Trong thời gian đầu thành lập tổ hợp mì sợi Đình đã theo phụ tá ông anh rất đắc lực nên chúng tôi đều quen biết Đình. Chị chạc bằng tuổi tôi. Đình vừa đong nước mắm cho tôi vừa khoe:

– Tớ bán nước mắm mà sắm được xe gắn máy cho chồng dễ như chơi, đằng ấy muốn vào nghề không tớ bỏ mối nước mắm cho?


Mắt tôi sáng lên vì ham lời:


– Muốn chứ, bán nước mắm dễ không Đình?


– Thì chịu khó gánh đi rong phắp nơi thôi, tớ gánh từ Xóm Mới qua An Nhơn xuống vùng Hạnh Thông Tây rồi vòng về Xóm Mới là hết vèo 2 can nước mắm tiền nhét đầy túi.


Tôi than thở:


– Sao gánh đi xa thế! Mà tôi chưa biết gánh bao giờ.


– Chứ ngồi một chỗ thì bán cho ai? Mình đi tìm khách hàng chứ khách hàng nào đi tìm mình.


– Nước mắm Đình lấy từ hãng nào?


Đình thuộc loại người vừa láu táu vừa thật thà, chị nhìn tôi ngạc nhiên và thương hại:


– Cần gì hãng nào hả giời! Sao đằng ấy ngây ngô thế! Tớ chế ra đấy, chỉ cần một ít nước mắm thật còn bao nhiêu là nước muối và nước lã nấu với lá chuối khô cho có màu đẹp như màu nước mắm là thành sản phẩm.


Tôi thảng thốt kêu lên:


– Người ta ăn vào ngộ độc hay đau bụng thì sao?


Đình thản nhiên:


– Đã có “Xuyên tâm liên” trị đủ thứ bệnh mà. Nhưng đằng ấy đừng lo, lá chuối khô lành lắm, gói bánh gai thơm ngon đến nỗi chỉ ngửi mùi lá chuối khô đã thèm ăn bánh gai rồi, tớ chưa nghe ai ăn nước mắm của tớ than đau bệnh gì cả.


Tôi hiểu ý Đình, đi khám bệnh ở phường ở quận thì dù bệnh gì người ta cũng bán cho bằng được loại thuốc dân tộc tên “Xuyên Tâm Liên” kèm vào, nên ai cũng thuộc tên cũng biết mặt loại thuốc này. Viên thuốc thô sơ màu xanh xám như màu rêu cũ trông nghèo nàn buồn tẻ làm sao, nhưng vẫn cần thiết vì không phải ai cũng có tiền mua thuốc tây ngoài chợ đen và không phải thuốc ngoài chợ đen đều bảo đảm là thuốc thật.


Mỗi lần đi khám bệnh là mỗi lần cơ cực, sau khi nộp sổ khám sức khỏe vào chồng sổ cao ngất ngưỡng nơi bàn làm việc của phòng khám ở phường là sự chờ đợi dài lâu đến mỏi mòn và khi gặp được cô y sĩ để khai bệnh, tùy theo cô buồn vui mà nghe cô gắt gỏng nhiều hay ít.


Có lần tôi dẫn đứa em đi nhổ răng ở phòng y tế quận Gò Vấp, cấp quận cao hơn cấp phường, nhưng dù quận hay phường cũng chờ đợi dài lâu như nhau. Khi ông nha sĩ hay nha tá gì đó xuất hiện ai cũng mừng rỡ, thì ông dõng dạc tuyện bố:


– Hôm nay hết thuốc gây tê rồi, ai chịu nhổ răng với điều kiện tự nhiên thì chúng tôi sẽ sẵn sàng phục vụ.tới cùng.


Ông nha sĩ tưởng mình là hiệp sĩ Don Quixote ra tay cứu nhân độ thế chắc? Ai mà chịu đau cho nổi hỡi nha sĩ kiêm hiệp sĩ hoang tưởng kia.


Tôi thò tay chấm vào nước mắm trong can của Đình và nếm thử vẫn có mùi nước mắm mặn mà, không cố tâm để ý thì khó mà biết là nước mắm gỉa được.


Đình chua thêm vào:


– Thời buổi nghèo đói lại nhiễu nhương này ai dỗi hơi mà để ý mà phân tích từng mùi vị nước mắm gỉa hay thật miễn là gía rẻ, cứ nghe lời tớ đi bán nước mắm lấy tiền nuôi con. Sĩ diện là chết trước đấy.


Thấy mặt tôi còn ngơ ngẩn, Đình tiếp:


– Hằng ngày đằng ấy mua hàng gỉa mà không biết đấy, thí dụ cái món mỡ nước từ chợ Đồng Xuân Hà Nội do con buôn tuyến đường xe lửa Nam Bắc tuôn vào trong Nam người ta đã trộn thêm cả bí đao hầm nhừ vào, cặn bí đao trông như cặn mỡ thịt đọng lại, vừa hấp dẫn ngon mắt vừa nặng ký, chứ làm gì có mỡ nước nguyên chất thắng từ mỡ thịt ra đâu. Món này con buôn Xóm Mới cũng bắt chước con buôn thủ đô Hà Nội làm rồi, một vốn bốn lời.


Đúng là thời thế tạo con người, thời thế xấu thì một số con người cũng dễ dàng xấu theo. Dân Xóm Mới xông xáo và gan dạ thật, nghề gì cũng làm được, từ mổ heo lậu, làm pháo lậu. Thỉnh thoảng lại có vụ thuốc pháo nổ làm chết người mà họ vẫn không ngán, chỉ vì  sức mạnh của đồng tiền. Không biết ngoài vụ nước mắm giả, mỡ nước gỉa, còn những món gì giả nữa? Có trời mà biết! Tôi cầm chừng:

– Để tôi đợi tổ hợp mì sợi ngã ngũ ra sao đã.


Đình gạt đi:


– Khỏi đợi, tớ là em anh Tình thì lạ gì, anh ấy đang tính chuyện làm ăn khác rồi, cỗ máy sắt vụn kia bao giờ bán được thì bán chứ ngồi mà đợi nó ngã ngũ thì chết đói.


Tôi tò mò:


– Anh Tình tính làm ăn gì cho tôi theo với?


Đình ghé tai tôi thì thầm:


– Tổ chức vượt biên, anh ấy sẽ mua tàu… Kín mồm miệng giùm nhé, tớ thương hoàn cảnh đằng ấy nên mới nói trước để mà lo liệu, ở lại vừa đói khổ vừa bị đối xử phân biệt lý lịch bao giờ con em mình mới ngóc đầu lên nổi? nếu muốn đi thì cứ 3 cây một đầu người đóng cọc trước, tới ngày sẽ lên đường. Thôi, tớ đi bán hàng tiếp đây.


Chuyện phân biệt lý lịch lắm đắng cay, ai đi xin việc làm hay con em đi học cũng phải nộp kèm theo giấy chứng nhận lý lịch của địa phương. Nhà nào nghèo mạt rệp, bần cố nông mấy đời đi ở đợ thế mà sướng, lý lịch “sạch sẽ” Nhà nào có người làm việc cho chế độ cũ “nguỵ quân ngụy quyền” hay giàu có “tư sản mại bản” thì tờ giấy chứng nhận lý lịch tối đen như đêm 30 Tết.


Tôi nghĩ đến tương lai của hai con mình mà thương.


Sau đó tôi không gặp lại Đình nữa, tôi nghe tin cả nhà anh Tình đã đi vượt biên tới đảo Mã Lai. Chắc là Đình đã cùng đi với anh Tình rồi. Bấy giờ tôi mới hiểu vì sao nhóm anh Tình cư ngụ ở Xóm Mới mà lại xuống Hạnh Thông Tây mở tổ hợp mì sợi, anh tạo cớ vắng mặt thường xuyên tại địa phương để dễ dàng khi đi vượt biên không bị ai nghi ngờ.


Chuyện đại sự của anh là tổ chức đi vượt biên tìm tự do chứ không phải chuyện làm ăn sản xuất mì sợi kia. May cho Đình và cũng may cho tôi, tôi khỏi phải trả lời Đình tôi không thể bán món nước mắm giả này được. Vì ngay hôm vừa mua nước mắm của Đình xong tôi đã đổ đi hết không dám ăn thì làm sao tôi dám bán cho người khác ăn? Chuyện ông tổ trưởng tổ sản xuất mì sợi đi vượt biên cũng đến tai địa phương tôi, người ta niêm phong tổ mì trong đó có cái máy liên hoàn cà rịch cà tàng và những đồ dùng không đáng giá khác như bộ bàn ghế cũ, những cái mẹt, cái nia để hấp mì, v.v… Chỉ tội chủ nhân cho thuê hai căn nhà chắc đang mong chính quyền địa phương thanh lý dứt điểm vụ tổ hợp mì sợi để họ lấy lại căn nhà thân yêu đang bị vạ lây niêm phong khóa kín lại.

Tôi không còn trông mong gì lấy lại được đồng xu nào từ tổ hợp mì sợi nữa.


– Nguyễn Thị Thanh Dương

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.