Hôm nay,  

Kim Minh Quốc: họa sĩ cung đình nổi tiếng về tranh Thiền

06/01/202300:00:00(Xem: 2470)

H 1 nha su va chim hac
Nhà sư và chim hạc
  
Họa sĩ Gim Myeong-guk, sinh năm 1600, từ trần khoảng sau năm 1662 (?), tên còn được ghi là Kim Myeong-guk, là một họa sĩ toàn thời gian trong vương triều Joseon Kingdom của Hàn Quốc.  Tên ông phiên âm theo Hán tự là Kim Minh Quốc (金明國). Các nhà phê bình nghệ thuật đời sau nói rằng Kim tuy là một họa sĩ cung đình nhưng cũng là một nghệ sĩ tiên phong vẽ ra những tác phẩm riêng đúng với tính cách và cảm xúc của ông. Hầu hết các bức tranh của Gim Myeong-guk liên quan đến con người đều có chủ đề Phật giáo và mang một phong cách nghệ thuật cụ thể.
 
Kim Minh Quốc còn dùng bút danh Yeondam – nghĩa là “Hồ sen” (“Lotus pond”) -- mang ý nghĩa hướng tới tâm giải thoát của Phật giáo. Khi mới vào công việc họa sĩ cung đình, Kim được xrm như một kiểu nghệ sĩ mới, khác biệt rõ ràng với những người đi trước và cùng thời với ông, những người ít nhiều làm việc như những thợ thủ công sao chép một cách trung thực các phong cách chính thống. Một mô tả về ông mang tính ngoại giao là “Kim được biết đến là người có cá tính nghệ sĩ được đặc trưng bởi chủ nghĩa cá nhân và sự cố chấp.” Có một bản văn khác mô tả về Kim là “những người cùng thời với Kim mô tả ông là một kẻ say rượu vô tư lự, một đặc điểm tương ứng với hình ảnh của Trung Quốc về nghệ sĩ lập dị.”

H 2 tranh Bo de dat ma

Bồ Đề Đạt Ma. Kích thước: 83 x 58.2 cm, lưu giữ ở National Museum of Korea (NMK)

 
Họa sĩ Kim Minh Quốc đã phụ trách nhiều nhiệm vụ nghệ thuật chính thức cho cung đình. Ông là thành viên của hai phái đoàn ngoại giao và thiện chí được Quốc Vương Injo (1595-1649) gửi sang thăm Nhật Bản. Phái đoàn đi năm 1636 do Im Gwang (1579–1644) dẫn đầu, trong khi phái đoàn đi năm 1643 do Yun Sunji (1591–1666) dẫn đầu.
 
Lịch sử Hàn Quốc còn ghi rằng vào năm 1647, Kim Minh Quốc chỉ huy một nhóm gồm 6 họa sĩ Cao cấp và 66 người khác sửa chữa Cung điện Changgyeong. Về sau, Kim phụ trách nhiệm vụ vẽ chân dung những người có công với triều đình. Bức tranh được biết đến cuối cùng của ông là vẽ năm 1662. Hoàn cảnh và năm mất của ông vẫn chưa được biết chính xác; chi tiết này cũng lạ, vì Kim là người nổi tiếng trong cung đình.
 
Tiểu sử Kim ghi rằng kiểu sống nồng nhiệt với cuộc đời của ông đã cho ông một biệt danh: người ưa thích rượu. Có phải sáng tạo nghệ thuật cần tới rượu, hay biệt danh đó chỉ là huyền thoại giữa một cung đình đầy những tranh chấp và ghen tỵ? Đặc biệt, Kim Myeong-guk được biết đến với những bức tranh tuyệt tác về các nhà sư đáng kính của vùng núi Mt. Geumgangsan và tỉnh Gangwon-do. Họa sĩ Kim Minh Quốc được xem là vô song trong hội họa Phật giáo Thiền Tông (Seon viết theo tiếng Hàn, hay Zen).

H 3 tranh Bo De Dat Ma qua song

Bồ Đề Đạt Ma đứng trên cành lau qua sông. Kích thước: 97.6 x 48.2 cm, giữ ở NMK.

 
Các nhà phê bình ghi rằng đối với những bức tranh tôn giáo này, Kim sử dụng hai loại kỹ thuật vẽ: sumukbeop, trong đó mực đen được sử dụng với những nét cọ đậm, mạnh mẽ và gampilbeop có phong cách tối giản, chỉ sử dụng ba hoặc bốn nét để mô tả hình ảnh. Với hai kỹ thuật này, các bức tranh Thiền của Kim phản ánh bản chất cá nhân trong phong cách nghệ thuật của ông.
 
Nam Tae-eung (1687-1740), nhà phê bình nghệ thuật nổi bật nhất trong thời kỳ giữa của vương triều Joseon, đã nhận định về phong cách vẽ của Kim, điều này đã mở ra một chương mới trong hội họa thời Joseon một cách hiệu quả: “Kim không chỉ đơn thuần đi theo bước chân của những người tiền nhiệm của mình. Anh ấy là một họa sĩ khéo léo, người không bao giờ bị giới hạn bởi hình thức, mà thay vào đó, Kim đã vượt qua những phong cách hiện có bằng ý chí tự do của mình.”
  
Sự đánh giá cao đối với các bức tranh của Kim đã tăng lên nhờ nổi tiếng khi thăm Nhật Bản: những chuyến thăm của Kim đến Nhật với tư cách là thành viên của phái đoàn chính thức từ triều đình Joseon. Là một họa sĩ cung đình, Kim là thành viên của phái đoàn thứ tư (1636) và thứ năm (1643) đến thăm Edo, Tokyo ngày nay.  Lúc đó, Hàn Quốc cử phái đoàn sang Nhật Bản như một đề nghị ngoại giao nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị với chính quyền quân phiệt phong kiến Nhật Bản (1603-1867) do Tokugawa Ieyasu thành lập.


H 4 coi ngua

Cỡi ngựa.

 
Tại Nhật Bản, những bức tranh của Kim đã tạo ra một cơn sốt nồng nhiệt đến nỗi những người ngưỡng mộ Nhật Bản từ xa gần kéo đến để xem và mua các tác phẩm của ông. “Theo một lời kể lại, họa sĩ Kim có lúc trở nên quẫn trí vì kiệt sức khi nhiều người Nhật say mê tìm mua các tranh vẽ của Kim, không cho Kim một giây phút bình yên.” Chính trong chuyến đi Nhật Bản lần thứ nhì, Kim vẽ bức chân dung Bồ Đề Đạt Ma. Năm 1643, khi Hàn Quốc chuẩn bị cử một phái đoàn triều đình khác đến Nhật Bản, chính quyền Nhật Bản đã gửi một thông điệp ngoại giao nói rằng: “Hy vọng rằng một họa sĩ như Kim Myeong-guk sẽ đến thăm Nhật Bản.”
 
Kim đã vẽ kiệt tác Bồ Đề Đạt Ma của ông, hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc, trong chuyến thăm Nhật Bản năm 1643, với tư cách là thành viên của phái đoàn triều đình lần thứ năm của Hàn Quốc. Tác phẩm vẫn ở Nhật Bản cho đến khi được Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc mua lại. Bức tranh Bồ Đề Đạt Ma đặc biệt này được cho là bức tranh đẹp nhất không chỉ ở Hàn Quốc mà còn ở cả Đông Á. Ngày sinh của Bồ Đề Đạt Ma không được biết nhưng ông mất năm 526. Ông đến từ khu vực phía nam của Ấn Độ và thuộc tầng lớp Bà la môn. Ông đã đến Trung Quốc thời nhà Lương để truyền bá Thiền Tông Phật giáo. Chân dung của Bồ Đề Đạt Ma ban đầu được tạo ra để làm hình ảnh cầu nguyện. Những bức tranh, với những nét vẽ tối giản, đậm nét, được vẽ ra để hiển lộ một nội tâm giác ngộ. Chính ngay ở thành phố Edo của Nhật Bản, Bồ Đề Đạt Ma được yêu mến như một trong bảy vị thần dân gian của Nhật Bản, được gọi là Shichifukujin. Ở Nhật Bản, hình ảnh của Bồ Đề Đạt Ma là đề tài phổ biến để vẽ và nắn tượng.
 
So với những hình ảnh phổ biến về Bồ Đề Đạt Ma ở Nhật Bản, có thể dễ dàng phân biệt Bồ Đề Đạt Ma của Kim Minh Quốc bằng những nét cọ dày, đậm được sử dụng để truyền đạt đường viền của chiếc áo choàng. Sự táo bạo trong tranh Kim đã gây tò mò và để lại ấn tượng lâu dài cho người xem Nhật Bản. Khuôn mặt được khắc họa nhẹ nhàng nhưng sống động với những gì dường như chỉ là một nét cọ và sự tương phản ấn tượng giữa sáng và tối. Hình ảnh mạnh mẽ phát ra cảm giác rõ ràng về năng lượng sống động và chuyển động.

H 5 quet san

Quét lá.

 
Kim đã khéo léo thể hiện bản chất siêu việt của tranh thủy mặc với một hình thức đẹp tàng ẩn, cô đọng truyền đạt yếu tính của hội họa châu Á. Những nếp áo để lộ hình dáng là kết quả của sự hòa hợp giữa bàn tay và tâm hồn của người sáng tạo. Những nét cọ uyển chuyển, nhịp nhàng dường như vượt quá khả năng của một người bình thường. Các đường nét sống động uốn lượn và biến đổi đột ngột, trong khi các nét thô, đậm tương phản rõ rệt với các đường nét uyển chuyển, tinh tế. Đáng chú ý, phong cách tối giản và sự pha trộn hài hòa giữa các nét cọ tương phản càng củng cố niềm tin rằng Kim đã tạo ra bức tranh chỉ trong một hơi thở, thậm chí không dành thời gian để suy nghĩ về bất kỳ sự giả tạo nào. Tuy nhiên, hình thức và hình ảnh tạo nên một thể thống nhất, như thể xác và tâm hồn người nghệ sĩ, để lại cho người xem một cảm giác kinh ngạc ngưỡng mộ.
 
Các nhà phê bình Hàn Quốc ghi rằng nét vẽ của Kim hiển lộ khái niệm về sự đồng nhất, một nguyên tắc cơ bản của triết học châu Á, áp dụng cho vũ trụ và cá nhân, khách quan và chủ quan, thế giới vật chất và tinh thần, cơ thể và tâm trí. Với sự sáng tạo độc đáo và sự tự do nghệ thuật của mình, Kim đã tạo ra những tác phẩm đặc biệt mà không bị hạn chế bởi hình thức hay kỹ thuật, trong khi chỉ sử dụng những nét cọ đậm nét của mình. Cách tiếp cận như vậy đại diện cho hình ảnh thu nhỏ của tranh thủy mặc. Kim Minh Quốc đã thăng hoa tính cách năng động của mình thành một loại hình nghệ thuật tinh tế, thể hiện rõ nét qua vẻ đẹp của bức tranh Bồ Đề Đạt Ma của ông.
  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chúng ta thường được nghe nói, rằng mọi người đều bình đẳng trước Thượng Đế. Tuy nhiên, Thượng đế thì không ai thấy, nhưng có một thứ còn đáng sợ hơn nhân vật cổ sử đó (nếu thật sự là có Thượng Đế): đó là những trận mưa bom. Người dân Ukraine và Palestine ý thức rất rõ, vì đó là chuyện hằng ngày của họ: mọi người đều bình đẳng khi đứng dưới mưa bom. Già, trẻ, nam, nữ, trí thức, nông dân, nhà thơ, họa sĩ… đều bình đẳng: khi bom rơi trúng là chết. Cuộc chiến giữa người Palestine muốn giữ đất và người Israel từ nơi xa tới nhận phần đất mới do quốc tế trao tặng từ đất Palestine đã kéo dài nhiều thập niên. Bây giờ căng thẳng mới nhất là ở Gaza, cuộc chiến đang tiếp diễn giữa nhóm Hamas, thành phần chủ trương bạo lực của dân Palestine, và quân Israel. Trong những người chết vì bom Israel, có những người hiền lành nhất, đó là trẻ em và phụ nữ.
Đối với nhiều người Thái Lan, Chalermchai Kositpipat là họa sĩ đương đại lớn nhất của nền mỹ thuật Phật Giáo Thái Lan. Những nét vẽ và kiến trúc của ông vừa mang chất thần thoại truyền thống, vừa đậm chất kỹ thuật tân kỳ của thế kỷ 20 và 21 – vừa dịu dàng, thơ mộng, như thật như mơ, nhưng là những bước đi đầy các khám phá mới trên vùng đất tiền nhân chưa khai thác hết, nổi tiếng với việc sử dụng hình ảnh Phật giáo, và các họa phẩm của Chalermchai đã nhiều lần triển lãm trên toàn thế giới. Chalermchai Kositpipat sinh ngày 15/2/1955. Thân phụ ông là một người Trung Quốc nhập cư từ Quảng Đông trong khi mẹ anh là người Thái gốc Hoa. Kositpipat theo học tại Đại học Mỹ thuật Silpakorn, tốt nghiệp Cử nhân Mỹ thuật chuyên ngành nghệ thuật Thái Lan năm 1977.
Có một người sống trong thành phố, bận rộn, tranh đấu, xông pha, lăn lộn giữa sự phức tạp như một sinh trùng bị mắc lưới nhện vẫn phải vùng vẫy để sống, để chờ ngày bị ăn thịt. Một hôm, ông ta đi du lịch, thấy một phong cảnh đẹp đến mức lặng người, cảm thấy siêu thoát, nhận ra đạo lý của mục tiêu tại sao con người tồn tại. Nhưng vẫn phải trở về phố cũ, y như Lưu Nguyễn phải trở về làng cũ vì những lý do chính xác, vì lẽ phải của những bổn phận làm người. Ông vẽ lại phong cảnh đó trên một vách tường lớn. Mỗi khi đời giông bão, mỗi khi hồn âm u, mỗi khi trí khổ não, ông đến trước bức tranh, nhìn ngắm, ngẫm nghĩ để tìm thấy sự thanh thản, sở hữu cảm giác bình an. Ông nghe được tiếng hát “chiều nay vang lừng trên sóng.” Ông thấy được “Âm ba thoáng rung cánh đào rơi. Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời.” Hồn ông “lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan.” Những giờ phút tĩnh lặng đó, tâm trí ông “Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quên … là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi…”
Bạn có thể gọi Arnaud Nazare-Aga là một nhà điêu khắc, hay một lạt ma vào đời, hay đơn giản, là một nghệ sĩ và là một cư sĩ. Một thời anh đã ngồi trong tu viện để tạc các pho tượng Phật, tượng Bồ Tát, các trụ điêu khắc, và rồi anh rời tu viện để bước vào đời, trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng trong thế giới tượng hình. Nói kiểu tóm gọn theo văn phong báo chí thường gặp là: một nghệ sĩ Phật tử người Pháp. Nhưng cuộc đời anh đầy những cơ duyên kỳ lạ. Bài viết này tổng hợp từ nhiều báo, trong đó có Forbes, Time Out, Thai PBS World, The Phuket News... Lời tự giới thiệu của nhà điêu khắc Arnaud Nazare-Aga chỉ đơn giản vài đoạn trên trang nhà riêng. Sinh năm 1965 tại Paris, Arnaud Nazare-Aga đã sinh khởi niềm đam mê với kiến trúc và điêu khắc hiện đại từ khi còn thơ ấu. Anh thường xuyên đi thăm viện bảo tàng cùng ba mẹ. Anh được giáo dục trong một cộng đồng Phật giáo Tây Tạng ở vùng Burgundy, miền Đông nước Pháp, và học nghề đúc tượng thạch cao nơi đây.
Ann Phong triển lãm tranh ở Quận Cam, tôi bay qua tham dự. Xem tranh trừu tượng là xem tranh bằng tưởng tượng. Tôi là người sống bằng tưởng tượng. Xem tranh Ann Phong, không chỉ xem cái đẹp, xem nét đặc thù của nữ họa sĩ này, nhưng để sau cùng là xem chính “tôi trong quá trình tưởng tượng từ dãy tranh.” Luhraw viết: “Trước đây tôi chỉ có thể đoán chừng mình là ai. Giờ đây, nhờ nghệ thuật, tôi biết mình là ai.” (Quote.) Có nhiều đêm mất ngủ, tôi thường lên mạng xem tranh, đôi khi, ngủ nhờ trong phòng tranh ảo của Ann Phong. Những khi suy nghĩ về sự hiện sinh của con người, của bản thân, tôi thường tự dẫn mình đến một số tranh của Ann Phong theo quan điểm “Dấu người trên đất.” Tôi yêu thích loạt tranh này, vì Ann Phong nói lên những điều bằng họa, mà tôi chưa thể nói hết những suy nghĩ qua thơ.
Viện Bảo Tàng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tọa lạc tại địa chỉ 9842 Bolsa Ave #205, Thành phố Westminster, CA 92683 do Hậu Duệ Bác Sĩ Nguyễn Hoàng Quân làm Giám Đốc đã tổ chức Tết Trung Thu cho các em Thiếu Nhi trong hai ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật 16-17 tháng 9 năm 2023.
Hơn ba năm sau khi bị đánh cắp ở Laren, bức tranh ‘The Parsonage garden at Nuenen in Spring’ (tạm dịch: Vườn Nhà Mục Sư ở Nuenen vào Xuân) của Van Gogh đã được tìm lại. Việc trả lại được thực hiện bởi thám tử tư nhân người Hà Lan Arthur Brand.
Chúng ta không biết phải dịch chữ “immersive art” như thế nào. Khái niệm này chỉ mới xuất hiện vài năm nay, mặc dù đã xuất hiện, phần nào, trong các loại hình nghệ thuật khác, từ cả nhiều thế kỷ trước. Hình như triển lãm “immersive art” lần đầu tiên ở Los Angeles và Las Vegas là đầu năm 2022, với tranh Van Gogh. Phòng triển lảm sử dụng hình ảnh, âm thanh, không gian, sự chuyển động của màu sắc để làm cho bạn, người khán giả, trở thành một người đang tắm gội trong không gian nghệ thuật của họa sĩ Van Gogh (1853-1890). Tại sao chọn Van Gogh để triển lãm đầu tiên cũng chưa rõ, có lẽ vì tranh họa sĩ này sống động, dữ dội hơn nhiều họa sĩ khác, hấp dẫn hơn với dân Nam California. Có thể dịch chữ “immersive art” là hội họa “trải nghiệm hòa nhập” hay “trải nghiệm nhập vai” – bởi vì, khán giả tự thấy mình trở thành một phần của tác phầm đang chuyển động giữa thế giới màu sắc của họa sĩ.
Giới yêu hội họa, hẳn nhiên, đều biết tác phẩm Em Thúy của họa sĩ Trần Văn Cẩn. Bức danh họa này hoàn tất vào năm 1943, và “đã được công nhận là Bảo vật quốc gia.” Tuy thế, không mấy ai để ý là có đến hai phụ nữ tên Nguyễn Thị Minh Thúy (và hai đều được dư luận nhắc đến như là nguyên mẫu của tác phẩm nổi tiếng trên) nhưng cuộc đời của họ lại hoàn toàn khác hẳn nhau.
Những bức vẽ của Pigcasso, một chú heo được nhà hoạt động vì quyền động vật người Nam Phi Joanne Lefson nhận nuôi, được bán ra với giá khoảng 26,000 MK cho mỗi bức, theo cuốn sách mới của Lefson, “Pigcasso: Nàng họa sĩ lợn triệu phú đã cứu một khu bảo tồn” (Pigcasso: The Million-dollar artistic pig that saved a sanctuary).
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.