Hôm nay,  

Trang thơ mùa xuân: Em mãi là hai mươi tuổi…

22/01/202314:22:00(Xem: 2178)

2- Ann Phong, Fishes in the Water, 12x12, mixed media, 2018.1.1
Tranh Ann Phong.



Trong bài thơ “Không Đề” của cố thi sĩ Quang Dũng, có hai câu của chàng nói với nàng sau hai mươi năm xa cách, Em mãi là hai mươi tuổi/ Ta mãi là mùa xanh xưa… Điều gì khiến Quang Dũng vô hiệu hóa được sự tàn phai của thời gian? Mùa xanh ấy có phải là điểm nhấn rực rỡ của mùa xuân trên dòng trôi bốn mùa, và phải chăng tuổi hai mươi là nơi mà nhịp bổi hổi bồi hồi của đôi trái tim để lại dấu ấn? Nó mạnh mẽ tới mức người ta thấy thời gian ngừng lại. Ngang đó. Không trôi. Cứ là mùa xuân, cứ là hai mươi tuổi. Nó là gì vậy, mà dám chơi ngang ngửa với thời gian? Hình như là tình yêu. Hình như là tại khí tiết mùa xuân. Hai mà một. Cho nên, hình như thôi, vì bạn đọc hết những bài thơ dưới đây – của các nhà thơ Bùi Giáng, Nhã Ca, Pháp Hoan, Sara Teasdale, Lê Thị Kim, Trịnh Y Thư, Nguyên Yên, Nguyễn Thị Khánh Minh, Chiêu Anh Nguyễn, Vũ Hoàng Thư, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Xuân Thiệp – sẽ thấy hết cái năng lực chuyển hóa vui-buồn của nó trong tâm chúng ta.

 

*

 

BÙI GIÁNG

 

Lời xuân

 

Xin lời nói ở trên môi

Là lời ở lại bên đời quên nhau

 

Bụi hồng, ấy của chiêm bao

Thì con sóng đục chìm vào nước xanh

 

Linh hồn, ấy ngục xin kham

Lời sai trên miệng sẽ không là lời

 

Xin mùa lá rụng và rơi

Sẽ lên đường gặp ấy trời mùa sau

 

Ra đi hẹn với xuân đầu

Buổi hồi nguyên lại pha màu bình minh

 

Con chim về sẽ đậu cành

Tiếng ca ấy sẽ hòa thanh với lời

 

– Bùi Giáng

(Trích từ tập thơ Mưa Nguồn)

 

*

 

NHÃ CA

 

Vết cắt xuân

 

Tôi giẫm mùa đông dưới gót chân
Sầu tôi vết cắt vẫn chưa săn
Bùn rong rễ mốc, hồn cây mục
Một mặt trời in đỏ dáng xuân

Tuổi đã mù trơ, gió đã yên
Cành rêu thơ dại, cổ tay mềm
Biển xa cát gạn cuồng lưu rút
Trôi hết đâu rồi tuổi thiếu niên

Tôi ngó hoài trên váng đá xanh
Hào nghêu dần nhấm hết tên anh
Nhìn coi, đó, nụ cười xa lạ
Bờ bãi nằm nghe biển giật mình

 

– Nhã Ca
(Trích từ tập thơ Nhã Ca, NXB Thương Yêu, 1972)

 

*

 

PHÁP HOAN

 

Sự cứu rỗi của mùa xuân

 

Những ngày tháng đẹp bọc kín trong những giấc mơ đẹp

tôi đã biết sống vui hơn sau bao ngày mỏi mòn trên giường bệnh

mùa xuân đã thực sự cứu vớt một cuộc đời

 

Tôi sẽ ra đồng và gieo những bài ca

tôi sẽ đặt tên những bông hoa luống tuổi

ngọn gió mát lành sẽ buộc tôi mãi mãi nơi đây

trên những đám mây khắc mãi những bản kinh cuộc sống

 

Những chùm trái ngọt đang chờ đợi trên cây

những dòng sông chưa một ai tắm gội

những cây cầu mây nơi đàn chim ước hội

những con đường nơi tôi cất bước trở về nhà

 

Và sự thật sẽ cất cánh bay cao

và trên đường đi không thiếu những lời chào

đá không là vàng, củi không là thóc

và lửa đạn không mang lại vinh quang

 

Tôi sẽ nằm xuống như một hạt giống bé con

và trong đất đen tôi vẫn còn ca hát

dù lớn lên, lụi tàn hay mục nát

tôi mãi được trở về với đất mẹ quê hương.

 

– Pháp Hoan

(phaphoan.com)

 

*

 

SARA TEASDALE

 

Thuật giả kim

 

Em sẽ nâng trái tim như mùa xuân

Nâng đoá cúc lên cơn mưa buổi sáng;

Trái tim em như chiếc cốc màu xanh

Chẳng giữ gì ngoài những niềm cay đắng.

 

Em sẽ học từ hoa lá trên cao

Giữ trong mình những sắc màu lấp lánh,

Để chuyển hoá thứ rượu của buồn đau

Thành chất vàng óng ánh.

 

– Sara Teasdlae

(Pháp Hoan dịch)

 

*

 

LÊ THỊ KIM

 

Khoảng trời xanh của tóc

 

Ta nhặt trên tay
Nửa mảnh hồn mình
Xanh lá cỏ
Và xanh niềm mơ ước
Người đâu nơi xa
Làm sao biết được
Nửa mảnh hồn kia
Nỗi-Nhớ-theo người

Trời Sài Gòn rất xanh
Và mây vẫn trắng
Sáng hôm nay
Chợt thoáng chút heo may
Nhắc mùa xuân
Đang hé nụ trên tay
Hãy trôi hết
Niềm đau vào dĩ vãng
Cho nỗi ngậm ngùi
Ánh lên tia nắng
Và khoảng trời xanh của tóc
Quay về

Ơi người ơi
Xin cùng ta ngắm kỹ
Phố ngoài kia
Me – lá đã hết vàng
Lá xanh nõn
Đón mùa xuân lụa mới

Và ta đó
Chừng như vừa nhặt được
Trái tim mình
Mới-mẻ-giữa-mùa-xuân

 

– Lê Thị Kim

 

*

 

TRỊNH Y THƯ

 

Lục Bát

 

Tiếng đêm giao bóng trăng ngàn

nụ hoa chớm nở đã tàn canh thâu

buông tay lỡ nhịp dạ sầu

bơ vơ một nỗi tìm đâu quê nhà.

 

 

Sáng ra thấy tóc chấm vai

chợt hay năm tháng đã dài đời nhau

dặm trường nhớ buổi mưa mau

xót xa ngày muộn trước sau – thôi đành.

 

Xin cho một khoảng trời xanh

dẫu không tri kỷ vẫn quanh nỗi buồn

xin cho một góc trời gần

dẫu không duyên nợ vẫn cần vòng tay.

 

Tôi đêm giú chín trái xanh

tôi xuân trái nở bên cành đông mai

em đừng cửa đóng then gài

tôi xuân đứng ở hiên ngoài chờ em.

 

Sương bay lả tả đầu ghềnh

tôi xuân gác trọ lênh đênh nửa đời

bờ thu áo trắng tro phai

bài ca nội cỏ âm dài tang mây.

 

– Trịnh Y Thư

(Trích đoạn từ bài thơ Con Nước Vô Danh gồm 42 bài lục bát).

 

*

 

NGUYÊN YÊN

 

Đêm


Cuối năm
mưa giao thừa đổ dốc
mặt lộ trơn tuột mọi chuyển động
những bóng ma
phản chiếu ngày tháng tuột dần.

Mưa giao thừa, giao thừa mưa
như lệ đổ
cơn sầu vào thành phố
vào mảng tim khô
vào tận cùng thể xác
nơi vết tích cuộc tình
như cơn mê
hợp tan.

Đêm ba mươi
xối vào ký ức
hình ảnh những giấc mơ
và từng cơn buốt nhức.

Làm sao bôi xóa hết
những vết nứt hằn sâu
từ phỉnh gạt
từ hoang tưởng.

Làm sao bôi xóa hết
khi trái tim
còn thức.

– Nguyên Yên

 

*

 

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

 

Nụ trăng đêm trừ tịch

 

Trong căn phòng cuối năm

Em nghe tiếng tháng Giêng

Rù rì nụ mai nhỏ

– Hãy chờ đêm, chờ đêm…

 

Xin anh đừng thắp đèn

Cho em còn nhìn thấy

Chút nắng ngày sót lại

Trong thăm thẳm nhìn em

 

Em nghe tiếng nói anh

Gần như bước mùa xuân

Đang đi về trước ngõ

Em nghe anh nói thầm

Xa như gió mùa đông

Đang thì thào từ giã…

 

Như chạm phải thời gian

Bước nắng mưa mệt mỏi

Em cầm bàn tay anh

Rưng rưng niềm đá sỏi

 

Như về theo hoa khuya

Hương ba mươi tĩnh mịch

Miên man nụ hôn đêm

Nở thành trăng trừ tịch…

 

– Nguyễn Thị Khánh Minh

 

*

 

CHIÊU ANH NGUYỄN

 

Mùng Bốn

 

Sáng này bầy chim sẻ đã bỏ đi đâu
Những ghế bàn ẩm
Dãy phố cong hoa sứ rụng mê buồn...
Sáng đầu năm con dốc thả giận hờn
Khách quen ngồi
Môi quen thơm
Gió quen hơi thầm thì vọng

Góc quanh có con sông lượn về vô định
Sách vở trơ mùi giấy quạnh hiu.
Sáng nay buồn như thể cô liêu

Hẹn hò tuổi mới
Ráng son gầy trên môi
Níu một thời
Tươi.

 

– Chiêu Anh Nguyễn

 

*

 

VŨ HOÀNG THƯ

 

Buổi sớm xuân

 

chừng như 

          dậy giữa cơn mồng

nguồn reo 

          suối mở

khơi hồng mạch xuân

người có bên?

hương trầm gần?     

mà tôi bỗng 

          nhịp muôn phần xuân ca

bật nguồn âm lời quê xa

ngày tích dấu

điệu rất nhà

          thân quen

buổi sương sớm

          có nhúm nhen

cơn gió thoảng

cửa hờ then

          thuận tùy

em má chúm

rộng vòng khuy

xuân về trổ hội

          chân đi dậy nguồn

tôi như chao

một cánh chuồn

đậu ngày vô lượng vỡ bùng nguyên xuân

 

– Vũ Hoàng Thư

 

*

 

HOÀNG XUÂN SƠN

 

Áo xuân xưa

 

Vịn hờ

vai áo em

xưa

ngỡ chòm mây trắng bay qua

vực hồng

có đôi chim vợ chim chồng

hót tràn khe lãnh

rừng thông

nắng trào

ửng mùa xuân

tới non cao

du hồn tiểu lụy

hoá vào đại ân

chín rồi

quả mộng trầm luân

áo em trắng giữa muôn phần

cỏ

cây.

 

– Hoàng Xuân Sơn

 

*

 

NGUYỄN XUÂN THIỆP

 

Trời đã cuối năm

 

em yêu

trời đã cuối năm

sao không nghe

       tiếng chim họa mi

       từ thơ tomas transtromer

       hót

bông tulip

      và daffodil. vàng

      cũng chưa nở lại

buổi chiều. anh chờ nghe. tiếng hát. từ bóng cây bông sứ

      chùa xưa

chỉ có tiếng gió. qua hàng ngói. xám

đâu bếp lửa đồng tâm. và lộc hưng. ngày nọ

anh kêu thầm. nỗi nhớ

      đất ơi. thời gian ơi

 

– Nguyễn Xuân Thiệp

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”
Tuyển tập “9 Khuôn Mặt: 9 Phong Khí Văn Chương” của Bùi Vĩnh Phúc là những trang sách phê bình văn học độc đáo, nơi đây 9 người cầm bút nổi tiếng của Miền Nam – Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên – được chiếu rọi trên trang giấy rất mực trân trọng, công phu, phức tạp, và nổi bật là kiểu phê bình văn học rất mực thơ mộng của họ Bùi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.