Hôm nay,  

Ký: Thành phố New Orleans

15/10/202213:59:00(Xem: 3001)
new o
TP New Orleans, Louisiana.



New Orleans là một trong những thành phố cảng quốc tế quan trọng của Hoa Kỳ kể từ ngày lập quốc cho tới bây giờ, nằm ở phần cực nam của tiểu bang Louisiana. Có dân số khoảng trên dưới một triệu người, trong đó có một số đông người Việt Nam ta sinh sống tại những vùng ngoại ô thành phố, đa số là người Thiên Chúa giáo, nhưng tôi không biết đích xác số lượng là bao nhiêu.

 

New Orleans, một trong vài thành phố của Hoa Kỳ có một lịch sử hết sức lý thú. Đây là thành phố mà số lượng đông đảo di dân người Pháp đã từ Âu Châu sang định cư. Họ khởi thủy tập trung lập nghiệp và vẫn còn tiếp tục sinh sống ở đây cho tới ngày nay. Trải qua năm tháng dài gần hai thế kỷ với nhiều đổi thay, họ đã cố gắng giữ lại một phần văn hóa của riêng mình (văn hóa Pháp) như để tô điểm một nét đặc thù cho thành phố New Orleans.

 

New Orleans nằm bên bờ sông Mississippi, ngay khúc uốn cong nên còn có bí danhCrescent city. Cứ chiếu theo những biến cố lịch sử, ta thấy ngay rằng, đây là thành phố có nét hòa hợp văn hóa của Pháp, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ để cấu tạo nên nét văn hóa đặc thù cho thành phố này như âm nhạc, thức ăn, những ngày lễ hội Mardi Gras hàng năm và những kiến trúc đẹp của ba nền văn hóa ấy.

 

New Orleans còn nhiều điều khác nữa, có từ thời xa xưa được lưu lại không phải chỉ về lịch sử mà còn cả về mặt phát triển kinh tế từ thời nông trại đến thời kỳ kỹ nghệ hóa sau này, lẫn những biến đổi chính trị của những thời kỳ khác nhau của New Orleans. Chẳng hạn như trong thời kỳ “Nội chiến Nam-Bắc” (1861-1865), quân đội Union của phương Bắc đã chiếm đóng ngay thành phố New Orleans thuộc phe miền Nam vào năm 1862, tức chỉ một năm sau khi cuộc nội chiến xẩy ra. Và dân chúng ở đây phải tuân thủ một chính sách cai trị nghiệt ngã của phương Bắc cho tới năm 1876, kéo dài 14 năm.

        

newo 2

Đường Canal tại trung tâm thành phố.

       

Đến khoảng trưa, chúng tôi vào trung tâm thành phố New Orleans. Ngoài vài phố chính rộng lớn và đông đúc của khu thương mại, con đường trung tâm mang tên Canal được nhiều người biết đến hơn cả. Phần lớn những đường phố còn lại ở New Orleans tương đối nhỏ. Những con đường ngang dọc quanh khu French Quarter (khu Pháp) phải nói là chật hẹp, rất khó lái xe. Chúng tôi lái dọc theo dẫy phố bờ sông. Khu French Quarter nhộn nhip với lượng du khách khá đông đảo. Người ngồi ăn lan cả ra vỉa hè và nhất là quán Café Du Monde nổi tiếng cũng đông nghẹt. Lái xe vòng vòng quanh thành phố độ một giờ, chúng tôi đi tìm khách sạn đã “book” từ hôm trước, khách sạn Inter Continental, 4 sao rưỡi, khá khang trang. Khách sạn ở ngay trung tâm thành phố nên chúng tôi có thể đi bộ ra bến tầu, ra khu French Quarter, hay buổi tối có thể thả bộ đến đường Bourbon nổi tiếng về đêm.      Chúng tôi trở lại khu French Quarter, đi bộ dọc theo hai con đường DecaturChartres. Người đi chen chúc, ồn ào bởi những nhà hàng ăn lẫn “gift shops” dọc theo hàng phố. Đâu đâu cũng có ban nhạc của người da đen, đặc biệt nhất là loại nhạc Jazz. Chúng tôi ghé một quán ăn trên đường Decatur được bầy bán cả ra ngoài đường. Chúng tôi mua một cái sandwich loại lớn nhân thịt giá chỉ có 15 đô la, có thể chia làm bốn, mỗi người một phần, ăn vừa đủ no, lại kèm thêm mỗi người một món soup đặc sản, thế là đủ "căng bụng" để có thể tiếp tục đi chơi. Quá rẻ!

newo 3
French Market.

  

Sau đó chúng tôi đi dọc theo phố Decatur để tới thăm khu chợ được gọi là French Market. Khu đất này, vào thời người Pháp mới lập nghiệp, người da đỏ cũng tới đây buôn bán. Đến năm 1800, chợ được xây dựng thêm vài chỗ, gồm cả Famer’s Market tọa lạc ở phía cuối. Ngay đầu chợ được xây một cái cổng dựa theo hình thể tượng trưng của kiến trúc Khải Hoàn Môn (Arc de Triomphe) như ở Paris nhưng quá đơn giản và quá xấu xí, trên có đề hàng chữ French Market. Bên trong chợ bán đồ lưu niệm như mọi chợ bán lưu niệm khác, không có gì đặc biệt với cái tên French Market cả, chỉ trừ những gian hàng quần áo hay “boutiques” ở trong chợ có bảng hiệu bằng tiếng Pháp mà thôi. French Market giống chợ bên Mễ hơn là Pháp. Người bán hàng ở đây nói tiếng Mỹ, nếu có người nói tiếng Pháp thì cũng chỉ bập bẹ ú ớ dăm ba tiếng “bồi” với du khách. Chung quanh chợ, nổi bật nhất là những gian hàng bán khăn quàng lông (lông vũ giả) dài thườn thượt nhuộm màu xanh đỏ tím vàng dùng để quấn vào cổ trong những ngày lễ hội hóa trang Mardi Gras.

 

newo 4

Hội hóa trang Mardi Gras.


Mardi Gras
là những ngày lễ hội lớn có tính truyền thống và đặc thù của New Orleans. Ngày hội kéo dài từ tháng giêng cho đến hết tháng hai hàng năm. Du khách từ khắp nơi đổ về đây để xem hội. Mọi người đều có thể đeo mặt nạ, ăn mặc hóa trang diễn hành và nhẩy múa trên phố một cách tự do. Họ ném những dây “tràng hạt” quàng cổ xanh đỏ cho nhau. Những ngày đó, New Orleans tràn ngập sóng người, chen chúc nhau mà đi, khó có thể tìm được chỗ đậu xe, mà nếu có kiếm được thì cũng phải trả với giá tối thiểu là 50 tới 70 đô la một ngày. Những người làm việc ở khu vực French Quarter trong những ngày đó phải chung nhau thuê “shuttle” để sáng đưa họ đến làm việc, chiều tối đón về.

 

Nói chung, khu French Quarter chỉ rộng chừng chục con đường ngang dọc mà thôi, nếu đi bộ thoáng qua theo kiểu “cưỡi ngưạ xem hoa” hay với “walking tour” thì cũng chỉ cần khoảng độ hai giờ là đi hết phần chính của cả khu phố này rồi.

 

newo 5

Nhà thờ St. Louis tại khu công trường Jackson.

 

Rời khu đông đúc của French Quarter, chúng tôi đi ngược lại, cũng vẫn dọc theo con phố Decatur để đến Công trường Jackson (Jackson Square). Công trường này trước đó có tên là Place d’Armes dưới thời Pháp, và tên Plaza de Armas dưới thời Tây Ban Nha, và sau được đổi tên thành công trường Jackson kể từ năm 1848 để vinh danh vị tướng chỉ huy trong trận đánh bảo vệ New Orleans như đã nói ở phần trên. Giữa công trường có tượng Jackson rất lớn, được xem là một trong những bức tượng đẹp nhất của đất nước Hoa Kỳ.

 

Từ Công trường Jackson nhìn về phía đường Chartres, tức hướng về phía thành phố, là nhà thờ Saint Louis to lớn và đẹp, có kiến trúc với 3 tháp nhọn. Nhà thờ này được xây hoàn tất vào năm 1794, đến năm 1851 được sửa lại thành kiến trúc sau cùng như ta thấy ngày nay. Dọc theo những con đường thuộc khu nhà thờ và công trường có cả chục xe ngựa chờ đợi sẵn để đưa du khách đi vòng quanh thành phố. Ngay sát công trường Jackson, hướng về phía bờ sông là công viên Washington với khẩu súng thần công đúc rất đẹp.

 

Trên đường Decatur cũng còn một bức tượng mạ vàng chói lọi, rất đẹp, có cờ Pháp bên cạnh, tôi đoán là tượng bà Jeanne d’Arc cưỡi ngựa, vị nữ anh hùng của nước Pháp. Chụp vài tấm ảnh kỷ niệm nơi đây rồi chúng tôi ra xe tìm đường ra HWY 10 để đi qua chiếc cầu Pontchartrain được mệnh danh là một trong những chiếc cầu dài nhất thế giới. Cầu được xây băng qua Lake Pontchartrain nối liền thành phố New Orleans với thành phố Mandeville bên kia hồ, chiều dài đúng 25 dặm. Lái xe trên cầu, hai bên chỉ là nước biển, không thấy bờ đâu làm tôi nhớ lại những chiếc cầu dài nối liền các đảo ở Florida thuộc vùng Key West. Tuy nhiên cảnh trí của Key West thì đẹp hơn nhiều.

 

bour
Phố Bourbon.

 

Đến tối chúng tôi đi dạo chơi phố Bourbon. Phố Bourbon nổi tiếng ăn chơi về đêm. Đây là con phố nhỏ, xe hơi đi ngược chiều tránh nhau hơi khó. Dọc theo hai bên phố Bourbon đa số là những quán nhạc hay Bar rượu. Các ban nhạc người da đen mặc sức biểu diễn. Khu phố này, nhà xây theo kiểu hai tầng sát vách, trên là Bar, dưới cũng là Bar. Có vài "em" đứng trước cửa Bar mời gọi du khách bằng cách lật áo lên cho "xem một tý" rồi chỉ tay lên lầu theo kiểu mời "phải anh là lính, mời anh lên lầu" (nói lóng theo tên thuốc lá hiệu “Pall Mall” ngày nào). Lòng đường cấm xe qua lại ban đêm nên du khách có thể đi bộ thoải mái. Chúng tôi chỉ theo dòng người đi lang thang chứ không vào quán Bar nào cả. Thỉnh thoảng chúng tôi dừng chân lại trước vài quán nhạc, chỉ đứng ngoài xem ké trình diễn ở bên trong. Cả khu phố vang lên tiếng nhạc trộn lẫn với những tiếng cười đùa. Vài đám “dân nhậu” tụ tập trên lan can ở từng lầu nhìn xuống người đi đường, người đi dưới đường ngước lên nhìn đám “dân nhậu” phía trên, lời qua tiếng lại rất vui vẻ ồn ào, ồn ào ngang với những thành phố bên Mễ nằm sát gần biên giới Mỹ, kế cận thành phố San Diego. Ồn ào, vui chơi nhưng vẫn giữ được trật tự bởi sự canh phòng rất nghiêm của những cảnh sát viên (polices) đi ngựa, loại ngựa Mông cổ trông to lớn kềnh càng làm sao.

 

Con phố "ăn chơi" Bourbon, chiều dài hoạt động chỉ được giới hạn khoảng mươi blocks ngắn, nghĩa là dài khoảng hơn một dặm (mile) mà thôi. Con phố Bourbon tất nhiên dài hơn nhưng không ai muốn vượt ra khỏi khu đông đúc đã được giới hạn bởi một bảng khuyến cáo (warning) của cảnh sát cho biết du khách không nên vượt qua giới hạn đó vì sợ mất an ninh. Tất nhiên là khu phố sau tấm bảng đó thì cảnh vật vắng tanh đến lạnh lẽo.

 

Thành phố New Orleans được mệnh danh là "thủ đô của nhạc Jazz" là "thủ đô của lễ hội hóa trang Mardi Gras" và cũng được mệnh danh là "thủ đô của tội phạm giết người". Đấy là nhận xét của người địa phương nói lại với chúng tôi. New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana, một tiểu bang miền nam nước Mỹ nặng về nông nghiệp nên có đông đảo người da đen bị bắt đem từ Phi Châu về đây làm nô lệ từ những thế kỷ trước. Những người da đen này sau khi được giải phóng sau trận Nội chiến Nam-Bắc, một số di dời lên các tiểu bang miền Bắc để làm công nghiệp, phần còn lại vẫn tiếp tục ở lại sinh sống trong tình trạng nghèo khổ, và cũng chính do sự nghèo khổ này nên dễ sinh ra nhiều tệ nạn xã hội ở đây.

 

demonde

Cafe du Monde. (Mái nhà màu xanh trong ảnh).

 

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi lái xe trở lại khu French Quarter ăn điểm tâm. Mọi du khách đến đây, thường ai cũng ghé quán Café Du Monde nổi tiếng hàng cả thế kỷ nay để thưởng thức hương vị café ở quán này ít nhất một lần. Nhà hàng bán café sữa (café au lait) gồm một nửa café và nửa sữa nóng pha sẵn, giống như kiểu café "bí tất" của ta chứ không phải “café phin” (cái nồi ngồi trên cái cốc) với sữa đặc “ông thọ” như tôi tưởng lúc ban đầu.

 

Uống café sữa "bí tất" Du Monde với bánh “đô-nắt” (doughnuts hay beignets) kiểu Pháp, hình khối vuông to bằng nửa nắm tay chứ không hình vành khăn hay tròn như của Mỹ. Mỗi đĩa đựng từ 3 tới 6 cái “đô-nắt” tùy theo là đĩa nhỏ hay đĩa lớn. Trên mặt bánh “đô-nắt” người ta trải một lớp "đường bột" giống như bột mì vậy (sugar-dusted doughnuts). Ăn bánh “đô-nắt” nhâm nhi cốc Café Du Monde, chỉ có thế thôi, vâng, chỉ có thế thôi mà lúc nào quán café này cũng đông nghẹt những người. Có lẽ du khách không phải đến đây để thưởng thức hương vị cà phê với bánh “bầy nhầy” (beignets) mà tôi cho là dở ẹc, mà họ đến đây để ngồi tại ngôi quán có một lịch sử lâu đời hơn cả trăm năm (1862). Quán Café Du Monde nay đã trở thành biểu tượng của khu phố French Quarter.

 

Cũng không thể trách hương vị café ở đây được vì mỗi người có một cách thưởng thức với hương vị khác nhau và nhất là giá bán lại thật bình dân, chỉ một đô la rưỡi một cốc café lớn, đĩa “đô-nắt” nhỏ gồm 3 chiếc giá 3 đô la, vừa túi tiền du khách, kể cả loại du khách "Tây ba lô". Với giá đó tôi tự hỏi ta còn đòi hỏi gì thêm nữa nhỉ.

 

Thất vọng với hương vị café thua cả vợ pha, dù là rất tay mơ, nhưng bù lại tôi có dịp làm quen với hai nhân viên phục vụ người Việt Nam ở đây, anh Dũng và anh Đỉnh đã từng làm việc ở quán này rất lâu. Ngay từ đầu, chúng tôi cứ tay bắt mặt mừng nắm tay nhau trò chuyện như đã quen biết từ lâu. Tôi thấy hai anh ân cần quá, với gương mặt chân thật làm sao, có lẽ cả đời hai anh chỉ biết cầu kinh và tin vào Đức Chúa, chưa một lần biết nói dối ai. Anh Đỉnh mời chúng tôi thêm café và một đĩa bánh “đô-nắt” thật đầy, anh không tính tiền, anh tặng chúng tôi bằng chính tiền túi của anh vì tất cả nhân viên làm việc cho tiệm này đều phải mua của chủ trước rồi mới bán lại cho khách sau theo dạng trung gian. Chúng tôi cố gắng trả tiền anh dù đã năm lần bẩy lượt nhưng anh vẫn không chịu nhận. Cuối cùng, đợi đến khi chia tay tôi mới dúi tiền vào túi áo anh và đi ra thẳng không cho anh có cơ hội trả tiền lại chúng tôi nữa.

 

Trước khi ra khỏi nhà hàng, anh Đỉnh còn đứng nói chuyện thêm với chúng tôi lâu lắm. Chúng tôi cứ phải dục anh trở lại làm việc kẻo người chủ hay “manager” sẽ làm phiền hà đến anh, nhưng anh vẫn quyến luyến chúng tôi. Anh cho chúng tôi cả số điện thoại ở nhà lại còn vẽ bản đồ hướng dẫn đường cho chúng tôi đến thăm một trong những ngôi "làng Việt Nam" (cách gọi của anh Đỉnh) cách đó khoảng 20 phút lái xe.

 

Anh Đỉnh cho biết thêm, vào những ngày lễ hội Mardi Gras, mỗi người tiếp viên của Café Du Monde chỉ phục vụ có 4 bàn mà thôi và trong tiệm có khoảng trên 50 tiếp viên, người Việt Nam ta chiếm tới 37 người và vì chịu khó làm việc nên đã đẩy lần những anh tiếp viên người Mỹ hay Mễ về vườn. Anh Đỉnh tính trung bình mỗi ngày bình thường anh kiếm được khoảng 80 đô la tiền “tip”, ngày lễ Mardi Gras hay những ngày lễ lớn khác thì có thể kiếm từ 100 tới 120 đô la một ngày. Ngày nay chắc phải cao hơn nhiều. Anh Đỉnh trước kia làm Dental Asistance nhưng sau đó xin nghỉ việc để làm tiếp viên ở đây.

Chúng tôi từ giã anh Dũng và anh Đỉnh sau khi chụp vài tấm ảnh kỷ niệm, rồi vội vã ra bến tầu cho kịp giờ đáp chuyến tầu mang tên Natchez. Tàu Natchez với hình dáng loại tàu thủy cổ xưa, có “guồng quay nước” phía đuôi tầu, chuyên sử dụng để chở du khách đi trên sông Mississippi, dọc theo thành phố trong vòng hai tiếng đồng hồ. Cũng dọc theo hai bờ sông tôi thấy có nhiều cơ xưởng kỹ nghệ nằm rải rác, có cả nhà máy luyện nhôm, nhà máy lọc dầu nữa. Ngồi nhìn cảnh sông nước và ngồi ăn trưa trên tầu, lại được thưởng thức ban nhạc Jazz chơi cũng là điều thú vị. Tôi thấy có hai hàng đê được đắp dọc bờ sông vì mực nước sông cao hơn mặt thành phố đâu khoảng 5, 6 feet.

 

330px-Vietnamese_shops_in_New_Orleans
"Làng Việt Nam" tại New Orleans.

 

Sau khi rời tầu Natchez chúng tôi lái xe đi thăm khu "làng Việt Nam" như đã được anh Đỉnh giới thiệu. “Làng” có khoảng 10 nghìn người Việt Nam, chắc phần đông là người theo Thiên Chúa giáo. Tôi thấy có hai ngôi nhà thờ lớn ở đây và đồng thời cũng có một ngôi chùa gạch mái đỏ ngay mặt đường lớn, hình như chùa mới được xây dựng trông rất khang trang. Làng có "khu chợ Việt Nam” với đủ dịch vụ cần thiết như thực phẩm khô và tươi, văn phòng nha khoa, bác sĩ, luật sư, tiệm phở và nhiều cửa hàng đủ loại khác nữa, không thiếu thứ gì, nhưng kích thước, bề thế còn nhỏ.

 

Ở New Orleans còn có sở thú, nhà nuôi cá, viện bảo tàng, trường đại học nổi tiếng. New Orleans không phải chỉ có French Quarter mà chúng tôi vừa thoáng đi qua, nó còn là thành phố cổ kính và có nhiều di tích lịch sử với sự pha trộn của ba nền văn hóa lớn, Pháp-Tây Ban Nha-Hoa Kỳ. Ắt hẳn, New Orleans còn nhiều điều cần xem, cần biết nhưng thật tiếc là chúng tôi không có đủ thì giờ để đi thăm nhiều hơn nữa.

 

Nhìn chung, chuyến đi chơi New Orleans, đối với tôi, thật là thú vị vì biết được những thắng cảnh, học hỏi được nhiều điều qua di tích lịch sử và sinh hoạt của người dân bản xứ sinh sống ở thành phố này hàng bao đời. Bao nhiêu người đã đổ xương máu và mồ hôi để tạo dựng nên mảnh đất ngày nay mà chúng ta đang được thừa hưởng. Mỗi bước chân tôi đi trên thành phố ấy, tôi thấy như dòng lịch sử cứ quay ngược trở lại để chúng tôi có cơ hội chiêm ngưỡng và thán phục sự đóng góp của những người đi trước với sự kính trọng của riêng tôi. Và dòng lịch sử ấy vẫn luôn mạnh mẽ tiến về hướng tương lai phía trước, cùng đồng hành với sự phát triển của quốc gia Hoa Kỳ đứng hàng đầu thế giới.

 

– Nguyễn Giụ Hùng

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”
Tuyển tập “9 Khuôn Mặt: 9 Phong Khí Văn Chương” của Bùi Vĩnh Phúc là những trang sách phê bình văn học độc đáo, nơi đây 9 người cầm bút nổi tiếng của Miền Nam – Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên – được chiếu rọi trên trang giấy rất mực trân trọng, công phu, phức tạp, và nổi bật là kiểu phê bình văn học rất mực thơ mộng của họ Bùi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.