Hôm nay,  

Nhớ về một vị thầy

31/08/202209:11:00(Xem: 2556)
Tùy bút

nxv
GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.

 

Có những người viết về nhà khoa học không gian, và cũng là nhà văn, nhà thơ, giáo sư dạy toán  Nguyễn Xuân Vinh, rất thâm thúy mặc dầu họ chỉ biết nhà toán học Nguyễn Xuân Vinh qua các nghiên cứu sách vở, qua các trữ liệu về ông. Trong khi đó tôi chưa viết được một chữ nào về giáo sư Nguyễn Xuân Vinh khi nghe tin ông ấy qua đời hôm 23-7-2022, thọ 92 tuổi, mặc dầu tôi biết giáo sư Nguyễn Xuân Vinh vào năm 1955-56 đã là thầy dạy toán tai trường trung học của tôi, trường Võ Tánh Nha Trang, khi đó ông còn là trung úy phi công. Năm 1958-59 tôi lại gặp ông tại trường trung học cấp 3, Chu Văn An, Saigon. Khi đó ông mang quân hàm Trung Tá, chuyên dạy toán lớp 12B. Ở cả hai trường, khi nào gặp ông, tôi kính cẩn giở nón chào ông và ông đáp lại với nụ cười hiền hòa, mặc dầu chưa bao giờ tôi là người học trò trực tiếp của ông vì tôi chuyên học ban C và Triết.

 

Năm 1985 hay 86 gì đó, vô tình tôi được sắp xếp ngồi cạnh giáo sư Nguyễn Xuân Vinh tại một buổi họp được tổ chức trong môt nhà hát. Buổi họp ấy do cộng đồng Việt Nam tại Chicago tổ chức với chủ đề “Về vấn đề giáo dục con em chúng ta trong môi trường đa văn hóa”. Lúc ấy ông là giáo sư dạy toán của đại học Michigan. Tôi rất kinh ngạc và thán phục bản tánh bình dị của ông. Mặc dầu ông ấy không biết tôi là ai và ông ấy cũng không tự giới thiệu ông là ai. Tuy nhiên trong suốt buổi họp giáo sư Nguyễn Xuân Vinh và tôi cùng nhau trao đổi ý kiến một cách rất thân thiện và giáo sư coi tôi như là ngang hàng với ông.

 

Buổi họp chấm dứt, khi bắt tay nhau ra về, giáo sư Nguyễn Xuân Vinh biết tôi là bác sĩ (vì tôi tự giới thiệu với ông) và ông cũng biết tôi đã từng biết ông là thầy dạy toán tại trường Võ Tánh Nha Trang và trường Chu Văn An, Saigon, ông liền ngồi xuống, lấy ra từ cặp da một tập hồ sơ đã cũ, giấy trắng đã ngả sang màu vàng, trong đó ông phác họa sơ đồ đường bay trong vũ trụ của phi thuyền không gian và góc độ khi phi thuyền cất cánh rời khỏi trái đất cũng như khi phi thuyền trở về trái đất đáp xuống trên phi đạo xuyên qua bầu khí quyển của trái đất. Ông giải thích cho tôi nghe những chi tiết rất là khoa học để bảo vệ cái vỏ của phi thuyền khỏi bị cháy vì cọ xát quá mạnh vào bầu khí quyển khi phi thuyền cất cánh bay ra xa trái đất cũng như lúc phi thuyền bay trở về trái đất và đáp xuống phi đạo sau khi chui qua bầu khí quyển của trái đất.  Thú thật tôi có thưa với giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là tôi rất thích thú nghe lời giải thích rất khoa học và dễ hiểu của ông về khoa học không gian và tôi rất trân quí cảm tình ông đã dành cho tôi.

 

Chúng tôi đứng dậy bắt tay nhau ra về, lúc đó cả ông và tôi đều giật mình vì phòng họp vắng hoe không còn một ai cả, ngoài hai chúng tôi. Chúng tôi vừa bước qua cửa phòng họp thì đèn điện của phòng họp cũng vừa tắt ngay sau lưng chúng tôi. Khi nhớ về buổi găp gỡ kỳ lạ này tôi có cảm tưởng nhớ lai một mẩu chuyện huyền thoại, thần tiên trong đời mình.

 

Vô cùng thương tiếc giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, hôm nay vỊ thầy của chúng tôi không còn nữa. Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã ra đi ngày 23-7-2022, và ngưòi đã để lại cho nhân loại những hiểu biết sâu sắc về khoa học không gian. Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là niềm tin yêu và hãnh diện không những chỉ cho dân tộc Việt Nam mà chung cho cả nhân loại. 

 

Đào Như

(Aug 30-2022)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.