Ánh trăng trắng ngà và Bả Tửu Vấn Nguyệt

30/11/202216:42:00(Xem: 1541)
Tản mạn văn học

HangNga
Hằng Nga trong một bức tranh cổ đời Minh.

 

Tôi mới được người bạn gửi cho một câu hát, gợi nhớ đến một bài ca từ lâu đã trốn vào quên lãng: “Ta yêu cô Hằng đêm xưa xuống trần…”

 

Than ôi! Lâu rồi sao không còn thấy ai hát bài "Chú Cuội" của Phạm Duy nữa?

 

Trăng soi sáng ngời

Treo trên biển trời

Tình ơi

Một đàn con trai

Rủ đàn con gái

Ra ngồi nhìn trăng

Ra nghe chú cuội

Ngồi gốc cây đa

Cuội ơi

Để trâu ăn lúa

Nhìn mây theo gió

Miệng ca bồi hồi

Ta yêu cô Hằng

Đêm xưa xuống trần

Nàng ơi

Nàng về dương gian

Tìm người nuôi nấng...

 

Tuổi thơ Việt Nam thật đẹp sao!

 

Ôi, những ngày thuở thanh bình cùng nhau tung tăng rước đèn rằm tháng tám:

 

Ánh trăng trắng ngà

Có cây đa to

Có thằng Cuội già

Ôm một mối mơ

Cuội ơi ta nói cho Cuội nghe

Ở trên cung mãi làm chi

Có con dế mèn

Suốt đêm canh thâu

Hát xẩm không tiền

Nên nghèo xác xơ...

 

Có còn ai hát xẩm, còn ai nghe hát xẩm?

 

Chạnh lòng tôi nhớ đến bài thơ của Lý Bạch tôi dịch đã lâu năm. Vì dịch sang thể hát nói nên cũng có viết thêm mấy vần lục bát làm Mưỡu cho đủ lệ bộ:

 

BẢ TỬU VẤN NGUYỆT

MƯỢN RƯỢU ĐÙA HẰNG NGA

 

MƯỠU

 

Hằng Nga nay mấy xuân xanh?

Nghi dung diễm lệ long lanh góc trời.

Nay ta gặp buổi thảnh thơi,

Dở bầu rượu ngỏ đôi lời cùng em.

 

HÁT

 

Ngừng chén hỏi trời xanh đôi ba điều thắc mắc,

Rằng mảnh gương vằng vặc đã bao năm?

Sao bắc thang vói mãi vẫn xa xăm?

Sao khắng khít, đón đầu đi đâu theo đến đấy?

 

Cô tập quỳnh lâu quang cung khuyết

孤 熠 瓊 樓 光 宫 闕

Không hồi phương chẩm vọng thuyền quyên (*)

空 回 芳 枕 望 嬋 娟

Thắp lung linh trên sóng giữa trời đêm,

Vừa hừng sáng vội len sau mây biếc,

 

Hằng Nga ạ, ta thương em đơn chiếc,

Quanh thỏ già giã thuốc có gì vui.

Ai nghìn xưa đã thấy dáng em soi ?

Ta ước thấy mắt môi thời son sắc !

 

Bao kẻ mãi theo em say sưa ngắm.

Ta nâng ly cao hứng hát vang vang,

Xin em soi mãi chén vàng

 

(*) Hai câu chữ Hán do người dịch viết thêm cho đầy khổ thơ hát nói. Tạm dịch: Ả Hằng một mình sáng soi trên cung khuyết lầu ngọc/ Ta luống công trăn gối trở mình ngắm vọng giai nhân.

 

Cụ Lý Bạch giá có ngắm trăng, có nhẩy xuống sông vớt vầng trăng đang chìm dưới nước, rồi viết thêm dăm ngàn câu thơ vấn nguyệt nữa, cũng không thể làm trẻ thơ Trung Hoa hạnh phúc bằng trẻ con Việt Nam khi chúng có các bài ca dao chị Hằng, chú Cuội đáng yêu, đáng mến, đẹp đẽ đến là vậy. Đọc thơ Cụ thì những lúc độc ẩm quả là hứng thú, tiêu tan hết cả mối vạn cổ sầu. Nhưng những bài đồng dao của tuổi thơ Việt Nam thì hạnh phúc theo mình đến cả một đời. Chẳng thế mà dù người Trung Hoa có kinh điển đến đâu, có bỏ công đến nghìn năm, luống cũng chẳng xóa được cái hồn mộc mạc của người dân quê Việt tộc? Thì cứ thử so sánh cách nhìn của mấy dòng thơ khác nhau. Cũng ngần ấy chuyện, nhưng ta nhìn theo cái duyên dáng của riêng ta.

 

Nguyên Tác:

 

把 酒 問 月, 李 白

Bả Tửu Vấn Nguyệt, Lý Bạch

 

青 天 有 月 來 幾 時,

Thanh thiên hữu nguyệt lai kỷ thì,

Trời Xanh có ả Hằng đến nay là tự bao giờ?

 

我 今 停 杯 一 問 之

Ngã kim đình bôi nhất vấn chi!

Ta nay ngừng chén hỏi một câu cho rõ sự tình:

 

人 攀 明 月 不 可 得

Nhân phan minh nguyệt bất khả đắc,

Hà cớ gì tay vói mãi vẫn không tới ?

 

月 行 卻 與 人 相 隨

Nguyệt hành khước dữ nhân tương tuỳ.

Mà chân bước đến đâu cũng lại thấy quấn bên mình?

 

皎 如 飛 鏡 臨 丹 闕,

Kiểu như phi kính lâm đan khuyết,

Sáng như mảnh gương từ cửa son soi xuống

 

綠 煙 滅 盡 清 輝 發

Lục yên diệt tận thanh huy phát

Lúc khói biếc tan đi lại càng thêm lóng lánh

 

但 見 宵 從 海 上 來

Đãn kiến tiêu tòng hải thượng lai,

Cứ đợi đến đêm lại thấy từ biển đến thăm

 

寧 知 曉 向 雲 間 沒

Ninh tri hiểu hướng vân gian một.

Khi trời vừa sáng lại trốn mất trong mây

 

白 兔 搗 藥 秋 復 春,

Bạch thố đảo dược thu phục xuân,

Gã thỏ trắng thì cứ giã thuốc hết thu lại sang xuân

 

嫦 娥 孤 棲 與 誰 鄰。

Thường nga cô thê dữ thuỳ lân.

Mà nàng Hằng Nga mãi chơi đùa một mình biết bầu bạn cùng ai

 

今 人 不 見 古 時 月

Kim nhân bất kiến cổ thì nguyệt,

Người đời nay thì chẳng ai biết mặt mũi vầng trăng cổ độ

 

今 月 曾 經 照 古 人。

Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân.

Mà chính vầng trăng hôm nay thì đã từng chiếu lên người đời xưa

 

古 人 今 人 若 流 水,

Cổ nhân kim nhân nhược lưu thuỷ,

Người đời xưa, đời nay cứ mãi như dòng nước chảy

 

共 看 明 月 皆 如 此。

Cộng khan minh nguyệt giai như thử.

Cùng theo nhau mà ngắm vầng trăng xinh đẹp ấy

 

唯 願 當 歌 對 酒 時,

Duy nguyện đương ca đối tửu thì,

Ta chỉ ước ao mỗi một điều là khi ta rót rượu cao hứng hát

 

月 光 常 照 金 樽 裡

Nguyệt quang thường chiếu kim tôn lý

Ánh trăng sẽ mãi soi chiếu vào chén vàng

 

– Tô Thẩm Huy

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hôm thứ Ba vừa rồi, vợ chồng tôi đến ga NTG đón hai mẹ con người bạn vào chơi trên chuyến tàu Bắc-Nam SE7 dự kiến sẽ đến ga lúc 9h15 AM, Chúng tôi ngồi ở phòng đợi cùng với những hành khách đón tàu xuôi các ga phía Nam...
Tôi đạp xe về nhà với cõi lòng lâng lâng. Chẳng biết từ lúc nào tôi đã thương mến thầm anh Phượng hàng xóm, anh hơn tôi chừng 7, 8 tuổi, hát hay đàn giỏi, thỉnh thoảng buổi tối anh ngồi trước cửa nhà đàn hát, tiếng hát ngọt ngào của anh đã rót vào trái tim 16 tuổi trăng tròn của tôi những tình cảm bâng khuâng. Anh đi lính, xóm vắng anh, vắng cả những đêm khuya tiếng hát tiếng đàn...
Ở vùng quê người ta vẫn dùng một vài thứ lá như lá vối, lá "ngấy" (không phải lá ngái), lá bò bò, dây lá nhãn lồng (có nơi gọi lá mắm nêm) kiếm từ rừng rẫy về xắt ra, phơi khô trữ từng bao để nấu uống dần thay lá chè (trà). Nước các thứ lá ấy ai cũng dùng được, cả nhà sẽ uống suốt ngày...
Tuổi học trò là tuổi mang nhiều kỷ niệm khôn nguôi. Chúng ta nghĩ về thuở xa xưa đó như nghĩ về sân đá banh, suối Đốc Học, suối Mu-ri (Maury), thác Nhà Đèn, hồ Piscine, hồ Trung Tâm hay cột đèn ba ngọn, kể cả con chim, con dế, một thứ keo dính chặt trong trí nhớ học trò...
Thơ của ba người: Quảng Tánh Trần Cầm, Nguyễn Hàn Chung, Vĩnh Ngộ...
Trực thăng vừa đáp, cánh quạt thổi cát bụi tung mịt trời, cỏ tranh bên dưới ngã rạp, thân dập dềnh như sóng. Thăng nhảy xuống trước tiên, đảo mắt quan sát chung quanh rồi quay người lại giơ tay cho Chinh bám lấy để bước xuống. Cũng chiếc máy truyền tin cũ đeo sau lưng, nhưng hôm nay có vẻ nặng hơn vì gương mặt Chinh đanh lại chứ không nhìn Thăng cười và khẽ gật đầu như những lần đổ bộ trực thăng trước. Chinh mang máy cho Thăng đã ba năm, đeo hạ sĩ gần một năm. Thầy trò đã kề cận, cùng vào sinh ra tử không biết bao nhiêu lần, chưa bao giờ Chinh biểu lộ sợ hãi kể cả những lúc nguy khốn nhất, bị địch vây hãm phải mở đường máu để triệt thoái...
Chiều hôm ấy, một buổi chiều cuối mùa Hè năm 1956, trước cổng trường Võ Tánh Nha Trang, Trọng nhìn theo mái tóc dài thả sau hai bờ vai và tà áo dài trắng, và gọi lớn tên nàng nhưng Thu Nguyệt vẫn lặng lẽ tiếp tục đạp xe đạp, không đáp lại lời kêu gọi của Trọng, ngay cả ngoái đầu nhìn lại nhau lần cuối...
Sau khi đưa được gia quyến sang Tàu, Trần Ích Tắc đã được Nguyên chủ Hốt Tất Liệt cấp một dinh thự tại Ngạc Châu để ở. Nguyên chủ cũng ban cho ông nhiều bổng lộc nên gia đình ông vẫn có một cuộc sống sung túc...
Chị Bông gởi tâm sự cho chị Ngân Bình phụ trách mục “Tình Chàng Ý Thiếp” của một tuần báo. Chị than thở chuyện tình cảm hai vợ chồng già nhà chị lúc nào cũng xung khắc cãi nhau. Ông ấy lát gạch vườn sau chỗ cao chỗ thấp làm chị Bông vấp ngã mấy lần đã không biết điều xin lỗi còn mắng vợ xớn xác. Chị Bông tiết kiệm ngân quỹ gia đình, ở nhà chuyên mặc đồ thừa của con gái thì ông ấy nói quần áo ngắn cũn cỡn, váy màu mè xanh đỏ như bà đồng bóng...
Hình như có cái gì đó cần phải suy nghĩ cho trọn vẹn kỹ càng? Tôi dừng lại. Bắt gặp ánh mắt của tôi, người đàn bà tấp xe vào lề, mời mua vé số. Tôi lục tìm tất cả những đồng bạc lẻ. Xác suất rất nhỏ cho hạnh phúc rất lớn, thậm chí có thể đổi đời. Xác suất rất lớn cho nỗi thất vọng rất nhỏ – nhỏ đến độ thường bị lãng quên đâu đó ở ngăn ngoài chiếc ví, trong túi áo quần…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.